Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
TÓM LƯỢC
Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Việt Phát là doanh nghiệp kinh
doanh phân phối thiết bị canh tác chè. Tuy là một doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ
được thành lập từ tháng 7 năm 2004 nhưng Việt Phát đã kinh doanh và hoạt động
hiệu quả.
Trong thời gian thực tập và nghiên cứu tại doanh nghiệp, em nhận thấy bên
cạnh những thành tựu đã đạt được, thì công tác kế toán tại đơn vị còn tồn tại một số
hạn chế. Từ sự nghiên cứu cụ thể về công tác bán hàng và kế toán bán hàng tại
doanh nghiệp, em đi sâu nghiên cứu đề tài “Kế toán bán hàng thiết bị canh tác chè
tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Việt Phát”, để từ đó đưa ra các kết luận
và đè xuất để hoàn thiện về kế toán bán hàng tại doanh nghiệp.
Nội dung của đề tài nghiên cứu ngoài phần mở đầu và kết luận, bao gồm ba
chương chính.
Chương một là cơ sở lý luận về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương
mại. Ở chương này, tác giả tiến hành tóm lược một số khái niệm cơ bản và lý thuyết
liên quan đến kế toán bán hàng, các chuẩn mực, chế độ kế toán Việt Nam chi phối
đến hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Chương hai, tác giả nghiên cứu về thực
trạng kế toán bán hàng thiết bị canh tác chè tại công ty CP thương mại và dịch vụ
Việt phát. Trong chương hai, nội dung chủ yếu là về tổng quan tình hình và ảnh
hưởng của các nhân tố môi trường (vĩ mô, vi mô) đến công tác kế toán bán hàng.
Nghiên cứu thực trạng về công tác bán hàng, đặc điểm mặt hàng bán, chứng từ sử
dụng, tài khoản, quy trình hạch toán để từ đó lên sổ kế toán bán hàng. Ở chương ba,
qua tìm hiểu thực trạng về kế toán bán hàng, tác giả đưa ra các kết luận, đánh giá
những ưu điểm đạt được, những hạn chế còn tồn tại để đưa ra đề xuất nhằm khắc
phục và hoàn thiện về kế toán bán hàng thiết bị canh tác chè tại công ty CP thương
mại và dịch vụ Việt Phát. Việc so sánh thực trạng kế toán bán hàng tại công ty với
các quy định của chuẩn mực, chế độ kế toán Việt Nam để tìm ra mặt hạn chế tồn tại
cũng như nguyên nhân của nó, qua đó có giải pháp hoàn thiện một cách tối ưu công
tác kế toán tại doanh nghiệp là nội dung của đề tài nghiên cứu.
1
2
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
2
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
MỤC LỤC
3
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
3
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Bảng 1.1
Danh sách lao động của Công ty CP thương mại và dịch vụ
Việt Phát
Bảng 2.1
Danh mục sản phẩm của Công ty CP thương mại và dịch vụ
Việt Phát
Bảng 2.2
Thị trường chủ yếu của Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ
Việt Phát
Sơ đồ 1.1
Tổ chức bộ máy kế toán của công ty
4
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
4
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
DANH MỤC VIẾT TẮT
CP Cổ phần
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
KQKD Kết quả kinh doanh
GTGT Giá trị gia tăng
toán kế toán bán hàng ở công ty không tốt có thể dẫn đến cung cấp những thông tin
sai lệch về tình hình kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận của công ty trong năm. Tuy
nhiên, công tác tổ chức và hạch toán kế toán bán hàng tại công ty vẫn còn tồn tại
nhiều bất cập cần phải được khắc phục và xử lý như kế toán sử dụng TK 156 thay
TK 157 trong trường hợp bán buôn qua kho theo hình thức gửi hàng; không sử dụng
TK 5211 đối với chính sách chiết khấu thương mại; không thực hiện trích lập dự
phòng nợ phải thu khó đòi, trong khi điều này là cần thiết với doanh nghiệp thương
mại… Chính vì vậy việc nghiên cứu kế toán bán hàng là rất cần thiết để có thể tìm
ra vấn đề còn tồn tại, từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện công tác kế toán bán hàng tại
công ty.
Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của công tác kế toán bán hàng đối
với các doanh nghiệp thương mại cũng như những bất cập còn tồn tại trong công tác
tổ chức và hạch toán kế toán bán hàng tại Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ
6
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
6
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
Việt Phát, em xin chọn đề tài: “ Kế toán bán hàng thiết bị canh tác chè tại Công ty
cổ phần thương mại và dịch vụ Việt Phát” làm đề tài cho khóa luận của mình.
1.2. Mục tiêu đề tài
Về mặt lý luận: Thông qua các quy định trong chuẩn mực và chế độ kế toán
Việt Nam để làm rõ hơn bản chất của kế toán bán hàng, cơ sỏ cho việc nghiên cứu
thực trạng kế toán bán hàng tại công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Việt Phát.
Về mặt thực tiễn:
• Đánh giá thực trạng kế toán bán hàng, tiêu thụ sản phẩm thiết bị canh tác chè tại
Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Việt Phát.
• Tìm nguyên nhân, đưa ra biện pháp khắc phục giúp hoàn thiện công tác kế toán bán
hàng tại công ty.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng
Phương pháp so sánh: là phương pháp phân tích được thực hiện thông qua
việc đối chiếu giữa thực tế doanh nghiệp thực hiện với lý luận là từ các chuẩn mực,
chế độ kế toán. Đối chiếu các số liệu giữa các chứng từ gốc với các bảng phân bổ
hoặc tổng hợp chi tiết theo từng đối tượng liên quan. Đối chiếu số liệu cuối kyd
giữa sổ cái và bảng tổng hợp, chi tiết theo từng tài khoản, đối tượng với báo cáo tài
chính từ đó có những đánh giá chuẩn xác về tính chính xác của các chứng từ kế toán
bán hàng tại doanh nghiệp.
1.5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, kết cấu của khóa luận tốt nghiệp gồm 3
chương, cụ thể là:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán bán hàng trong doanh
nghiệp thương mại
Chương 2: Thực trạng kế toán bán mặt hàng thiết bị canh tác chè tại Công
ty cổ phần thương mại và dịch vụ Việt Phát
Chương 3: Các kết luận và đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán bán hàng tại
Công ty cổ phần thương mại và dịch vụ Việt Phát.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH
NGHIỆP THƯƠNG MẠI
1.1. Một số khái niệm cơ bản và lý thuyết liên quan đến kế toán bán hàng trong
doanh nghiệp thương mại
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại là các loại vật tư, sản phẩm do
doanh nghiệp mua về với mục đích để bán. Trị giá hàng mua vào, bao gồm: Giá
8
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
8
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
mua, các loại thuế không được hoàn lại, chi phí thu mua hàng hóa như chi phí vận
chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi phí khác có liên
quan trực tiếp đến việc mua hàng hóa. Các khoản chiết khấu thương mịa và giảm
sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm,
9
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
9
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
hàng hóa, bất động sản đầu tư, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các
khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
Doanh thu thuần bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu
được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu sau khi trừ
đi các khoản làm giảm trừ doanh thu như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng
bán, hàng bán trả lại, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng theo
phương pháp trực tiếp.
(Bộ Tài Chính, Thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09 tháng 10 năm 2002, Đoạn 22)
Các khoản giảm trừ doanh thu theo chuẩn mực kế toán số 14 – Doanh thu
và thu nhập khác bao gồm:
- Chiết khấu thương mại là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách
hàng mua hàng với khối lượng lớn.
- Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất,
sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
- Giá trị hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị
khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.
(Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”, Đoạn 13)
1.1.2. Lý thuyết liên quan đến kế toán bán hàng trong doanh nghiệp thương mại
Các phương thức bán hàng trong doanh nghiệp thương mại:
Trong doanh nghiệp thương mại, việc tiêu thụ hàng hóa có thể được thực
hiện theo các phương thức sau:
• Phương thức bán buôn hàng hóa
Bán buôn hàng hóa là phương thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, các
doanh nghiệp sản xuất… để thực hiện bán ra hoặc để gia công chế biến rồi bán ra.
Đặc điểm của hàng hóa bán buôn là hàng hóa vẫn nằm trong lĩnh vực lưu
của mình thì giao bán trực tiếp cho khách hàng thì đại diện bên mua sẽ ký nhận vào
chứng từ bán hàng và quyền sở hữu hàng hóa đã được chuyển giao cho khách hàng,
hàng hóa được xác định là tiêu thụ.
Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng: Theo hình thức này,
doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua, dùng phương tiện vận
tải của mình hoặc đi thuê ngoài để vận chuyển đến giao cho bên mua ở địa điểm đã
được thỏa thuận. Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở
hữu của doanh nghiệp thương mại. Khi nhận được tiền của bên mua thanh toán
hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng về chấp nhận thanh toán thì hàng
hóa được xác định là tiêu thụ.
• Phương thức bán lẻ hàng hóa
Bán lẻ hàng hóa là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc
các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng
nội bộ.
Bán hàng theo phương thức này có đặc điểm là hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực
lưu thông và đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa đã
được thức hiện. Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ, giá bán thường ổn
định. Phương thức bán lẻ thường có các hình thức sau:
11
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
11
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: là hình thức bán hàng mà trong đó việc
thu tiền ở người mua và giao hàng cho người mua tách rời nhau. Theo hình thức
này, mỗi quầy hàng có một nhận viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách rồi
viết hóa đơn, tích kê giao cho khách hàng để họ đến nhận hàng ở quầy hàng do mậu
dịch viên bán hàng giao.
Hết ca hoặc ngày bán hàng thì mậu dịch viên căn cứ vào hóa đơn, tích kê
giao hàng cho khách và kết quả kiểm kê hàng tồn quầy, xác định số lượng hàng đã
bán trong ngày, trong ca là cơ sở cho việc lập báo cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền
hoàn thành.
(Kế toán tài chính doanh nghiệp thương mại, Trường Đại học Thương Mại, Mục 3.1.2)
Các phương thức thanh toán:
Sau khi giao hàng cho bên mua và được chấp nhận thanh toán thì bên bán có
thể nhận tiền hàng theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào sự tín nhiệm,
thỏa thuận giữa hai bên mà lựa chọn phương thức thanh toán cho phù hợp. Hiện nay
các doanh nghiệp thương mại thường áp dụng các phương thức thanh toán sau:
• Phương thức thanh toán trực tiếp
Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ
người mua sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu hàng hóa bị chuyển giao.
Thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu, séc hoặc có thể bằng hàng
hóa (nếu bán theo phương thức hàng đổi hàng). Ở hình thức này sự vận động của
hàng hóa gắn liền với sự vận động của tiền tệ.
• Phương thức thanh toán chậm trả
Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao
sau một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển quyền sở hữu về hàng hóa, do đó
hình thành khoản công nợ phải thu của khách hàng. Nợ phải thu cần được hạch toán
quản lý chi tiết cho từng đối tượng phải thu và ghi chép cho từng lần thanh toán. Ở
hình thức này sự vận động của hàng hóa và tiền tệ có khoảng cách về không gian và
thời gian.
(Kế toán tài chính doanh nghiệp thương mại, Trường Đại học Thương Mại, Mục 3.1.4)
Nội dung các khoản giảm trừ doanh thu
• Chiết khấu thương mại: là khoản chiết khấu mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã
thanh toán cho người mua do người mua hàng đã mua hàng (sản phẩm, hàng hóa),
dịch vụ với khối lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên
hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng.
• Hàng bán bị trả lại: là khoản doanh thu của số hàng hóa, thành phẩm, dịch vụ đã
bán nhưng bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân như vi phạm cam kết, vi phạm
hợp đồng kinh tế, hàng bị mất, sai quy cách, kém phẩm chất, không đúng chủng
loại.
sản được tính theo số tiền hoặc tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính toán theo
giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận.
Nguyên tắc phù hợp: Doanh thu và chi phí phải được ghi nhận phù hợp với
nhau. Khi ghi nhận một khoản doanh thu, kế toán phải ghi nhận một khoản chi phí
liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Nguyên tắc này yêu cầu khi tính chi phí
được coi là chi phí hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ phải dựa trên cơ sở chi
phí nào tạo nên doanh thu được hưởng trong kỳ, vì có những khoản thu phát sinh kỳ
này nhưng chi phí bỏ ra để có được doanh thu đó lại phát sinh từ kỳ trước. Hoặc có
những chi phí phát sinh ký này nhưng không được coi là chi phí hoạt động kỳ này,
vì nó tạo ra doanh thu ở kỳ sau.
14
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
14
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
Nguyên tắc nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp
đã chọn phải được áp dụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường
hợp có thay đổi chính sách và phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do
và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính. Cụ thê,
trong doanh nghiệp, phương pháp tính giá trị hàng tồn kho, phương pháp khấu hao
cần nhất quán giữu các kỳ để đảm bảo tính so sánh được của Báo cáo tài chính.
