Đỗ Thị Thanh Tuyết (MSSV: 360553, Nhóm B2)
MỞ ĐẦU
Ph.Ăngghen cho rằng C.Mác có hai phát hiện lớn: một là phát hiện ra quan
niệm duy vật lịch sử, hai là phát hiện về giá trị thặng dư. Học thuyết giá trị thặng dư
là hòn đá tảng của lý luận kinh tế chính chính trị của Mác. Trong đó, lý luận về hàng
hóa sức lao động của Mác lại là cơ sở cho học thuyết giá trị thặng dư của ông. C.Mác
thấy rằng trong chế độ tư bản chủ nghĩa, để đạt được giá trị thặng dư, nhà tư bản bắt
buộc phải tìm ra trên thị trường một loại hàng hóa mà bản thân giá trị sử dụng của nó
có một thuộc tính đặc biệt là nguồn gốc sinh ra giá trị. Loại hàng hóa đặc thù đó
chính là sức lao động của con người mà nhà tư bản tìm thấy trên thị trường. Ở Việt
Nam khái niệm về hàng hóa sức lao động cũng như thị trường sức lao động (hay còn
gọi là thị trường lao động) mới được hình thành sau khi đất nước bước vào đổi mới,
khi mà nền kinh tế chuyển từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường nên
còn nhiều hạn chế. Vì vậy việc nghiên cứu hàng hóa sức lao động có ý nghĩa rất
quan trọng trong việc xây dựng thị trường lao động ở Việt Nam.
NỘI DUNG
I-Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác.
1. Sức lao động và điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa.
Sức lao động là toàn bộ những năng lực (thể lực và trí lực) tồn tại trong một
con người và được người đó sử dụng vào sản xuất. Sức lao động là cái có trước, còn
lao động là quá trình vận dụng sức lao động.
Trong bất cứ xã hội nào, sức lao động cũng đều là điều kiện cơ bản của sản
xuất. Nhưng không phải trong bất kỳ điều kiện nào, sức lao động cũng là hàng hóa.
Sức lao động chỉ có thể trở thành hàng hóa trong những điều kiện lịch sử nhất định
sau đây:
Thứ nhất, người có sức lao động phải được tự do về thân thể, làm chủ được
sức lao động của mình và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa.
Thứ hai, người có sức lao động không còn có tư liệu sản xuất cần thiết để tự
mình thực hiện lao động và cũng không có của cải gì khác buộc phải bán sức lao
động cho người khác sử dụng để kiếm sống.
Việc sức lao động trở thành hàng hóa đánh dấu bước ngoặt cách mạng trong
quá trình sản xuất ra một loạt hàng hóa nào đó, đông thời tạo ra một giá trị mới lớn
hơn giá trị của bản thân nó, phần giá trị dôi ra so với giá trị sức lao động là giá trị
thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt. Đây chính là chìa khóa để giải thích mâu
thuẫn của công thức chung của tư bản. Chính đặc tính này đã làm cho sự xuất hiện
của hàng hóa sức lao động trở thành điều kiện để tiền tệ chuyển hóa thành tư bản.
3.Giá cả sức lao động
Giá trị hàng hoá - sức lao động biểu hiện bằng tiền, đó là tiền lương. Trong
nền kinh tế hàng hoá, khi sức lao động được xem là hàng hoá, tiền lương là hình thái
biến tướng của giá trị hay giá cả sức lao động. Thông qua tiền lương, giá trị và giá cả
sức lao động biểu hiện như là hình thái giá trị và giá cả của lao động vì:
1) Giá cả sức lao động được thanh toán sau khi người công nhân lao động xong.
Như vậy, một mặt, công nhân lao động cho nhà tư bản là bán sức lao động cho
nhà tư bản; mặt khác, nhà tư bản trả lương cho công nhân theo thời gian (giờ,
ngày, tháng lao động), như vậy xem ra tưởng như tiền lương không phải là giá
cả sức lao động mà là giá cả của lao động.
2) Giá cả sức lao động không được trực tiếp biểu hiện ra, cái được trực tiếp biểu
hiện ra là công nhân làm bao nhiêu thời gian, bao nhiêu công việc thì nhà tư
bản trả công bấy nhiêu. Vì vậy, tiền lương nhìn về hiện tượng cũng biểu hiện
như là giá cả của lao động. Cũng giống như các hàng hoá khác, giá cả sức lao
động tuy hình thành trên cơ sở giá trị, nhưng trực tiếp chịu ảnh hưởng
Môn: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Đỗ Thị Thanh Tuyết (MSSV: 360553, Nhóm B2)
của quan hệ cung cầu, quan hệ này thay đổi thì giá cả sức lao động cũng thay
đổi theo. Nói chung, thông thường dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, hàng hoá sức
lao động cung vượt cầu, nên giá cả sức lao động thường thấp hơn giá trị của
nó và biến động một cách tự phát dưới giá trị.
