Câu hỏi ôn tập Đại cương lịch sử Việt Nam - Có đáp án - Pdf 26

Câu 1: Anh (chị) hãy trình bày khái quát về lịch sử Việt Nam từ thời đại
Văn Lang, Âu Lạc đến thời kỳ nhà Đường (Trung Quốc) thống trị n ước ta.
*Nước Văn Lang-Âu Lạc
Người xưa cho rằng mở đầu họ Hồng Bàng là Kinh Dương Vương (khoảng năm
2879 Tr.CN), tương truyền là vị vua mở mang nghề nông, dựng nền văn minh nông
nghiệp đầu tiên của cộng đồng người Việt cổ. Kinh Dương Vương là thủ lĩnh đầu
tiên thống trị tất cả các bộ tộc Việt ở phương Nam (từ phía Nam sông Trường Giang
đến Giao Chỉ). Tiếp sau đó là Lạc Long Quân. Sau Lạc Long Quân là các Hùng
Vương. Tổng cộng có tất cả 18 vua Hùng Vương. Vào khoảng nửa đầu thế kỷ thứ
VII Tr.CN, nước Văn Lang được thành lập. Đóng đô ở Phong Châu (Phú Thọ). Địa
giới hành chính thời đại VL-AL cơ bản có thể hình dung: phía Bắc bao gồm Vân
Nam, Quảng Đông,Quảng Tây thuộc Trung Quốc bây giờ ; phía Tây giáp dãy
Trường Sơn, phía Nam đến qua đèo Ngang, phía Đông là biển Đông
Tổ chức hành chính: cả nước chia thành 15 bộ ; Vua=> con trai-quan
lang=>con gái-mị nương=>Lạc hầu-quan văn=>Lạc tướng-quan võ. Cấp cơ sở có
già làng, già bản.
Kế tục nước Văn Lang là quốc gia Âu Lạc, ra đời vào thế kỷ thứ III Tr.CN.
Thế kỷ thứ III Tr.CN, là thời kỳ những đời cuối cùng của thời đại Hùng
Vương. Đây là lúc sản xuất và văn hoá đang trên đà phát triển. Đồ đồng thau phát
triển cực thịnh tạo điều kiện quá độ sang thời kỳ đồ sắt. Nông nghiệp, thủ công
nghiệp đều phát triển hơn trứơc.Giao lưu kinh tế của các bộ lạc đc hình thành, có
quan hệ ngoại giao với nhà Chu, Malaysia… Đó là lúc Trung Quốc đang có những
biến đổi lớn. Thời Chiến Quốc kết thúc, nhà Tần thống nhất Trung Quốc (221
Tr.CN). Tần Thuỷ Hoàng lên ngôi hoàng đế với tư tưởng “bình thiên hạ” và chủ
nghĩa bành trướng bắt đầu đẩy mạnh. Nhà Tần liên tục phát quân xâm lược phương
Nam. Đó là cơ sở dẫn tới sự hợp nhất giữa 2 bộ tộc Lạc Việt và Tây Âu. Nước Âu
Lạc ra đời, vững mạnh hơn.
*Triều đại An Dương Vương
An Dương Vương dựng nước Âu Lạc, dời đô xuống Cổ Loa (huyện Đông Anh
– Hà Nội ngày nay). Trên cơ sở kỹ thuật đồ đồng thau phát triển, người Âu lạc đã
nắm được kỹ thuật rèn sắt. Một bước tiến mới của Âu Lạc trong kỹ thuật quốc

thờ Trưng Nữ Vương ở xã Hát Giang, huyện Phúc Lộc (nay là Phúc Thọ-Hà Tây),
và ở Mê Linh- Phiên Ngung- Hà Nội.
2/ Bắc thuộc lần thứ hai và cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu, khởi nghĩa của
Lý Bí:
Sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Âu Lạc bị ràng buộc hơn vào bộ máy
cai trị của triều đình nhà Đông Hán. Hàng loạt chủ trương lớn để củng cố quyền lực
được nhà Hán triển khai ở các quận, huyện.
Năm 203, nhà Hán đổi tên Giao Chỉ bộ (3 quận) thành Giao Châu. Tên Giao
Châu được gọi từ đó.Năm 211, đất Giao Châu chuyển sang lệ thuộc nhà Ngô. Nhà
Ngô khống chế, đặt ra lệ thuế vô cùng hà khắc, từ đó khiến lòng dân căm phẫn, dẫn
đến bùng nổ các cuộc khởi nghĩa.
* Cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu (năm 248)
Sang thế kỷ thứ 3, trên đất Âu Lạc bùng nổ cuộc khởi nghĩa lớn của Bà Triệu
(năm 248), tên thật là Triệu Thị Trinh là một người có tướng mạo kì lạ, khỏe mạnh
hơn người. Bà cùng anh trai là Triệu Quốc Đạt, lúc đầu giành thắng lợi ở nhiều nơi.
Nhưng thế Ngô quá mạnh, cuộc khởi nghĩa về sau bị dập tắt.
* Lý Bí dựng nghiệp Nam Đế, lập nước Vạn Xuân (544-602)
Từ năm 250 – 543 Giao Châu rơi vào tình trạng bất ổn, bị nhiều nước tranh
giành, xâu xé. Trong gần 300 năm, Giao Châu lần lượt thuộc nước Tấn (năm 250-
420), Tống (năm 420-478), Tề (năm 479-502), Lương (năm 502-543)
Đời sống người dân vô cùng cơ cực. Đầu năm 542, cuộc khởi nghĩa của Lý Bí
(Lý Bôn) đã nổ ra.
2
Lý Bí quê Thái Bình, xuất thân là một hào trưởng địa phương, đã làm quan
cho nhà Lương. Trước lực lượng hùng mạnh của nghĩa quân Lý Bí, cuộc khởi nghĩa
đã nhanh chóng thắng lợi.
Tháng 2 năm 544) Lý Bí chính thức lên ngôi Hòang đế, xưng là Việt Đế, còn
gọi là Lý Nam Đế, đặt quốc hiệu là Vạn Xuân, đóng đô ở miền cửa sông Tô Lịch,
quốc hiệu Vạn Xuân. Năm 545 quân Lương tấn công, Lý Bí thua trận, giao quyền
cho Triệu Quang Phục.