Nguyên tắc thận trọng: Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc phán đoán cần
thiết để lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc
thận trọng đối với kế toán bán hàng đòi hỏi: Phải lập các khoản dự phòng nhưng
không lập quá lớn; không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu
nhập; doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả
năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về
khả năng phát sinh chi phí. Nguyên tắc này giúp kế toán bán hàng xác định được
thời điểm phát sinh doanh thu và giá vốn hàng bán cũng như chi phí liên quan đến
hàng bán.
Quy định của Chuẩn mực kế toán VAS 02 – Hàng tồn kho
được sử dụng trong doanh nghiệp có nhiều chủng loại hàng tồn kho và số lần nhập,
xuất hàng trong kỳ nhiều và doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương
pháp kiểm kê định kỳ.
Phương pháp giá bình quân sau mỗi lần nhập đáp ứng được tính kịp thời và
tính chính xác của thông tin về hàng tồn kho nhưng khối lượng tính toán lớn, tốn
nhiều công sức, phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít chủng
loại hàng tồn kho, có số lượng lần nhập, xuất ít và doanh nghiệp hạch toán hàng tồn
kho theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO)
Theo phương pháp này, giả thiết rằng số hàng hóa nào nhập trước hay sản
xuất trước thì xuất trước, giá trị hàng hóa tồn kho cuối kỳ sẽ là giá thực tế của số vật
liệu mua vào sau cùng. Phương pháp này giúp kế toán có thể tính ngay được trị giá
vốn hàng xuất kho từng lần xuất hàng, đảm bảo cung cấp số liệu kịp thời cho kế
toán ghi chép các khâu tiếp theo cũng như cho quản lý. Trị giá vốn của hàng tồn
kho sẽ tương đối sát với giá thị trường của mặt hàng đó. Tuy nhiên phương pháp
này có nhược điểm là làm doanh thu hiện tại không phù hợp với chi phí hiện tại, do
doanh thu hiện tại được tạo ra từ giá trị sản phẩm, hàng hóa, vật tư có từ trước đó.
Phương pháp này thích hợp với doanh nghiệp có ít mặt hàng, lưu lượng nhập xuất ít
và doanh nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên.
Phương pháp nhập sau, xuất trước (LIFO)
Theo phương pháp này, giả định những hàng hóa mua cùng hay sản xuất sau
cùng sẽ được xuất trước, giá trị hàng hóa tồn kho cuối kỳ là giá trị của hàng hóa
mua về trước tiên. Phương pháp này có nhược điểm bộc lộ ở khâu xác định giá trị
hàng tồn kho cuối kỳ. Giá trị này thường khác xa so với giá trị thực tế. Do đó,
phương pháp này ảnh hưởng đến chỉ tiêu hàng tồn kho ở phần tài sản, chỉ tiêu lợi
nhuận và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) ở phần nguồn vốn, làm cho giá trị
16
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
16
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
sau khi điều chỉnh các khoản tiền hoặ tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi
không xác định được giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu
17
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
17
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
được xác định bằng giá trị hợp lý của hàng hóa hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi
điều chỉnh các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi thỏa mãn đồng thời năm điều kiện sau
(Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác”, Đoạn 10):
(a) Doanh thu đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản
phẩm hoặc hàng hóa cho người mua;
(b) Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng
hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa;
(c) Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn;
(d) Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng;
(e) Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
1.2.2. Kế toán bán hàng quy định trong chế độ kế toán ban hành theo quyết định số
48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ Tài Chính
Chứng từ sử dụng và quy trình luân chuyển chứng từ trong hạch toán nghiệp vụ
bán hàng:
Tùy theo hình thức bán hàng mà chứng từ kế toán được lập theo một quy
trình khác nhau bởi tính đặc thù của mỗi phương thức bán hàng.
Trong bán buôn hàng hóa: Trường hợp là bán buôn qua kho, khi tiếp nhận
được đơn hàng, căn cứ vào Hợp đồng ký kết với khách hàng, kế toán xác định lượng
lượng hàng còn tồn kho, nếu hàng còn đủ để xuất kế toán tiến hành viết Hóa đơn
GTGT (nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ) hoặc lập
Hóa đơn bán hàng thông thường (nếu doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương
pháp trực tiếp), đồng thời viết Phiếu xuất kho về số lượng hàng bán ra. Trường hợp
là bán buôn chuyển hàng cho khách hàng thì cần xác định chi phí vận chuyển do
trong kỳ.
