Kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng tại Công ty cổ phần Thương Mại và Dịch Vụ Hà Tây  - Pdf 19

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. Thuế GTGT : Thuế giá trị gia tăng
2. TSCĐ : Tài sản cố định
3. CP QLDN : Chi phí quản lý doanh nghiệp
4. CPBH : Chi phí bán hàng
5. HH : Hàng hoá
6. SP : Sản phẩm
7. CP : Chi phí
8. DN : Doanh nghiệp
9. CP DVMN : Chi phí dịch vụ mua ngoài
10. K/c : Kết chuyển
11. TK : Tài khoản
12. DTT : Doanh thu thuần
13. GVHB : Giá vốn hàng bán
14. HBBTL : Hàng bán bị trả lại
15. GGHB : Giảm giá hàng bán
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế thị trường với sự điều tiết của Nhà Nước theo định hướng XHCN
cùng sự chi phối của các quy luật kinh tế đặc trưng như : Quy luật giá trị, quy luật
cung cầu, quy luật cạnh tranh...đã tạo nên môi trường kinh doanh hấp dẫn, sôi động
nhưng cũng đầy rủi ro và không kém phần khốc liệt đối với các doanh nghiệp Việt
Nam. Là tế bào của nền kinh tế, để tồn tại và phát triển đòi hỏi doanh nghiệp phải
biết cách kinh doanh có hiệu quả mà biểu hiện là chỉ tiêu lợi nhuận. Song để thu
được lợi nhuận thì một trong những điều kiện quan trọng là quản lý tốt hoạt động
kinh doanh, giảm thiểu chi phí, đẩy mạnh tiêu thụ hàng hóa trong doanh nghiệp.
Bán hàng với vai trò là một khâu quan trọng trong quá trình kinh doanh sẽ tạo điều
kiện để có thể cung cấp đầy đủ thông tin cho nhà quản lý, giúp cho nhà quản lý
phân tích, đánh giá lựa chọn phương án kinh doanh có hiệu quả.
Xuất phát từ mặt lý luận và thực tế đặt ra cho công tác kế toán bán hàng, phần
hành quan trọng và chủ yếu của kế toán thương mại và là công cụ đắc lực cho việc
nâng cao hiệu quả tiêu thụ hàng hoá, sau khi đi sâu nghiên cứu tình hình thực tế tại

sở để xác định kết quả kinh doanh, là điều kiện tiên quyết giúp cho doanh nghiệp
tồn tại và phát triển. Thông qua hoạt động bán hàng và việc xác định kết quả bán
hàng doanh nghiệp có được doanh thu, bù đắp chi phí, nhanh chóng thu hồi vốn
kinh doanh đồng thời tạo ra lợi nhuận tối đa mà vẫn được khách hàng chấp nhận.
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường như ngày nay, bán hàng không chỉ được
hiểu theo nghĩa đơn thuần mà còn được hiểu theo nghĩa rộng hơn đó là quá trình
kinh tế bao gồm nhiều khâu từ việc nghiên cứu thị trường, xác định nhu cầu khách
hàng, tổ chức mua và xuất bán theo yêu cầu của khách hàng nhằm đạt hiệu quả
kinh tế cao nhất.
1.1.2/ Ý nghĩa của quá trình bán hàng và xác định kết quả bán hàng.
Trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh, bán hàng góp phần điều hoà
giữa sản xuất và tiêu dùng, điều hoà nhu cầu tiêu dùng và khả năng thanh toán tạo
nên sự cân đối trong từng ngành hàng sản xuất và trong toàn bộ nền kinh tế. Bên
3
cạnh đó, bán hàng còn chức năng điều hoà cung cầu trên thị trường, tạo ra các
luồng tiền - hàng chu chuyển liên tục, là yếu tố gắn kết các chủ thể kinh tế đảm bảo
sự phát triển ổn định của nền kinh tế cũng như từng ngành hàng, từng doanh
nghiệp trong nền kinh tế đó.
Đối với mỗi doanh nghiệp, tiêu thụ là một quá trình có ý nghĩa quyết định đến
sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trên thị trường, là căn cứ quan trọng để
doanh nghiệp lập kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý về thời gian, số lượng, tìm
cách phát huy thế mạnh và hạn chế những điểm yếu của mình.
Kế toán là một công cụ quản lý đắc lực nhất trong hệ thống các công cụ quản
lý, có nhiệm vụ thu nhận, xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về hoạt động kinh tế
tài chính, giúp cho nhà quản lý đưa ra phương án kinh doanh tối ưu.
Để đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất việc tổ chức công tác kế toán bán
hàng, kế toán xác định kết quả bán hàng phải thật khoa học và hợp lý, phù hợp với
điều kiện cũng như đặc điểm cụ thể của từng doanh nghiệp.
Tăng doanh thu, giảm chi phí, thu lợi nhuận là ba chỉ tiêu hàng đầu mà tất cả
các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đặc biệt quan tâm. Làm thế nào có