sau đó nhà Đường tấn công. Lúc đó Phùng An, con của Phùng Hưng nối ngôi đã
đầu hàng quân Đường năm 802
Dương Thanh ( 819 – 820)Là hào trưởng của đất Hoan châu ( Nghệ An). Năm
819, đã phát động khởi nghĩa giết được Lý Tượng Cổ, lập được hệ thống chính
quyền. Năm 820, Dương Thanh thất bại trước sự tấn công của nhà Đường.
3
Câu 2. Trình bày quá trình đấu tranh giành quyền độc lập tự chủ từ họ
Khúc khởi dựng đến triều đại độc lập tự chủ vững mạnh của nhà Hậu Lý.
Từ cuối thế kỷ IX trở đi, nhà Đường (Trung Quốc) bị tan rã một cách mau
chóng, đại thần chỉ lo lập mưu cát cứ, chính trị suy đồi, kỷ cương đổ nát, kinh tế
kiệt quệ, đời sống nhân dân bi đát… Đó là điều kiện khách quan thuận lợi cho cuộc
đấu tranh giành độc lập của nhân dân ta. Và cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ đã
bùng nổ và thắng lợi nhanh chóng trong bối cảnh đó.
1/ Họ Khúc dựng nền tự chủ ban đầu (906- 930)
Năm 864 vua Đường phong cho Cao Biền làm Tiết độ sứ và đổi An Nam đô
hộ phủ thành Tĩnh Hải quận Tiết tuấn. Năm 907 nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu
Lương, hậu Đường, hậu Tấn, hậu Chu tranh nhau.
Năm 905 Khúc Thừa Dụ là hào trưởng Hồng Châu (Hải Dương) đã tổ chức
lực lượngtiến công thành Tống Bình (Hà Nội), quân Đường thua to chạy về nước.
Ông tự xưng là Tiết độ sứ. Về hình thức Khúc Thừa Dụ giữ nguyên bộ máy hành
chính của chính quyền độ hộ, thực chất bên trong đó là một chính quyền độc lập
của nước ta sau ngàn năm Bắc thuộc, quan lại người TQ bị bãi bỏ, các chức vụ đc
thay thế bằng người Việt.
23/7/907, Khúc Thừa Dụ mất, con là Khúc Hạo tiếp tục sự nghiệp tự chủ và
đã thực hiện một số cải cách hệ thống chính quyền tự chủ theo thể chế thống nhất,
tập trung quyền lực vào một mối. Cuộc cải cách được thực hiện trong khoảng 10
năm thì Khúc Hạo mất. Khúc Thừa Mỹ thay cha trong bối cảnh chính trị có xu
hướng trở nên phức tạp. Năm 930, nhà Nam Hán đánh tan quân Khúc Thừa Mỹ,cử
Lý Tiến làm thứ sử nước ta.
2/ Dương Đình Nghệ và công cuộc khôi phục đất nước (931- 937)

lượng đông. Ông xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn, quan võ,
phong cho con là Đinh Liễn là Nam Việt Vương, Lê Hoàn là Thập đạo tướng quân.
Ông quản lý toàn bộ dân cư và lãnh thổ. Ruộng đất một phần phân cho quan lại,
công thần và hoàng tộc, phần còn lại giao cho làng xã để chia ruộng công theo định
kỳ và định suất cho nông dân cày.
Về pháp luật: vua Tiên Hoàng dùng pháp luật nghiêm ngặt để trừng trị, mọi
người đều sợ ko ai dám phạm. Tôn giáo:Đạo phật đc coi là quốc giáo, sư tăng có
phẩm tước, một số sư đc mời vào làm quan gọi là Tăng quan.
Tháng 10 năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con trai là Đinh Liễn bị Đỗ Thích
giết chết. Nên triều thần cùng tôn con trai thứ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Tuệ lên
ngôi hoàng đế khi ấy được 6 tuổi. Thập đạo tướng quân Lê Hoàn được nắm quyền
nhiếp chính, xưng là Phó Vương.
Nội bộ nghi ngờ lẫn nhau, dẫn đến tình trạng rối loạn, các tướng lĩnh kéo binh
chống lại Lê Hoàn. Song song đó, nhà Tống (Trung Quốc) cũng nhân cơ hội nước
ta đang rối loạn mà kéo quân tiến đánh. Trước tình hình đó, thái hậu Dương Vân
Nga triệu tập quần thần lấy áo bào khoác cho Lê Hoàn. Lê Hoàn làm vua, giáng
Đinh Tuệ xuống làm vệ vương-sử gọi Phế Đế.
4/ Đại Cồ Việt thời Tiền Lê (980 - 1009)
Lê Hoàn lên ngôi, lấy hiệu là Đại Hành hoàng đế. Đổi niên hiệu là Thiên
Phúc, lập nên nhà Lê (sử gọi là nhà Tiền Lê). Sau khi lên ngôi ông đã thân chinh chỉ
huy công cuộc phòng thủ, chỉ huy thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Tống
xâm lược năm 980 - 981. Sau chiến thắng, Lê Đại Hành chú tâm vào việc xây dựng
đất nước.
Vào lúc này, kỹ thuật canh tác lúa nước đã đạt đến trình độ cao. Tô thuế nhẹ,
khuyến khích sản xuất nông nghiệp, tạo sự ổn định đất nước. Cho đúc tiền, mua bán
giao lưu hàng hoá tăng.
Năm 1005, Lê Đại Hành mất, thọ 65 tuổi, ông định Long Việt làm thái tử.
Nhưng sau khi ông mất, các hoàng tử tranh ngôi. Cuối cùng Lê Long Đĩnh giết anh,
5
cướp ngôi vua. Lê Long Đĩnh không phải là một vị vua tốt,Ông ở ngôi được 4 năm

