tiểu luận môn thủy văn môi trường - Pdf 26

Thủy văn môi trường GVHD: Huỳnh Tiến Đạt
Mục Lục
Mục Lục


Chương mở đầu
Vũng - vịnh ven bờ biển phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nhiều trung
tâm kinh tế, đô thị và cảng biển lớn cỡ Quốc tế phát triển gắn với vũng vịnh ven bờ
biển.
Việt Nam có vùng biển chủ quyền rộng khoảng 1.000.000 km
2
và bờ biển dài
trên 3200km với 3 loại địa hệ ven bờ tiêu biểu là các vũng – vịnh, vùng cửa sông
(hình phễu, châu thổ và liman) và đầm phá. Chúng là kết quả tương tác giữa các quá
trình nội sinh và ngoại sinh, là kết quả tương tác giữa các yếu tố động lực ngoại
sinh sông, sóng và thủy triều ở dải bờ biển. Mỗi loại có những đặc trưng riêng
không chỉ về mặt hình thái mà về quá trình tiến hóa bờ, động lực hình thành và tổ
hợp các dạng địa hình phản ánh đặc trưng hình thái đó. Dưới góc độ địa lý tự nhiên
– địa mạo chúng là các địa hệ ven bờ. Dưới góc độ địa chất đó là các thể địa chất
hiện đại. Dưới góc độ trầm tích học, chúng là các nhóm tướng trầm tích theo nguồn
góc phát sinh. Dưới góc độ sinh thái, chúng là các hệ sinh thái lớn và quan trọng ở
dải bờ biển, bao gồm các tiểu hệ thành phần.
Trong phạm vi hạn hẹp của tiểu luận nên em chỉ nghiên cứu về một loại địa
hình ven bờ biển Việt Nam đó là hệ thống vũng – vịnh và các dạng tồn tại của
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 1
Thủy văn môi trường GVHD: Huỳnh Tiến Đạt
chúng. Trong khi nghiên cứu không khỏi những thiếu sót, mong thầy cô và các bạn
giúp đỡ, đóng góp ý kiến để em có thể bổ sung và hoàn thiện bài tiểu luận cũng như
kiến thức của bản thân.
Bằng phương pháp quan sát, thu thập thông tin, kiểm kê và phân tích dữ liệu,
số liệu về các đặc trưng, hình thái và cấu trúc của vũng – vịnh để có thể phân loại

bờ biển miền trung (từ Thanh hóa tới Vũng Tàu), tạo nên bộ phận cấu trúc của kiểu
bờ riat đang trong giai đoạn san bằng bờ, cấu tạo từ các đá vụn lục nguyên và
macma. Động lực phát triển bờ vịnh chủ yếu là sóng thống trị, trừ vịnh Hạ Long
đông bắc triều thống trị. Trao đổi nước trong vịnh thường rất tốt, hay có mặt bãi cát
biển, thềm mài mòn và vách đá, rạn san hô. Bờ vách nói chung khá ổn định.
Hệ thống vũng – vịnh ven bờ gồm có 48 chiếc với tổng diện tích khoảng
4000km
2
, phân bố kéo dài trên 10 vĩ độ Bắc dọc bờ biển, từ bắc vào Nam, thuộc các
vùng địa lý khác nhau, có tính chất và mức độ tập trung khác nhau. Mặc dù diện
tích mặt nước các vũng – vịnh chỉ bằng 1,4% diện tích đất liền và 0,44% diện tích
vùng biển, nhưng là các vị trí trọng điểm vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh
tế - xã hội và an ninh quốc phòng của đất nước.
1.3 Các yếu tố hình thái cơ bản của vũng – vịnh
Các yếu tố hình thái cơ bản của một vũng – vịnh có thể phân biệt như sau:
- Bờ vịnh: bờ đá gốc, bờ cát (bãi cát biển) và có thể có những đoạn bờ bùn. Nói
chung bờ đá gốc phổ biến nhất. Trong trường hợp bờ vũng – vịnh hầu như là đá gốc
thì gọi là bờ vịnh đá. Bờ cát phổ biến ở một số vịnh, nơi tác động của sóng mạnh và
ngồn bồi tích cát phong phú cung cấp tờ phá hủy các mũi nhô hoặc đưa ra từ các
con sông gần đấy. Bờ bùn có thể xuất hiện ở vịnh thủy triều thống trị (ven bờ Đông
Bắc), hoặc khu vực lân cận cửa sông đổ vào vịnh.
- Mũi nhô: thường cấu tạo từ đá gốc rắn chắc và có khi vươn ra phía biển tạo nên
hình thái bán đảo. Các vũng – vịnh thường có ít nhất một mũi nhô che chắn, có khi
hai mũi nhô chính chắn. Một số vịnh lớn có thể them nhũng mũi nhô nhỏ trong
cung bờ vịnh.
- Lòng vũng - vịnh: là phần không gian chủ yếu của vũng – vịnh và bao gồm
nhiều dạng địa hình khác nhau như luồng lạch ngầm, các mỏm đá ngầm, các rạn san
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 3
Thủy văn môi trường GVHD: Huỳnh Tiến Đạt
hô (kiểu viền bờ là chính, hiếm khi gặp kiểu chắn bờ). Địa hình lòng vịnh thường