thường được bán theo lô hàng hoặc bán với số lượng lớn, giá bán biến động tuỳ
vào khối lượng hàng bán và phương thức thanh toán. Trong bán buôn thường gồm
2 phương thức sau :
* Phương thức bán buôn hàng hoá qua kho : Là phương thức bán buôn hàng
hoá mà trong đó hàng bán phải được xuất ra từ kho bảo quản của doanh
nghiệp.Trong phương thức này có hai hình thức sau :
- Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp tại kho: Theo hình thức
này khách hàng cử người mang giấy tờ uỷ nhiệm đến kho của doanh nghiệp trực
tiếp nhận hàng và áp tải hàng về. Sau khi giao hàng hoá, đại diện bên mua ký nhận
đã đủ hàng vào chứng từ bán hàng của bên bán đồng thời trả tiền ngay hoặc ký
nhận nợ.
- Bán buôn qua kho theo hình thức gửi hàng : Căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã
ký kết, hoặc theo đơn đặt hang của người mua xuất kho gửi hàng cho người mua
bằng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài. Chi phí vận chuyển gửi hàng
5
bán có thể do bên bán chịu hoặc có thẻ do bên mua chịu tuỳ theo hợp đồng kinh tế
đã ký kết. Hàng gửi đi bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đến khi nào
bên mua nhận được hàng, chứng từ và đã chấp nhận thanh toán thì quyền sở hữu
hàng hoá mới được chuyển giao từ người bán sang người mua.
* Phương thức bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng : Là phương thức bán
buôn hàng hoá mà trong đó hàng hoá bán ra khi mua về từ nhà cung cấp không
đem về nhập kho của doanh nghiệp mà giao bán ngay hoặc chuyển bán ngay cho
khách hàng. Phương thức này có thể thực hiện theo các hình thức sau :
- Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp (Hình thức
giao tay ba) : Doanh nghiệp thương mại bán buôn sau khi nhận hàng từ nhà cung
cấp của mình thì giao bán trực tiếp cho khách hàng của mình tại địa điểm do hai
bên thoả thuận. Sau khi giao hàng hoá cho khách hàng thì đại diện bên mua sẽ ký
nhận vào chứng từ bán hàng và quyền sở hữu hàng hoá đã được chuyển giao cho
khách hàng, hàng hoá được xác định là tiêu thụ.
- Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức gửi hàng : Theo hình thức này,

hoặc chấp nhận thanh toán thì nghiệp vụ bán hàng mới hoàn thành.
1.1.4.4/ Phương thức bán hàng trả góp, trả chậm
Là phương thức bán hàng mà doanh nghiệp thương mại dành cho người mua
ưu đãi được trả tiền hàng trong nhiều kỳ. Doanh nghiệp thương mại được hưởng
thêm khoản chênh lệch giữa giá bán trả góp và giá bán thông thường theo phương
thức trả tiền ngay gọi là lãi trả góp. Khi doanh nghiệp giao hàng cho người mua,
hàng hoá được xác định là đã tiêu thụ. Tuy nhiên khoản lãi trả góp chưa được ghi
nhận toàn bộ mà chỉ được phân bổ dần vào doanh thu hoạt động tài chính vào
nhiều kỳ sau giao dịch bán.
1.1.5/ Các phương thức thanh toán
* Phương thức thanh toán trực tiếp
Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển từ
người mua sang người bán ngay sau khi quyền sở hữu hàng hoá bị chuyển giao.
Thanh toán trực tiếp có thể bằng tiền mặt, ngân phiếu, séc hoặc có thể bằng hàng
hoá ( nếu bán theo phương thức hàng đổi hàng ). Ở hình thức này sự vận động của
hàng hoá gắn liền với sự vận động của tiền tệ.
7
* Phương thức thanh toán trả chậm
Là phương thức thanh toán mà quyền sở hữu về tiền tệ sẽ được chuyển giao
sau một khoảng thời gian so với thời điểm chuyển giao quyền sở hữu về hàng hoá,
do đó hình thành khoản công nợ phải thu của khách hàng. Nợ phải thu cần được
hạch toán quản lý chi tiết cho từng đối tượng phải thu và ghi chép theo từng lần
thanh toán. Ở hình thức này sự vận động của hàng hoá và tiền tệ có khoảng cách về
không gian và thời gian.
1.2/ Nội dung của kế toán bán hàng và xác định kết quả bán hàng
1.2.1/ Kế toán doanh thu bán hàng
1.2.1.1/ Khái niệm về doanh thu bán hàng
Doanh thu bán hàng là tổng giá trị được thực hiện do việc bán hàng hoá, sản
phẩm, cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Tổng doanh thu bán hàng là số tiền ghi
trên hoá đơn, ghi trên hợp đồng cung cấp dịch vụ.