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ
thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng
hóa,cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu
thêm ngoài giá bán (nếu có).
Kết cấu tài khoản:
Bên nợ:
- Thuế XK, thuế TTĐB của số hàng tiêu thụ
- Thuế GTGT phải nộp của DN tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp
- Doanh thu hàng bán bị trả lại kết chuyển cuối kỳ
- Khoản chiết khấu thương mại kết chuyển cuối kỳ
- Giảm giá hàng bán kết chuyển cuối kỳ
- Cuối kỳ kết chuyển doanh thu thuần vào TK xác định kết quả
Bên có: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế phát sinh trong kỳ
Tài khoản này cuối kỳ không có số dư
Tài khoản 511 được chi tiết thành 4 tài khoản cấp 2:
19
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
19
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
- TK 5111 “Doanh thu bán hàng hóa”
- TK 5112 “Doanh thu bán thành phẩm”
- TK 5113 “Doanh thu cung cấp dịch vụ”
- TK 5118 “Doanh thu khác”
• Tài khoản 521 “Các khoản giảm trừ doanh thu”
Tài khoản 521 được chi tiết thành 3 tài khoản cấp 2:
- Tài khoản 5211 “Chiết khấu thương mại”
Tài khoản này dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà doanh
nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do người mua hàng của
doanh nghiệp với số lượng lớn theo thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên
Tài khoản được sử dụng để phản ánh số tiền mà doanh nghiệp phải thu của
khách hàng do bán chịu hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ và tình hình thanh toán các
khoản phải thu của khách hàng. Ngoài ra tài khoản 131 còn được sử dụng để phản
ánh số tiền doanh nghiệp nhận ứng trước của khách hàng.
Kết cấu tài khoản
Bên nợ:
- Số tiền phải thu của khách hàng về việc bán chịu hàng hóa, sản phẩm trong kỳ
- Số tiền thừa trả lại khách hàng.
Bên có:
- Số tiền khách hàng đã trả nợ
- Số tiền doanh nghiệp nhận ứng trước của khách hàng
- Khoản giảm trừ tiền hàng cho khách sau khi đã xác định tiêu thụ (giảm giá hàng
bán, hàng bán bị trả lại, chiết khấu thương mại)
- Chiết khấu thanh toán danh cho người mua
• Tài khoản 632 “Giá vốn hàng bán”
Tài khoản được sử dụng để phản ánh trị giá thực tế của số sản phẩm, hàng
hóa, dịch vụ đã được xác định tiêu thụ.
Kết cấu tài khoản
Bên nợ:
- Phản ánh giá vốn của sản phẩm hàng hóa tiêu thụ trong kỳ
- Số trích lập chênh lệch do dự phòng giảm giá hàng tồn kho năm nay cao hơn năm
trước
- Trị giá sản phẩm, hàng hóa hao hụt, mất mát sau khi trừ phần cá nhân bồi thường
Bên có:
- Kết chuyển trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa… đã tiêu thụ trong kỳ để xác định
kết quả kinh doanh
- Hoàn nhập chênh lệch dự phòng giảm giá hàng tồn kho của năm nay thấp hơn năm
trước
- Trị giá vốn của số hàng hóa, sản phẩm…đã tiêu thụ trong kỳ nhưng bị khách hàng
trả lại
Chi phí phát sinh trong quá trình gửi hàng nếu doanh nghiệp chịu phản ánh
vào TK 6421 “ Chi phí bán hàng”, ghi tăng TK 1331 “Thuế GTGT đầu vào được
khấu trừ” và ghi giảm tiền hoặc tăng phải trả người bán.
Nếu chi phí gửi hàng bên mua chịu nhưng doanh nghiệp trả hộ, kế toán ghi
tăng TK 138 theo tổng giá thanh toán có thuế GTGT, giảm tiền hoặc tăng phải trả
người bán. Khi thu hồi tiền chi phí trả thay làm tăng khoản tiền và giảm khoản phải
thu khác.