Ông Diên (Sông Cầu – Phú Yên) với diện tích 2km
2
. Ở mức độ chi tiết hơn, vũng –
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 4
Thủy văn môi trường GVHD: Huỳnh Tiến Đạt
vịnh ven bờ biển Việt Nam được phân thành các cấp: Vũng - vịnh loại lớn( diện tích
trên 100km
2
), trung bình(50 – 100km
2
), nhỏ(10 – 50 km
2
), rất nhỏ( diện tích dưới
10km
2
).
Bảng 1: Đặc trưng các nhóm vũng – vịnh theo quy mô
STT Nhóm
Tổng diện
tích(km
2
)
Số
lượng(cái)
Phẩn trăm
diện tích(%)
Phần trăm
số lượng(%)
1 Lớn 3135,3 14 78 29
2 Trung bình 414 6 10 13

vũng – vịnh tạo ra do có mũi nhô đá gốc tạo thành bán đảo. tiêu biểu cho hình thức
này là vịnh Đà Nẵng với bán đảo Sơn Trà, vịnh Văn Phong với bán đảo Hòn Gốm.
Một số ít các vũng – vịnh tạo ra do các đảo chắn hỗn hợp như: vịnh Bái Tử Long và
vịnh Hạ Long.
Bảng 3: Tỷ lệ nhóm vũng – vịnh phân loại theo chỉ tiêu hình thức tạo thành
STT Nhóm Số lượng(cái) Tỷ lệ(%)
1 Mũi nhô 14 85,5
2 Đảo chắn hỗn hợp 7 14,5
Ngoài ra, còn tồn tại hình thức vịnh ven đảo, được hình thành từ cung lõm
của các đảo có kích thước lớn nằm tách khỏi bờ. Ví dụ: vụng ở Hòn Tre, Hòn
Mun(Nha Trang), vịnh Côn Sơn(Côn Đảo), vịnh Cô Tô( Quảng Ninh).
2.4.2 Cấu tạo thạch học bờ
Vũng – vịnh ven bờ có cấu tạo thạch học rất phức tạp. Một vũng – vịnh có
cấu tạo thạch học bờ là trầm tích bở rời bùn, cát hoặc đá gốc nhưng lại có thể là tổ
hợp của cả hai hay ba loại nêu trên. Dựa vào tính ưu thế, có thể chia thành 3 nhóm
cấu tạo bờ: bờ cấu tạo từ đá gốc, bờ cấu tạo từ cát và bờ cấu tạo từ bùn. Việc xác
định 3 nhóm cấu tạo bờ trên được tiến hành dựa trên tập bản đồ Địa chất các tỉnh
ven biển Việt Nam, tỷ lệ 1/200000 của Cục Địa Chất và Khoáng sản Việt
Nam(1999-2000).
Bảng 4: Tỷ lệ nhóm vũng – vịnh phân loại theo chỉ tiêu cấu tạo thạch học bờ.
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 6
Thủy văn môi trường GVHD: Huỳnh Tiến Đạt
STT Nhóm bờ Số lượng Tỷ lệ(%)
1 Cát 25 52
2 Đá gốc 21 44
3 Bùn 2 4
- Nhóm vũng – vịnh cấu tạo bờ từ đá gốc là vịnh bờ đá tiêu biểu, phân bố tại
những đá gốc lan ra sát biển, sông suối chảy vào ít hoặc không đáng kể. Nhóm này
phổ biến tại Đông Bắc Bộ, miềm Trung và ven các đảo, tiêu biểu là vịnh bái Tử
Long, Quán Lạn, Hạ Long, Lan Hạ(Bắc Bộ), Nghi Sơn(Bắc Trung Bộ), Làng Mai,