* Giảm giá hàng bán : Là số tiền giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơn hay
hợp đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như hàng kém phẩm chất,
không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời gian, địa điểm trong hợp đồng...
(do chủ quan của doanh nghiệp). Ngoài ra còn có các khoản thưởng khách hàng
trong một khoảng thời gian nhất định đã tiến hành mua một khối lượng lớn sản
phẩm trong một đợt.
* Hàng bán bị trả lại : Là số hàng được coi là đã tiêu thụ (đã chuyển quyền sở
hữu, đã thu tiền hoặc được người mua chấp nhận thanh toán) nhưng lại bị người
mua từ chối và trả lại do người bán không tôn trọng hợp đồng kinh tế đã ký kết
cũng như không phù hợp với yêu cầu, tiêu chuẩn, quy cách kỹ thuật, hàng kém
chất lượng, không đúng chủng loại....Tương ứng với hàng bán bị trả lại là giá vốn
hàng bán bị trả lại (tính theo giá vốn khi bán) và doanh thu của hàng bán bị trả lại
cùng với thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng bán bị trả lại.
* Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế GTGT nộp theo phương pháp
trực tiếp: Là số thuế tính cho hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, chịu thuế xuất
9
khẩu, chịu thuế GTGT mà doanh nghiệp áp dụng phương pháp tính thuế theo
phương pháp trực tiếp.
1.2.1.4/ Phương pháp xác định doanh thu bán hàng
Trong thực tế, mỗi doanh nghiệp áp dụng một hình thức xác định doanh thu
bán hàng khác nhau tuỳ thuộc vào phương pháp tính thuế GTGT :
• Đối với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thì
doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ sẽ không bao gồm thuế GTGT
• Đối với doanh nghiệp hàng hoá thuộc diện chịu thuế GTGT theo
phương pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ
bao gồm cả thuế GTGT.
1.2.1.5/ Chứng từ sử dụng
Bao gồm các chứng từ cơ bản sau :
- Hoá đơn GTGT, hoá đơn bán hàng, hoá đơn bán hàng kiêm phiếu xuất kho,
phiếu xuất kho, hoá đơn bán hàng giao thẳng.

vụ của doanh nghiệp thực hiện trong kỳ.
- TK 511 không có số dư cuối kỳ
* Nguyên tắc hạch toán : Kế toán phản ánh vào TK 511 doanh thu của khối lượng
sản phẩm, hàng hoá đã bán, dịch vụ đã cung cấp được xác định là tiêu thụ trong kỳ
không phân biệt doanh thu đã thu tiền hay sẽ được thu tiền. Giá bán đơn vị hàng
hoá dùng làm căn cứ tính doanh thu thực hiện trong kỳ hạch toán là giá bán thực
tế, là giá ghi trong hoá đơn bán hàng và các chứng từ liên quan đến bán hàng.
* Một số trường hợp không được hạch toán vào TK 511
- Trị giá hàng hoá, vật tư, bán thành phẩm xuất giao cho bên ngoài gia công chế
biến.
- Trị giá sản phẩm, bán thành phẩm, dịch vụ, cung cấp giữa các đơn vị thành viên
trong một công ty, tổng công ty hạch toán toàn ngành (sản phẩm, bán thành phẩm,
dịch vụ tiêu thụ nội bộ)
- Số tiền thu được về nhượng bán, thanh lý TSCĐ.
- Trị giá sản phẩm, hàng hoá đang gửi bán, dịch vụ hoàn thành đã cung cấp cho
khách hàng nhưng chưa được người mua chấp nhận thanh toán.
11
- Trị giá hàng gửi bán theo phương thức gửi bán đại lý, ký gửi (chưa được xác định
là tiêu thụ)
- Các khoản thu nhập khác không được coi là doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ.
* TK 511 có 5 tài khoản cấp 2 :
TK 5111 " Doanh thu bán hàng hoá "
TK 5112 " Doanh thu bán sản phẩm xây lắp hoàn thành "
TK 5113 " Doanh thu cung cấp dịch vụ "
TK 5114 " Doanh thu trợ cấp, trợ giá "
TK 5117 " Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư "
- TK 512 " Doanh thu nội bộ "
* Tài khoản 512 dùng để phản ánh doanh thu của số sản phẩm, hàng hoá dịch vụ
tiêu thụ nội bộ doanh nghiệp. Doanh thu tiêu thụ nội bộ là lợi ích kinh tế thu được

giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng (Sản
phẩm, hàng hoá, dịch vụ) với khối lượng lớn và theo thoả thuận bên bán sẽ giành
cho bên mua một khoản chiết khấu thương mại (Đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua
bán hoặc các cam kết mua bán hàng)
* Kết cấu tài khoản :
Bên Nợ : Số chiết khấu thương mại đã chấp nhận thanh toán cho khách hàng.
Bên Có : Cuối kỳ kế toán, kết chuyển toàn bộ số chiết khấu thương mại sang TK
511 " Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ " để xác định doanh thu thuần của
kỳ báo cáo.
- TK 521 không có số dư cuối kỳ.
1.2.1.7/ Phương pháp kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
* Phương thức bán buôn (Xem sơ đồ 01, phụ lục, trang 1)
- Phương thức bán buôn hàng hoá qua kho :
+ Bán buôn hàng hoá qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp
+ Bán buôn hang hoá qua kho theo hình thức chuyển hàng
- Phương thức bán buôn vận chuyển thẳng :
+ Bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp
+ Bán buôn hàng hoá vận chuyển theo hình thức chuyển hàng
13
* Phương thức bán lẻ (Xem sơ đồ 02, phụ lục, trang 2)
- Bán lẻ thu tiền tập trung
- Bán lẻ thu tiền trực tiếp
- Bán lẻ tự phục vụ
- Bán hàng tự động
* Phương thức bán hàng đại lý, ký gửi
Bên giao hàng đại lý xuất hàng giao cho bên nhận đại lý, ký gửi. Số hàng ký
gửi vẫn thuộc sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi chính thức tiêu thụ ( trừ trường
hợp đại lý mua hẳn số sản phẩm đó). Bên nhận đại lý sẽ được hưởng thù lao dưới
dạng hoa hồng hoặc chênh lệch giá.
Sơ đồ kế toán bán hàng theo phương thức bán hàng đại lý, ký gửi:

giá thực tế bình quân gia quyền, trong đó đơn giá thực tế bình quân gia quyền được
tính như sau :
- Đơn giá bình quân gia quyền đầu kỳ (hoặc cuối kỳ trước) :
Trị giá mua thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ
Đơn giá bình quân (hoặc cuối kỳ trước)
gia quyền đầu kỳ =
Số lượng hàng hoá tồn đầu kỳ
(hoặc cuối kỳ trước)
- Đơn giá bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ :
Trị giá thực tế hàng + Trị giá thực tế hàng
Đơn giá bình quân hoá tồn đầu kỳ hoá nhập trong kỳ
cả kỳ dự trữ =
Số lượng hàng hoá + Số lượng hàng hoá
tồn đầu kỳ nhập trong kỳ

- Phương pháp bình quân liên hoàn :
Trị giá thực tế hàng + Trị giá thực tế hàng
Đơn giá bình hoá tồn trước lần nhập n hoá nhập kho lần n
quân liên hoàn =
Số lượng hàng hoá + Số lượng hàng hoá
tồn trước lần nhập n nhập kho lần n
15
* Phương pháp nhập trước xuất trước :
Là phương pháp mà trong đó ta phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho
theo từng lần nhập và giả thiết rằng hàng nào nhập kho trước thì sẽ xuất trước.
Nguyên tắc tính : Theo đơn giá thực tế nhập trước đối với lượng hàng xuất
kho thuộc lần nhập trước, số còn lại được tính theo đơn giá thực tế nhập lần tiếp
theo.
* Phương pháp nhập sau, xuất trước :
Theo phương pháp này người ta phải xác định được đơn giá thực tế của từng