lợi để phát triển sản xuất, chính sách bảo vệ trâu, bò.
6
Câu 3. Trình bày quá trình xây dựng triều đại phong kiến của nhà Trần và sự
tồn tại của triều đại nhà Hồ:
NƯỚC ĐẠI VIỆT THỜI TRẦN
Nhà Lý suy vong, quyền lực rơi hết vào tay Trần Thủ Độ. Sau khi ép Lý
Chiêu Hoàng (7 tuổi) nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (8 tuổi) thì thời đại của
nhà Trần chính thức bắt đầu năm 1225, tuy Trần Cảnh (Trần Thái Tông) làm Vua
nhưng quyền lực và người đặt nền móng cho sự ra đời chính thức của Nhà Trần là
Trần Thủ Độ. Trong 175 năm trị vì, nhà Trần đã lãnh đạo nhân dân Đại Việt ba lần
kháng chiến chống quân Mông - Nguyên thành công vào các năm 1258, 1285 và
1288.
Nhà Trần bắt đầu khi vua Trần Thái Tông lên ngôi năm 1225 và chấm dứt khi
vua Trần Thiếu Đế, khi đó mới có 5 tuổi bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường
ngôi cho ông ngoại là Hồ Quý Ly tức Lê Quý Ly – Triều trần tồn tại 175 năm và
trải qua 12 đời vua, quốc hiệu Đại Việt-kinh đô Thăng Long.
1.Tổ chức bộ máy nhà nước.
Bộ máy triều đình gồm 2 bộ phận: Bộ phận trung khu và các cơ quan chức
năng. Còn ở địa phương, nhà Trần tổ chức chính quyền 3 cấp: phủ lộ, huyện châu,
hương xã. Nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ vào thế kỷ XIV, nhà Trần còn đặt
thêm 3 phủ là Lâm Bình (Quảng Bình, Quảng Trị); Thái Nguyên (Bắc Cạn, Thái
Nguyên, Cao Bằng); Lạng Giang (Bắc Giang , Lạng Sơn). Các quan trong triều
được chia làm hai Ban là Ban văn và Ban võ. Cấp lộ có chức An phủ chánh sứ và
phó sứ, thông phán, trấn phủ. Cấp huyện có các chức tri huyện và chủ bạ. Cấp xã có
các chức đại tư xã (hoặc tiểu tư xã), xã trưởng, xả giám.
2. Chế độ ruộng đất:Ruộng công: Có hai bộ phận ruộng công, gồm ruộng đất
do triều đình trực tiếp quản lý và ruộng đất công của thôn làng gồm: Ruộng quốc
khố, sơn lăng, ruộng tịch điền, ruộng công làng xã. Ruộng tư: Thái ấp, điền trang,
ruộng tư của địa chủ, ruộng đất tiểu nông.
3. Kết cấu xã hội thời Trần (gồm 4 cấp bậc):

được dựng lên khắp nơi, số người xuất gia tu hành rất đông, trong đó có nhiều
người là hoàng tộc, kể cả Vua và Thái thượng hoàng. Vua Trần Nhân Tông là người
đã lập ra phái thiền Trúc Lâm Yên Tử.
4. Ba lần chiến thắng quân Mông – Nguyên
- Cuộc kháng chiến chống quân Mông cổ lần thứ I - năm 1258:
Trước khi cho quân tràn xuống Đại Việt, Vua Mông Cổ phái sứ giả sang dụ
triều đình nhà Trần hàn phục. Vua Trần Thái Tông bắt giam sứ giả. Tháng 1 năm
1258 Mông Cổ mang 3 vạn quân men theo Sông Hồng tiến vào nước Đại Việt. Vua
Trần Thái Tông đích thân dẫn quân ra trận.24/1/1258 ba vạn quân Mông Cổ bị đánh
bật ra khỏi Thăng Long.
-Cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ 2 - Năm 1285:
Năm 1271, Vua Mông Cổ là Hốt Tất Liệt lập ra nhà Nguyên.Đầu năm 1258,
Hốt tất Liệt quyết định huy động nửa triệu quân sang xâm lược Đại Việt. Tướng chỉ
huy chống quân Nguyên của ta lúc này là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Sau
nhiều đợt rút lui để tránh thế mạnh của các đạo quân Nguyên, đầu hè năm 1285
quân ta giành thắng lợi.
-Cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ 3 (1287 - 1288): Thất
bại thảm hại, nhưng nhà Nguyên vẫn chưa chịu từ bỏ ý đồ xâm lăng Đại Việt.
Tháng 12 năm 1287, Hốt Tất Liệt tổng chỉ huy 3 đạo quân tiến vào Đại Việt.Về
phía ta, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn một lần nữa thống lĩnh toàn bộ đội quân
Đại Việt, tiếp tục chủ động áp dụng chiến thuật, “vườn không nhà trống”. Quân
Nguyên vừa thiếu lương thực, vừa sa sút tinh thần, chúng quyết định rút quân về
nước nhưng bị quân ta phục kích ở Sông Bạch Đằng, quân ta toàn thắng.
8
Sau chiến thắng Mông – Nguyên:
Nửa sau thế kỷ XIV xã hội Đại Việt lâm vào khủng hoảng trầm trọng, sản xuất
ngày càng trì trệ, đời sống nông nô, nô tì bị bần cùng hóa. Mất mùa, đói kém liên
tiếp xảy ra, nông dân nổi dậy khởi nghĩa khắp nơi, nội bộ triều đình lục đục.
Năm 1394, vua Trần Nghệ Tông mất, Lê Quý Ly (Hồ Quý Ly) nắm lấy cả
quyền hành rồi sai người vào đất Thanh Hoá xây thành Tây Đô. Sau khi công việc