TH2: Bán buôn vận chuyển thẳng
22
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
22
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
Nếu là bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao tay ba:
Lúc này, hàng hóa không về nhập kho mà khi mua sẽ được chuyển bán thẳng
tới khách hàng. Khi hàng hóa đã được giao và khách hàng xác nhận thanh toán thì
kế toán phản ánh luôn doanh thu bán hàng, giá vốn hàng bán. Vì không nhập kho
nên không phản ánh giá nhập kho vào TK 156, trị giá vốn hàng bán phản ánh ngay
vào Nợ TK 632, thuế GTGT được khấu trừ phản ánh vào Nợ TK 133 và ghi nhận
Có TK 111, 112, 331.
Nếu là bán buôn vận chuyển theo phương thức gửi hàng:
Khi doanh nghiệp mua hàng sau đó chuyển thẳng đi bán thì trị giá hàng gửi
bán sẽ phản ánh vào TK 157, đồng thời phản ánh thuế GTGT đầu vào được khấu
trừ và ghi giảm tiền theo giá thanh toán cho nhà cung cấp. Khi hàng xác định là đã
tiêu thụ, kế toán phản ánh doanh thu và giá vốn bình thường.
Trong quá trình bán buôn có thể phát sinh các trường hợp với doanh nghiệp như:
Khi thanh toán có phát sinh khoản chiết khấu thanh toán cho khách hàng do
khách hàng thanh toán tiền hàng sớm trước thời hạn ghi trong hợp đồng, phù hợp
với chính sách bán hàng mà doanh nghiệp đã quy đinh, số chiết khấu khách hàng
được hưởng phản ánh vào Nợ TK 635, ghi tăng số tiền thực thu của khách hàng và
ghi giảm khoản phải thu.
Khi xuất hàng cho bên nhận đại lý, ghi nhận trị giá hàng gửi bán tăng lên vào
TK 157. Định kỳ, khi bên nhận đại lý bán được số hàng trên sẽ gửi bảng kê thanh
toán hàng đại lý. Doanh nghiệp căn cứ vào đó để ghi nhận doanh thu và giá vốn của
hàng gửi bán như bình thường, giá vốn sẽ được kết chuyển từ TK 157 sang TK 632.
Lúc này, doanh nghiệp sẽ chịu thêm khoản phí hoa hồng gửi bán đại lý, khoản phí
này sẽ đưa vào Nợ TK 642. Những khoản phí khác nếu doanh nghiệp chịu cũng
phản ánh vào TK 642, nếu doanh nghiệp chi hộ cho cơ sở nhận đại lý sẽ phản ánh
vào Nợ TK 1388 với số tiền chi theo giá thanh toán.
Nếu doanh nghiệp là bên nhận đại lý:
Khi nhận hàng gửi bán, kế toán theo dõi trên TK 003 “Hàng hóa nhận bán hộ,
nhận ký gửi, ký cược”. Trong quá trình bán hàng, kế toán sẽ không ghi nhận doanh
thu số hàng đã bán được mà theo dõi trên bảng kê, định kỳ căn cứ vào bảng kê để
lập hóa đơn GTGT đối với số hoa hồng gửi bán. Và ghi nhận doanh thu dịch vụ vào
TK 5113 với số hoa hồng nhận được.
TH5: Bán hàng trả góp
24
SVTH: Nguyễn Hải Yến Lớp: K46D4
24
Khóa luận tốt nghiệp Khoa: Kế toán – Kiểm toán
Khi bán hàng hóa trả góp doanh nghiệp ghi nhận doanh thu theo giá bán trả
tiền ngay, đồng thời ghi nhận giá vốn hàng bán, còn số lãi về bán hàng trả góp sẽ
được ghi nhận vào doanh thu chưa được thực hiện trong kỳ kế toán Có TK 3387.
Định kỳ sẽ kết chuyển doanh thu này vào hoạt động tài chính TK 515.
Sổ kế toán
Căn cứ vào chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành theo quyết định số
48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 của Bộ Tài Chính, doanh nghiệp được áp dụng 1
trong 4 hình thức kế toán: Nhật ký chung, Chứng từ ghi sổ, Nhật ký – Sổ cái, Kế
toán trên máy vi tính. Trong mỗi hình thức sổ kế toán có những quy định cụ thể về
số lượng, kết cấu, mẫu sổ, trình tự, phương pháp ghi chép và mối quan hệ giữa các
sổ kế toán. Doanh nghiệp phải căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động sản xuất,