1.2.2.5/ Tài khoản sử dụng
Để phản ánh trị giá thực tế của số sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã được xác
định tiêu thụ, kế toán sử dụng TK 632 " Giá vốn hàng bán "
Kết cấu tài khoản
Bên Nợ : - Phản ánh giá vốn của sản phẩm, hàng hoá tiêu thụ trong kỳ.
- Hoàn nhập khoản chênh lệch dự phòng giảm giá hàng tồn kho năm nay
thấp hơn năm trước.
- Trị giá sản phẩm, hàng hoá hao hụt, mất mát sau khi trừ phần cá nhân
bồi thường.
Bên Có : - Kết chuyển trị giá vốn của sản phẩm, hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ
trong kỳ để xác định kết quả ( sang TK 911 " Xác định kết quả kinh doanh ")
- Phản ánh khoản chênh lệch do việc lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho
của năm nay cao hơn năm trước.
- Trị giá vốn của số hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ
nhưng bị khách hàng trả lại.
- TK 632 không có số dư cuối kỳ
- Ngoài ra còn sử dụng một số TK liên quan như : TK 156, 157, 911......
1.2.2.6/ Trình tự kế toán giá vốn hàng bán
- Theo phương pháp kê khai thường xuyên (Xem sơ đồ 06, phụ lục, trang 6)
- Theo phương pháp kiểm kê định kỳ (Xem sơ đồ 07, phụ lục, trang 7)
1.2.3/ Kế toán chi phí bán hàng
1.2.3.1/ Khái niệm chi phí bán hàng
17
Là những khoản chi phí doanh nghiệp bỏ ra có liên quan đến hoạt động tiêu
thụ sản phẩm, hàng hoá trong kỳ, là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá cần thiết để phục vụ quá trình bán hàng như : Chi
phí nhân viên bán hàng, chi phí dụng cụ bán hàng, hoa hồng cho các đại lý, quảng
cáo sản phẩm, bảo hành, khấu hao TSCĐ dùng cho việc bán hàng và các chi phí
dịch vụ mua ngoài khác.
1.2.3.2/ Chứng từ sử dụng

nào.
1.2.4.2/ Chứng từ sử dụng
Bao gồm : - Phiếu chi.
- Phiếu xuất kho, các hợp đồng dịch vụ mua ngoài.
1.2.4.3/ Tài khoản sử dụng
Để phản ánh chi phí quản lý doanh nghiệp kế toán sử dụng TK 642 " Chi phí
quản lý doanh nghiệp "
Tài khoản này dùng để phản ánh tổng hợp và kết chuyển chi phí quản lý
doanh nghiệp, chi phí tài chính và chi phí chung liên quan đến hoạt động của
doanh nghiệp.
Kết cấu tài khoản
Bên Nợ : - Các chi phí QLDN thực tế phát sinh trong kỳ.
- Số dự phòng phải thu khó đòi, dự phòng phải trả (Chênh lệch giữa số
dự phòng phải lập kỳ này lớn hơn số dự phòng đã lập kỳ trước chưa sử dụng hết).
- Dự phòng trợ cấp mất việc làm.
Bên Có : - Các khoản giảm chi phí QLDN
- Kết chuyển chi phí QLDN vào TK 911
- TK 642 không có số dư cuối kỳ
* TK 642 có 8 TK cấp 2 :
- TK 6421 " Chi phí nhân viên quản lý gồm : Lương chính, lương phụ, các khoản
phụ cấp có tính chất lương."
- TK 6422 " Chi phí vật liệu quản lý "
- TK 6423 " Chi phí đồ dùng văn phòng "
- TK 6424 " Chi phí khấu hao TSCĐ "
19
- TK 6425 " Thuế phí và lệ phí "
- TK 6426 " Chi phí dự phòng gồm : dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng
giảm giá phải thu khó đòi "
- TK 6427 " Chi phí dịch vụ mua ngoài "
- TK 6428 " Chi phí bằng tiền khác "