-Ngoại giao: Đối với nhà Minh, nhà Hồ đã phải nhún nhường hết mức, thậm
chí năm 1405 đã phải cắt 59 thôn ở Lộc Châu (tỉnh Lạng Sơn ngày nay) cho nhà
Minh. Đối với Chiêm Thành, suốt thời kỳ 1400-1403, nhà Hồ liên tục đem quân
9
tấn công Chiêm Thành và đã mở mang được lãnh thổ tới tận tỉnh Quảng Ngãi ngày
nay.
-Hệ thống thi cử: Năm 1404, Hồ Hán Thương định thể thức thi chọn nhân tài:
Cứtháng 8 năm trước thi hương, ai đỗ thì tháng 8 năm sau thi hội, ai đỗ thi Hội thì
thi bổ thái học sinh. Rồi năm sau nữa lại bắt đầu thi hương như hai năm trước.
Tháng 8 năm 1400, Hồ Quý Ly mở khoa thi thái học sinh,
Năm 1406, Nhà Minh đánh sang, vua quan nhà Hồ bị bắt, cuộc kháng chiến
của quân nhà Hồ hoàn toàn thất bại, đất nước rơi vào ách đô hộ của nhà MinhNhà
Hồ chỉ làm vua được từ năm Canh Thìn (1400) đến năm Đinh Hợi (1407), kể vừa 7
năm thì mất.
Câu 4. Anh (chị) hãy trình bày khái lược lịch sử thời đại nhà Hậu Lê từ
thời Lê Lợi đến Lê Chiêu Thống:
Nhà Hậu Lê gồm hai giai đoạn: Lê sơ (1428-1527) và Lê trung hưng (1533-
1789).
Sự thành lập nhà Hậu Lê: Bắt đầu từ khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427)
là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và
kết thúc bằng việc giành lại độc lập tự chủ cho nước Đại Việt. Mùa xuân năm Mậu
Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt cùng chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần
Nguyên Hãn, Lê Văn An, và các tướng văn, võ chính thức phất cờ khởi nghĩa Lam
Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi dân Đại Việt đồng lòng đứng lên đánh đuổi
quân xâm lược nhà Minh.
Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn: giai đoạn hoạt động ở
vùng núi Thanh Hoá (1418-1425), tiến công ra Bắc (1425-1427) và chiến thắng Chi
Lăng – Xương Giang (1427). Cuộc đấu tranh giành thắng lợi. Ngày 29 tháng 4 năm
Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi vua tức là Lê Thái Tổ, lập ra triều Hậu Lê, lấy
Quốc hiệu là Đại Việt. Nguyễn Trãi viết BNĐC.

nghề thủ công nghiệp và xây dựng dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông cũng phát
triển khá mạnh.
Nông nghiệp
Nhà Lê cho lính về làm ruộng sau chiến tranh, kêu gọi dân phiêu tán về quê
làm ruộng, đặt ra một số chức quan chuyên lo về nông nghiệp như Khuyến nông sứ,
Hà đê sứ,…và định lại chính sách chia ruộng đất công làng xã gọi là phép quân
điền. Nhà Lê còn đẩy mạnh việc lập đồn điền và khẩn hoang nhằm khai thác những
vùng đất mới. Công- thương nghiệp
Các ngành nghề thủ công truyền thống như ở các làng xã như kéo tơ, dệt lụa,
đan lát, làm nón, đúc đồng, rèn sắt, làm đồ gốm v.v ngày càng phát triển. Nhiều
làng thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời. Thăng Long là nơi tập trung nhiều
ngành nghề thủ công nhất.
Nhà vua khuyến khích lập chợ mới họp chợ ban hành những điều luật cụ thể
quy định việc thành lập chợ và họp chợ.Việc buôn bán với nước ngoài được duy trì.
Giáo dục
Lê Thái Tổ cho dựng lại Quốc Tử Giám ở kinh thành Thăng Long mở trường
học các lộ mở khoa thi và cho phép người nào có học đều được dự thi. Đa số dân
đều có thể đi học đi thi trừ những kẻ phạm tội và làm nghề ca hát.
Thời Lê sơ (1428-1527) tổ chức được 26 khoa thi tiến sĩ lấy đỗ 989 tiến sĩ 20
trạng nguyên. Riêng thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) tổ chức được 12 khoa thi
tiến sĩ lấy đỗ 501 tiến sĩ 9 trạng nguyên.
11
Lê Thánh Tông khởi xướng và cho lập bia tiến sĩ lần đầu tiên ở Văn Miếu -
Quốc Tử Giám vào năm 1484, cho xây kho bí thư chứa sách, đặc biệt đã sáng lập
Hội Tao Đàn bao gồm những nhà văn hóa có tiếng đương thời mà Lê Thánh Tông
là Tao Đàn chủ soái.
Luật pháp
Về luật pháp, Bộ Quốc triều hình luật của nhà Hậu Lê đã được hoàn thiện
trong thời Lê Thánh Tông, nên còn được gọi là Luật Hồng Đức. Lê Thánh Tông đã
lấy những quan điểm của nho giáo làm hệ tư tưởng, chỉ đạo việc biên soạn, ban