II-Lý luận về hàng hóa sức lao động của C.Mác với thị trường lao động ở Việt
Nam hiện nay.
1. Định nghĩa thị trường lao động .
Thị trường sức lao động là thị trường mà trong đó các dịch vụ lao động được
đủ tiêu chuẩn về cân nặng ở Việt Nam chiếm tới 48,7%, số lượng người lớn suy dinh
dưỡng là 28%, phụ nữ thiếu máu là 40% (số liệu điều tra năm 2002). Các số liệu điều
Môn: Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Đỗ Thị Thanh Tuyết (MSSV: 360553, Nhóm B2)
tra năm 2001 đối với người lao động trong một số doanh nghiệp vừa và nhỏ cho thấy
số người mắc bệnh nghề nghiệp chiếm 54%.
Thứ hai, về trình độ học vấn:
Tỷ lệ người biết chữ trong tổng số lao động của Việt Nam nói chung tương đối cao so
với nhiều nước có mức thu nhập tương đương trên thế giới, và có xu hướng tăng lên.
Bảng 1: Cơ cấu lực lượng lao động hoạt động kinh tế thường xuyên chia theo trình
độ lao động (%
Năm Chưa
biết chữ
Chưa TN
tiểu học
Tốt nghiệp
tiểu học
Tốt nghiệp
THCS
Tốt nghiệp
THPT
1996 5,8 20,8 27,8 32,3 13,3
2002 3,7 16,0 31,8 30,1 18,4
Qua bảng trên ta thấy trình độ phổ cập giáo dục phổ thông trong lực lượng lao động
của nước ta tương đối cao, tỷ lệ người chưa biết chữ đã giảm (năm 2002 là 3,7%
trong khi tỷ lệ này của Thái Lan là 4%). Tuy nhiên sự chuyển biến này còn chậm,
chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế.
Trình độ chuyên môn kĩ thuật của người lao động ngày một cao: Theo số liệu thống
kê từ 1996-2004 số lao động có chuyên môn kĩ thuật tăng từ 12,31% lên 22,52%.
Trong đó công nhân kỹ thuật tăng từ 4,38% lên 12,34%, trình độ cao đẳng, đại học
thầy, thiếu thợ. Theo kết quả điều tra lao động việc làm của Bộ Lao đông-Thương
binh-Xã hội đến 2004, tính chung cả nước số người được đào tạo nghề nghiệp và kỹ
năng (có trình độ sơ cấp hoặc có chứng chỉ nghề trở lên) chiếm 21.6% tổng lực
lượng lao động và trong đó trình độ cao đẳng, đại học trở nên chỉ có 4,81%. Trình độ
chuyên môn kỹ thuật giữa thành thị với nông thôn cũng có sự khác biệt lớn. Ở khu
vực thành thị, tỷ lệ có trình độ chuyên môn kỹ thuật là 44,6%, ở nông thôn là
11,89%. Đặc biệt là ở miền núi, các nông lâm trường, trình độ văn hóa, tay nghề của
công nhân còn thấp hơn nhiều so với những nơi khác.
Như vậy, số lao động có trình độ trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật ở
nước ta còn quá thiếu so với yêu cầu. Hơn nữa số này chủ yếu tập trung ở các thành
phố lớn, trong khi nông nghiệp chiếm 60,5% tổng số lực lượng lao động của cả nước
nhưng chỉ chiếm 3,85% số người được đào tạo.
Về ý thức kỷ luật lao động của người lao động còn thấp, thiếu tác phong công
nghiệp. Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo
nhóm, không có khả nặng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và
chia sẻ kinh nghiệm làm việc.
Khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam thấp đã hạn chế khả năng cạnh
tranh của nền kinh tế Việt Nam . Theo tiêu chí đánh giá của tổ chức Diễn đàn Kinh
tế Thế giới (WEF), năm 2005 Việt Nam xếp thứ 81 trên 117 nước xếp hạng về tính
cạnh tranh của nền kinh tế , tụt 4 bậc so với năm 2004 (xếp thứ 77); chỉ số tổng hợp
đánh giá chất lượng lao động Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm trên thang 10.
-Cầu lao động:
• Về số lượng
Việc tính toán cầu lao động còn thiếu chính xác.
- Sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo các ngành kinh tế đã có sự chuyển biến tích
cực theo hướng CNH-HĐH. Cơ cấu lao động theo nhóm ngành ở nước ta có sự
chuyển dịch theo hướng giảm tỷ lệ ở khu vực nông-lâm-ngư nghiệp, tăng tỷ lệ ở khu
vực công nghiệp-xây dựng và dịch vụ.Tuy nhiên sự chuyển dịch này diễn ra còn
chậm chạp. Phần đông dân cư vẫn hoạt động trong khu vực nông-lâm-ngư nghiệp.
Tình trạng thiếu việc làm còn cao: số lượng người bước vào tuổi lao động tăng lên