trang 10)
21
PHẦN II
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG
VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ BÁN HÀNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
THƯƠNG MẠI VÀ DỊCH VỤ HÀ TÂY
2.1/ Giới thiệu chung về công ty Cổ Phần Thương Mại và Dịch Vụ Hà Tây
2.1.1/ Quá trình hình thành và phát triển của công ty
Công ty cổ phần Thương Mại & Dịch Vụ Hà Tây tiền thân là Công ty Thương
nghiệp Tổng hợp Thị Xã Hà Đông, được thành lập và đi vào hoạt động từ năm
1985 chịu sự quản lý trực tiếp của Sở Thương Mại và Nội Thương Hà Tây.Trong
những năm đầu hoạt động trong cơ chế tập trung bao cấp, hoạt động chủ yếu của
Công ty là phân phối hàng công nghệ và tiêu dùng tới cán bộ, công nhân viên chức
trên địa bàn.
Năm 1987, cùng với sự chuyển đổi của nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN, đòi hỏi
công tác quản lý cần có sự thay đổi nên Công ty Thương nghiệp Tổng hợp Thị Xã
Hà Đông đã sát nhập với Công ty Ăn uống Hà Tây nhằm mục tiêu phục vụ người
tiêu dùng tốt hơn.
Tháng 4/1993, thực hiện chủ trương sắp xếp lại doanh nghiệp Nhà nước,
Công ty Thương mại và Dịch vụ Hà tây được thành lập theo Quyết định số 161 của
UBND tỉnh Hà Tây. Trong giai đoạn này, Công ty Thương mại và Dịch vụ Hà Tây
được giao nhiệm vụ tổ chức hoạt động kinh doanh thương mại trên địa bàn.
Nhằm mục đích nâng cao hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh, đầu
năm 2004, thực hiện Nghị định số 64/2002/NĐ - CP về việc chuyển đổi doanh
nghiệp Nhà nước thành Công ty Cổ phần, Công ty Thương mại và Dịch vụ Hà Tây
đã hoàn tất các thủ tục chuyển đổi, cổ phần hoá với tên giao dịch : " Công Ty Cổ
Phần Thương Mại và Dịch Vụ Hà Tây " . Trụ sở chính tại 157 Trần Phú - Hà
Đông.
22

ty là 92 người, trong đó bộ phận quản lý, lao động gián tiếp chiếm khoảng 28%
trên tổng số lực lượng lao động toàn công ty.
- Hội đồng quản trị : Là cơ quan có thẩm quyền quản lý cao nhất nhân danh
công ty giữa hai kỳ Đại hội cổ đông, quyết định mọi vấn đề liên quan đến định
hướng, quyền lợi của công ty. Thành viên Hội đồng quản trị do Đại hội cổ đông
bầu hoặc bãi nhiễm.
- Ban kiểm soát : Là tổ chức thay mặt cho các cổ đông để kiểm soát mọi
hoạt động kinh doanh, quản trị và điều hành Công ty như kiểm tra tính hợp lý, hợp
pháp trong quản lý điều hành kinh doanh, trong ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài
chính.
- Ban giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm gồm :
+ Giám đốc là người đại diện theo pháp luật và đại diện pháp nhân của Công
ty trong mọi giao dịch, điều hành trực tiếp các đơn vị, các phòng chức năng của
Công ty đồng thời chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và Đại hội cổ đông về
hiệu quả hoạt động kinh doanh và trách nhiệm quản lý điều hành công ty.
+ Hai phó Giám đốc do Hội đồng quản trị bổ nhiệm theo đề nghị của Giám đốc
để hỗ trợ cho Giám đốc trong việc điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.
- Hệ thống phòng ban bao gồm ( 3 phòng ) :
+ Phòng tài chính - kế toán : Gồm 7 người với nhiệm vụ thực hiện công tác
hạch toán của toàn Công ty, quản lý hành chính, theo dõi tình hình thu chi và lập
báo cáo tài chính của Công ty. Tham mưu Ban giám đốc trong thực hiện chế độ
hạch toán kế toán.
+ Phòng kế hoạch - kinh doanh : Gồm 13 nhân viên với nhiệm vụ tiến hành
các hoạt động nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của thị trường, tổ chức quản
lý các bạn hàng và nhà cung cấp. Tham mưu Ban giám đốc trong hoạt động xúc
tiến thương mại.
+ Phòng tổ chức - hành chính : có 4 người với nhiệm vụ quản lý bộ máy
hành chính hợp lý nguồn hàng, hợp lý hoá việc sử dụng nguồn nhân lực. Tham
mưu cho Ban giám đốc trong việc quản lý và sử dụng nguồn nhân lực.
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status