Doanh rồi làm Thái thượng hoàng.
Dưới thời nhà Mạc đất nước có nhiều chuyển biến khác trước cả trên lĩnh vực
kinh tế, văn hoá và tư tưởng.
Kinh tế: Nhà Mạc có chính sách khuyến nông, chú trọng khẩn hoang, đắp đê.
Có nhiều chính sách cởi mở về nội thương và ngoại thương,đẩy mạnh phát triển
kinh tế hàng hóa. Nghề gốm và nhiều nghề thủ công mỹ nghệ khác p.triển mạnh
mẽ.
Văn hóa: Coi trọng chính sách thi cử, đào tạo nhân tài cho đất nước kể cả nữ.
Cứ 3 năm mở một kì hội, 22 khoa thi. Phát triển chữ Nôm, cho xây đình Tây Đằng-
ngôi đình đầu tiên trong lịch sử văn hóa Việt Nam mở đầu cho nền kiến trúc dân
tộc.
Tư tưởng: ko ràng buộc về kinh tế và tư tưởng Nho giáo. Tôn trọng Nho giáo
nhưng lại phá bỏ thế độc tôn của Nho giáo bằng việc xây nhiều đình, chùa để nhân
dân đc tự do về tín ngưỡng.
Các vua nhà Mạc: Mạc Đăng Dung (1527-1529) Mạc Thái Tông (1530-1540)
Mạc Hiến Tông (1540-1546) Mạc Tuyên Tông (1546-1561) Mạc Mậu Hợp (1562-
1592). Tính từ thời Mạc Đăng Dung cho đến Mạc Mậu Hợp đây là thời kỳ hưng
thịnh của nhà Mạc. Đến 1592 khi Mạc mậu Hợp bị Trịnh Tùng bắt giết, triều Mạc
tan rã, từ đây nhà Mạc bước vào thời kỳ suy vong, một số tôn thất nhà Mạc chạy
lên Cao Bằng: Mạc Toàn (1592-1593) Mạc Kính Chỉ 1593 Mạc Kính Cung (1593-
1625) Mạc Kính Khoan (1638-1677) Mạc Kính Vũ (1638-1677).
* Chúa Trịnh
- Lược sử: Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê, bức Chiêu Tông về
Thăng long, thì Duy Ninh ( Trang Tông ) bỏ chạy. Được Lê Quán đưa sang Lào.
Chiêu Huân Công Nguyễn Kim, phò Lê, đánh Mạc đã khởi nghiệp ở Lào đưa Duy
Ninh làm vua Hiệu là Trang Tông. Năm 1540, Nguyễn Kim đánh về Nghệ An, bắt
được tướng Mạc là Dương Chấp Nhất. Năm 1545, Nguyễn Kim đánh ra Sơn Nam
( Ninh Bình) thì bị Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết
Quyền chỉ huy thuộc về Trịnh Kiểm ( con rể) vì các con của Nguyễn Kim
còn nhỏ. Bắt đầu từ đây xuất hiện vua Lê - Chúa Trịnh: Khi Trang Tông mất, Kiểm

- Nguyễn Phúc Tần 1648-1687. Đánh chiếm đến Nghệ An.
Cho Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình… những người
TQ bài Thanh, Phục Minh với hơn 3000 người và hơn 50 chiến thuyền đến Biên
Hòa, Mỹ Tho làm ăn
- Nguyễn Phúc Trăn 1687-1691
- Nguyễn Phúc Chu 1691-1725, có công lớn thần phục Mạc Cửu 1708, phong
cho Mạc Cửu là Tổng binh Hà Tiên. Ông có tới 146 người con
- Nguyễn Phúc Chú 1725-1738
- Nguyễn Phúc Khoát 1738-1765
- Nguyễn Phúc Thuần 1765-1777. Thời chúa có Trương Phúc Loan lộng thần,
cùng lúc Nguyễn Cư Trinh trung thần mất. Quân Tây Sơn nổi dậy, quân Trịnh đánh
vào với danh nghĩa bắt Trương Phúc Loan.
Năm 1777, Nguyễn Huệ đánh Long Xuyên, Phúc Thuần ra trận và bị chết
trận 24 tuổi, chưa có con
14
- Chúa Nguyễn Phúc Ánh 1780-1802
Sinh năm 1762, con Nguyễn Phúc. Khi Phúc Thuần chết, một mình Ánh chạy
ra Thổ Chu, tập hợp binh mã đánh vào Gia Định. Năm 1780, lên ngôi chúa.
Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc đánh vào Gia Định truy đuổi Nguyễn Ánh
1782, 1783,1784,1787 - 1784 Nguyễn Ánh mượn được 2 vạn quân Xiêm, thua ở
Rạch Gầm, Xoài Mút (Định Tường); 1792, tấn công ra Quy Nhơn, 1799, Tây Sơn
bị diệt… Nguyễn Ánh lên ngôi vua thống nhất đất nước, đặt tên nước là Việt Nam
năm 1802.
Triều đại Tây Sơn- Quang Trung Nguyễn Huệ
Sơ lược: gồm các vua Nguyễn Nhạc (1778-1793) Nguyễn Bảo nối ngôi 1793.
Nguyễn Huệ (1778-1792); Nguyễn Quang Toản lên ngôi 1792. Tây Sơn tồn
tại 24 năm, kết thúc về Nguyễn Ánh 1802.
Năm 1771, 3 anh em nhà Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn
Lữ phất cờ khởi nghĩa và nhanh chóng giành đc thắng lợi ở nhiều nơi. Nguyễn
Nhạc lên ngôi vua đánh tan Nguyễn Phúc Thuần, 1784 đánh tan quân Xiêm của