thành do ngập chìm các vùng cửa sông Ba Chẽ,
Tiên Yên và Hà Cối và được che chắn bởi hệ thống đảo Cái
Bầu, Vạn Vược, Vạn Mực, Cái Chiên và Vĩnh Thực.
Vịnh trao đổi nước với Vịnh Bắc Bộ qua 5 cửa chính gồm Cửa Tiểu, Cửa Đại, Bò
Vàng, Cửa Mô và Đầu Tán.
2.5.1.2 Vịnh Bái Tử Long
- Địa điểm: Đông bắc Quảng Ninh: Vân
Đồn, Cẩm Phả
- Diện tích: 560km
2
- Hình thức tạo vịnh: đảo chắn
- Cấu tạo thạch học bờ: đá gốc
- Vịnh Bái Tử Long còn có hệ thống thủy triều với mức triều vào khoảng 3,5-
4m/ngày. Các đảo của Vịnh thường là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, là địa hình có
tuổi kiến tạo địa chất khoảng 300 triệu năm, do quá trình vận động nâng lên, hạ
xuống nhiều lần từ lục địa thành trũng biển.
2.5.1.3 Vịnh Quán Lạn
- Địa điểm: Đông bắc Quảng
Ninh: Vân Đồn
- Diện tích: 105km
2
- Hình thức tạo vịnh: Đảo chắn
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 8
Thủy văn môi trường GVHD: Huỳnh Tiến Đạt
- Cấu tạo thạch học bờ: Đá gốc
- Mức độ đóng kín: Nửa kín
- Vịnh Quán Lạn là một vịnh nhỏ nằm trong vịnh Bái Tử Long. Chế độ nước sông
đổ vào không đáng kể.
2.5.1.4 Vịnh Hạ Long
- Địa điểm: Đông nam Quảng Ninh: Thành phố Hạ Long

- Diện tích: 33km
2
- Hình thức tạo vịnh: Đảo chắn
- Cấu tạo thạch học bờ: Đá gốc
- Vịnh Lan Hạ nằm ở phía
Đông đảo Cát Bà, trông ra cửa
Vạn, liền kề vịnh Hạ
Long. Đây là một vùng vịnh rất
êm ả hình vòng cung với khoảng 400 hòn đảo lớn nhỏ.
2.5.1.7 Vịnh Cửa Lục
- Địa điểm: Bắc vịnh Hạ Long
- Diện tích: 80km
2
- Hình thức tạo vịnh: Đảo chắn
- Cấu tạo thạch học bờ: Bùn
- Vịnh Cửa Lục là một vịnh
biển nhỏ ở thành phố Hạ
Long, tỉnh Quảng Ninh. Phía
bắc vịnh là huyện Hoành Bồ.
Vịnh chỉ rộng 18 km² và chỗ sâu nhất chỉ 17 m. Phía bờ tiếp giáp với Hoành Bồ có
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 10
Thủy văn môi trường GVHD: Huỳnh Tiến Đạt
nhiều vũng nhỏ hẹp ăn sâu vào đất liền. Một số sông nhỏ trút nước vào vịnh này
như sông Diễn Vọng, sông Trới.
2.5.2 Vùng bờ biển Bắc Trung Bộ ( Thanh hóa – Thừa Thiên Huế)
Có tổng số 5 vũng – vịnh: vũng Nghi Sơn, vũng Quỳnh Lưu, vịnh Diễn
Châu, vũng Áng, vịnh Chân Mây. Vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông
lạnh vùa, mừa mưa muộn dần về phía nam rồi trùng vời gió mùa Đông Bắc (từ
tháng 9 đến tháng 12), lượng mưa cũng tăng dần về phía Nam. Bờ vịnh được cấu
tạo chủ yếu từ cát và đá gốc. Sông, suối đóng vai trò chủ đạo trong vũng- vịnh, vai