- Khi Gia Long lên ngôi cũng là lúc tư bản phương Tây tràn vào các thuộc
địa. Gia Long mềm dẻo với Pháp. Nhưng minh Mạng lại cự tuyệt Pháp. Không mở
cửa đối thoại, dẫn đến Pháp dự kiến đánh chiếm thị trường. Vua Pháp bị cự tuyệt.
Đại sứ Pháp không được tiếp. Giáo sỹ Pháp bí mật truyền đạo bị cấm, bị bắt bị giết.
Giáo dân bị đàn áp. Có nơi bị giết cả làng.
Lúc mới kiến tạo bộ máy Nhà nước, Gia Long đã đặt 6 Bộ : Lại, Hộ, Lễ, Binh,
Hình, Công nhưng chưa có ấn triện và chưa đặt chức Thượng thư. Năm 1804, nhà
Vua cho đúc ấn triện của 6 Bộ. Năm 1809 chính thức đặt chức Thượng thư đứng
đầu Bộ…Lục bộ (6 bộ): Lại, Hộ, Lễ, Công, Hình, Binh
Bộ Lại: tuyển dụng, bổ nhiệm, thăng trật, khen thưởng, kỷ luật, soạn thảo
chiếu chỉ, văn bản, quản lý quan lại .Bộ Hộ:Ruộng đất, thuế, giá cả, tiền, kho, cấp
phát. Bộ Lễ: Khánh tiết, lễ hội, tôn phong, bang giao, giáo dục, vi hành. Bộ Binh:
Tuyển quân, lập đồn, tra xét công, tội, lập sổ quân bạ. Bộ Hình: xét xử, chế độ lao
tù, pháp luật. Bộ Công: Kiến thiết xây dựng, công sở, cầu cống, thủ công nghiệp.
Về Khoa bảng nhà Nguyễn: Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ (thời nhà Nguyễn
không lấy đỗ Trạng nguyên, cao nhất là Bảng nhãn, sau là Thám hoa) ; Đệ nhị giáp
Tiến sĩ xuất thân (tiến sĩ xuất thân hay hoàng giáp) - ông hoàng; Đệ tam giáp Đồng
tiến sĩ xuất thân (đồng tiến sĩ xuất thân) - dân gian gọi là ông tiến sĩ vàPhó bảng.
-Địa phương:
Minh Mạng chia đất nước thành 30 tỉnh, 1838, đổi tên nước thành Đại Nam.
-Tổ chức hành chính cấp tỉnh:Số tỉnh thành, phủ, huyện từ 1832 đến 1945;
Tỉnh: 31 gồm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên, 90 phủ và 20 phân phủ, 379 huyện, 1742
tổng, 18. 265 xã, phường. Phủ có Tri phủ; Huyện, châu có Tri huyện, tri châu; Tổng
có Chánh Tổng. Xã có Lý trưởng, Phó lý.
- Cấp cơ sở Thời Gia Long:Xã, phường: đứng đầu là xã trưởng, có xã 5-6 xã
trưởng. Từ 1828 đổi thành Lý trưởng. Trưởng ấp gọi là Phó Lý trưởng, dưới Phó lý
còn có khán thủ.
- Cấp cơ sở thời Minh Mạng:Đến 1832( Minh Mạng) cải cách, mỗi xã chỉ có 1
lý trưởng. Xã nào có trên 50 đinh đặt thêm phó lý. Xã nào trên 150 đinh đặt 2 phó
lý. Số Khán thủ- (công an) được tăng thêm. Cấp cơ sở không hưởng lương từ ngân

Trung Quốc: nhà Nguyễn vẫn duy trì triều cống nhà Thanh và xin sắc phong mỗi
khi vua lên ngôi. Đối với các nước trong khu vực: Nhà Nguyễn tiến hành chinh
phục Cao Miên ( Campuchia ) và phần lớn lãnh thổ Ai Lao ( Lào ). Nhà Nguyễn
duy trì tinh thần “đóng cửa” cự tuyệt quan hệ với các nước phương Tây.
Chính sách cấm đạo thiên chúa: Chính sách cấm đạo- giết cha đạo và giết
dân theo đạo – gây phẫn nộ trong nhân dân theo đạo thiên chúa. Minh Mạng và Tự
Đức đều thực hiện chính sách cấm đạo
Chính sách đào tạo, bổ nhiệm và sử dụng quan lại triều Nguyễn:Các triều
vua Nguyễn ý thức được tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng
nhân tài phục vụ đất nước. Phương thức tuyển dụng quan lại chủ yếu là qua con
đường khoa cử. Quy chế trường thi khá chặt chẽ và cụ thể. Nhà Nguyễn cho lập
Quốc Tử Giám đồng thời cho khắc tên tiến sĩ đặt vào nơi thiêng liêng nhất của nền
giáo dục.
17
Thương mại
Thương mại Việt Nam sau khi đất nước được thống nhất vẫn không phát triển
lắm, tổ chức thương mại của người Việtsơ sài, trong phạm vi gia đình.Triều đình đã
tổ chức nhiều chuyến đi công cán đến các nước trong khu vực để thực hiện giao
dịch buôn bán. Năm 1824, Minh Mạng đã sai người đi công cán ở Hạ Châu.
Nông nghiệp
Triều Nguyễn có những chính sách ưu đãi để phát triển nông nghiệp, như là
cấm mua bán ruộng đất công. Năm 1828, Minh Mạng giao cho bộ Lễ soạn thảo chu
đáo các điển lễ khôi phục lại nghi lễ Tịch điền và làm thành luật lệ lâu dài. Tiếp tục
việc khai hoang và phục hóa, từ thời các chúa Nguyễn để lại như việc khẩn hoang,
mở rộng, phát triển nông nghiệp. Ngoài ra, triều đình nhà Nguyễn còn khuyến
khích nhân dân tự do khai hoang kết hợp phục hóa.
Văn hóa và giáo dục
Vua Gia Long đề cao Nho học, cho lập Văn Miếu ở các doanh, các trấn thờ
đức Khổng Tử và lập Quốc Tử Giám năm 1803 ở Kinh thành Huế để dạy cho các
quan và các sĩ tử, mở khoa thi Hương.

Trực, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,
Nguyễn Thái Học … đều thất bại.
Bộ máy hành chính thực dân:
Ngày 17 tháng 10 năm 1887, viên Tổng thống Pháp ký sắc lệnh thành lập Phủ
toàn quyền Đông Dương, còn gọi là Phủ toàn quyền Đông Pháp.
- Riêng nước Việt Nam (phần đất Trung kỳ đang chịu sự bảo hộ của thực dân
Pháp) Hoàng đế nhà Nguyễn vẫn là người có quyền tối thượng, trên danh nghĩa.
Đứng đầu cả ba kỳ là: Thống đốc Nam kỳ (có sách gọi Thủ hiến), Khâm sứ Trung
kỳ và Thống sứ Bắc kỳ.
Tổ chức bộ máy hành chính của pháp tại các kì:
- BẮC KỲ : Thống Sứ. Cấp tỉnh có công sứ người Pháp và Tổng đốc người
Việt ở tỉnh lớn, Tuần phủ ở tỉnh nhỏ. Phủ hay huyện hoặc châu và đặt dưới quyền
của quan cai trị người Việt gọi là Tri Phủ, hay Tri Huyện hoặc Tri Châu. Tổng:
Chánh Tổng, phó chánh tổng. Cấp xã: Lý trưởng, phó lý
- TRUNG KỲ: Khâm sứ. Cấp Tỉnh đứng đầu là Công sứ, cấp thành phố,
đứng đầu là Đốc lý. Chỉ có 1 thành phố cấp 2 là Đà Nẵng
- NAM KỲ: thống đốc. Cấp tỉnh: Quan chủ tỉnh; Cấp huyện: Đốc phủ sứ; tri
phủ; tri huyện. Cấp xã: xã trưởng, thôn trưởng và Hội đồng kỳ mục.
Chính sách cai trị:
Ngày 1-9-1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta và nhanh chóng
chúng đã chiếm được đất nước ta với hai bản hiệp ước Acmang 1883 và hiệp ước
patơnốt 1884 mà triều đình nhà Nguyễn đã ký với Pháp công nhận sự thống trị lâu
dài của thực dân Pháp đối với nước ta. Sau khi đặt ách thống trị lên đất nước ta thực
dân Pháp đã nhanh chóng thiết lập chế độ chính trị vô cùng phản động và thực hiện
chương trình khai thác thuộc địa nhằm vơ vét tài nguyên thiên nhiên về cho chính
quốc, để lại những hậu quả to lớn cho đất nước Việt Nam.
Thực dân Pháp thực hiện chương trình khai thác thuộc địa nước ta chia làm
hai giai đoạn:
19
+ Giai đoạn 1: Từ năm 1897 – 1914

trụy nhằm đầu độc nhân dân Việt Nam. Xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học và
bệnh viện. Ngăn chặn sự ảnh hưởng của văn hoá tiến bộ vào Việt Nam kể cả văn
hoá tiến bộ Pháp.
chống đế quốc giải phóng dân tộc.
20
Câu 6. Trình bày khái quát lịch sử Việt Nam từ 1945 đến 1975:
SỰ RA ĐỜI CỦA NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA:
Ngày 3/2/1930 Nguyễn Ái Quốc thành lập ĐCS Việt Nam.
1/9/1939 Chiến tranh thế giới thứ 2 bùng nổ.
Ngày 28/1/1941 Nguyễn Ái Quốc về nước lãnh đạo CMVN.
Ngày 19/5/1941 Thành lập Mặt trận Việt Minh
Ngày 22/12/1944 thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân.
9/5/1945 Phát xít Đức đầu hàng. Liên Xô chính thức tuyên chiến với Nhật
ngày 5/8/1945.
13/8/1945 trước tình thế Nhật chuẩn bị đầu hàng, xác định thời cơ tổng khởi
nghĩa đã đến, Hồ Chí Minh triệu tập Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại
hội ngày 13 và 16/8/1945.
Ngày 16/8/1945 Quốc dân đại hội ở Tân Trào thành lập Ủy ban giải phóng -
Chính phủ lâm thời. 19/8/ quân ta giành chính quyền ở Hà Nội, 23/8 giành chính
quyền ở Huế- Bạc Liêu, 25/8 giành chính quyền ở Sài Gòn, Cà Mau.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường Ba Đình tuyên bố Việt Nam thống
nhất và độc lập với tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quốc kì được chọn
là cờ đỏ, sao vàng 5 cánh.
Bước Đầu Xây Dựng Chính Quyền Cách Mạng:
Xây Dựng Chính Quyền Cách Mạng:6/1/1946, ta bầu cử Quốc hội, bầu Hội
đồng nhân dân các cấp. Tháng 3/1946, Quốc hội thông qua danh sách chính phủ
liên hiệp kháng chiến do Bác Hồ đứng đầu . Ban hành hiến pháp đầu tiên của nước
Việt Nam ta (Hiến pháp 1946). 5/1946 Quân đội quốc gia Việt Nam ra đời
Giải Quyết Nạn Đói: Điều hoà lúa gạo, Bác Hồ kêu gọi tinh thần "nhường cơm sẻ
áo" Hũ gạo cứu đói, tăng gia sản xuất, giảm tô thuế 25%, cuối 1945, nạn đói đc đẩy