- Địa điểm: Nam Hà Tĩnh: Kỳ Anh
- Diện tích: 3,5km
2
- Hình thức tạo vịnh: Mũi nhô
- Cấu tạo thạch học bờ: Cát
- Vũng Áng là vịnh tương đối nhỏ, nhưng lại
được xây dựng thành một trong những khu kinh tế khá quan trọng của cả nước.
2.5.2.5 Vũng Chân Mây
- Địa điểm: Nam Thừa Thiên Huế: Phú Lộc
- Diện tích: 20km
2
- Hình thức tạo vịnh: Mũi nhô
- Cấu tạo thạch học bờ: Cát
- Vũng Chân Mây được tạo
thành do bờ biển lõm vào lục
địa, có các mũi nhô ra, đáy
nghiêng về phía biển, độ kín rất
thấp, lượng nước ở sông đổ vào khá đáng kể.
2.5.3 Vùng bờ biển Nam Trung Bộ (Đà Nẵng- Ninh Thuận)
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 12
Thủy văn môi trường GVHD: Huỳnh Tiến Đạt
Có số lượng vũng vịnh phân bố nhiều nhất, gồn 31 vũng – vịnh. Vùng khí
hậu nhiệt đới gió mùa, ấm quanh năm, ít chịu ảnh hưởng của gió Đông Bắc về mùa
đông, ảnh hưởng lớn chủ yếu của gió Tây Nam vào mùa hè, lượng mưa giảm dần về
phía nam tới dưới 1000mm/năm. Nhiệt độ không khí cao nhất đạt trung bình
28
0
C( tháng 7) và trên 22
0
C (tháng 1), khô nhấtven bờ biển Việt Nam ở Ninh Thuận

quanh năm.
2.5.3.3 Vịnh Xuân Đài
- Địa điểm: Bắc Phú Yên: Sông Cầu
- Diện tích: 60,8km
2
- Vịnh được tạo thành bởi một dãy núi chạy dài ra biển khoảng 15km
trông giống hình đầu của một con kì lân.
- Ít có vịnh nào sự đa dạng đan
xen về địa hình như vịnh Xuân Đài.
Ghềnh nối tiếp vũng, vũng nối
tiếp bãi, bãi nối tiếp núi, uốn
lượn trùng điệp. Chỉ riêng vũng đã
có hàng chục cái, to nhỏ, nông sâu khác nhau. Xuân Đài cũng có rất nhiều núi, đảo
và bán đảo, nơi nào cũng đẹp một cách hoang sơ.
2.5.3.4 Vịnh Nha Trang
- Địa điểm: Nam Khánh Hòa: Nha Trang
- Diện tích: 48km
2
- Được che chắn bởi 19 đảo lớn nhỏ, vịnh Nha Trang khá
kín gió, không có sóng lớn. Vịnh Nha Trang là một
trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi nó
có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới. Đó là hệ
sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa
sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ.
- Tháng 7/2003, cùng với Vịnh Hạ Long, vịnh Nha Trang
chính thức được công nhận và xếp hạng là một trong 29
vịnh đẹp nhất trên thế giới.
2.5.3.5 Vịnh Văn Phong
- Địa điểm: Bắc Khánh Hòa: Ninh Hòa
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 14

0
C, hoặc quá nóng, nhiệt độ
cao tuyệt đối không lên trên 38,5
0
C), không có gió Tây khô nóng. Các vũng – vịnh
nhỏ, ưu thế bờ đá, vai trò của sóng rất lớn, thủy triều nhỏ và của sông suối gần như
không đáng kể.
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 15
Thủy văn môi trường GVHD: Huỳnh Tiến Đạt
Côn Đảo Phú Quốc
Chương kết luận
Vũng – vịnh ven bờ biển Việt Nam được hiểu là “một phần của biển lõm vào
lục địa hoặc do đảo chắn tạo thành một vùng nước khép kín ở mức độ nhất định mà
trong đó động lực biển thống trị”. Vũng – vịnh là một nhóm thủy vực động lập,
khác với các vùng cửa sông và đầm phá, ít nhất là về hình thái. Vũng – vịnh ven bờ
biển thường có độ mặn và độ trong cao và điều kiện thủy động lực biển thống trị,
hoàn lưu nước tốt và mức dộ trao đổi nước với vùng biển bên ngoài rất khác nhau.
Tuy nhiên, về hình thái, tồn tại những dạng chuyển tiếp với vùng cửa sông và đầm
phá do các yếu tố động lực ngoại sinh.
Phần lớn các vũng – vịnh có nguồn cung cấp bồi tích hạn chế, từ các sông
suối nhỏ lục đại đưa ra, từ di chuyển ngang từ đáy vào bờ và nguồn phá hủy đá gốc
từ các mũi nhô. Môi trường trầm tích khá đa dạng với các dạng chính như bãi biển,
bãi triều (có thể có hoặc phở biến là bãi lầy sú vẹt), của sông, lạch triều và long
vịnh. Khi động lực sóng thống trị, trầm tích hạt thô cát và bột lớn là thành phần chủ
yếu. Khi thủy triều thống trị, trầm tích có thành phần phức tạp, mặc dù hợp phần
mịn chiếm ưu thế.
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 16
Thủy văn môi trường GVHD: Huỳnh Tiến Đạt
Vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam, cũng như trên thế giới, là bộ phận lãnh thổ
đặc biệt trong thiên nhiên, vừa tiếp giáp với vùng biển khơi bên ngoài, lại vừa tiếp

phản ánh đúng bản chất tự nhiên của mỗi loại hình, tránh hình thức, chủ quan, nhân
tạo. Cần xác định được chính xác, rõ ràng các đặc tính cơ bản của mỗi loại hình,
như: nguồn gốc hình thành và lịch sử phát triển tiến hoá, cấu trúc hình thái và nhất
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 17
Thủy văn môi trường GVHD: Huỳnh Tiến Đạt
là động lực phát triển ưu thế, xu thế biến động và dự báo hệ quả, đánh giá được toàn
diện các tài nguyên thiên nhiên tiềm năng và chủ yếu, v.v. là những căn cứ quan
trọng cho việc định hướng khai thác sử dụng hợp lý thuỷ vực.
- Trong các nội dung nghiên cứu phục vụ cho mục tiêu trên, cần chú ý tới các
nội dung nghiên cứu hiện đại, phổ biến đang đặt ra hiện nay trong nghiên cứu đới
bờ, như: tương tác biển lục địa ở đới ven biển, biến động đường bờ do động lực bờ,
với các tác động nội sinh và ngoại sinh, dự báo tài nguyên, môi trường và các hệ
quả sinh thái…
Tài liệu tham khảo
1. Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 1999 – 2000. Bản đồ địa chất các
tỉnh ven biển Việt Nam, tỷ lệ 1:200000
2. Trần Đức Thạnh, Nguyển Chu Hồi và nnk, 1997. Đặc điểm địa mạo bờ
biển ven bờ Việt Nam(tập IV). Tài nguyên và Môi trường biển. Nxb: KH &
KT Hà Nội.
3. “Từ điển Địa chất giải thích” (Nguyễn Văn Chiển và nnk, 1979)
4. Vũng vịnh ven bờ biển Việt Nam và tiềm năng sử dụng.TS. Trần Đức
Thạnh (chủ biên).
5. />dung-hop-ly-tai-nguyen-vung-vinh-36994/
6. />bo-bien-viet-nam.htm?page=6
7. />post295682.html
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 18
Thủy văn môi trường GVHD: Huỳnh Tiến Đạt
SVTH: Nguyễn Thị Cẩm Tiên Trang 19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status