Ngày 19/12/1946, Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ, Lời
kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác Hồ được truyền đi khắp cả nước, ta chủ
trương đánh địch toàn dân, toàn diện, trường kì, tự lực cánh sinh.
Chiến Dịch Việt Bắc Thu Đông 1947 Và Việc Đẩy Mạnh Kháng Chiến
Toàn Dân, Toàn Diện:
Ngày 7/10/1947 Pháp huy động 12 nghìn quân tấn công vào Việt Bắc.
Ngày 9/10/1947 lính thủy của quân Pháp bao vây căn cứ Việt Bắc ở phía Tây
Trước tình hình đó, quân ta chủ động bao vây và tiêu diệt chúng ở Chợ Mới, Chợ
Đồn, đèo Bông Lau, Ngày 19/12/1947, quân Pháp rút khỏi Việt Bắc, chiến dịch kết
thúc thắng lợi.Phá tan kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp và buộc chúng
phải chuyển sang kế hoạch đánh lâu dài.
3/1949, Bảo Đại được Pháp đưa về Việt Nam làm Quốc Trưởng.
1/1950 Mỹ chính thức ra mặt giúp Pháp, các nước XHCN công nhận chính
phủ VNDCCH.
Chiến dịch Biên Giới-Thu Đông, Việt Nam khai thông và nhận viện trợ
của CNXH:
16/9/1950 ta tấn công Đông Khê, 2 ngày sau đó, Đông Khê bị ta chiếm thì
quân Pháp bị uy hiếp, Cao Bằng bị cô lập hoàn toàn.
Quân ta mai phục chặn đánh chúng trên đường số 4, các cánh quân của Pháp bị chia
cắt và buộc chúng phải rút hết số quân ở các cứ điểm trên đường số 4 từ Thất Khê
đến Đình Lập, ta giải phóng đường số 4 ngày 22/10/1950. Đập tan kế hoạch
Rovers. Giành lại thế chủ động trên ciến trường bắc bộ, mở ra bước phát triển mới
của cuộc kháng chiến.
6/1952 ta giành thắng lợi ở Hòa Bình
22
Cuộc Tiến Công Chiến Lược Đông Xuân 1953-1954 và Chiến Dịch Điện
Biên Phủ Lịch Sử
Cuộc Tiến Công Chiến Lược Đông Xuân 1953-1954
Để thực hiện âm mưu, Pháp tập trung 44 tiểu đoàn cơ động ở đồng bằng bắc bộ, càn
quét ở Thanh Hoa, Ninh Bình. Tháng 12/1953, ta tiến công và giải phóng Lai Châu,

Cuối 1960, hình thức thống trị của chính quyền Ngô Đình Diệm bị thất bại,
Mỹ chuyển sang chiến lược Chiến tranh Đặc biệt dưới thời tổng thống Kennedy.
Tăng cường viện trợ cho Diệm, đưa vào miền nam nhiều cố vấn quân sự, tăng
cường lực lượng quân đội Ngụy quyền, Tiến hành càn quét, dồn dân lập ấp chiến
lược, Lập bộ chỉ huy quân sự tại Sài Gòn
Ta chiến đấu chống chiến lược CTĐB trên cả 3 mặt trận:mặt trận chống phá, bình
định ;mặt trận chính trị ; mặt trận quân sự
23
Cuối 1962 từng mảng lớn Ấp chiến lược bị ta phá vỡ thành làng chiến đấu, gần
70% nông dân do cách mạng kiểm soát
2/1/1963 trận Ấp Bắc (Mỹ Tho), khắp miền nam dấy lên phong trào "Thi đua Ấp
Bắc, giết giặc lập công", góp phần làm phá sản chiến lược CTĐB của Mỹ.
Chiến tranh cục bộ
Sau thất bại của chiến lược Chiến tranh đặc biệt, Mỹ chuyển sang CTCB ở
miền nam và tiến hành chiến tranh phá hoại miền bắc ngày 5-8-1964.
Mỹ tiến hành các chiến dịch Vạn Tường, hai cuộc tiến công chiến lược mùa
khô năm 1965-1966, 1966-1967 cùng các cuộc càn quét "bình định, tìm diệt"
Ta giành thắng lợi mở đầu là trận Vạn Tường 18/8/1965, tiếp đó là các trận:
Chiến thắng mùa khô 1965-1966, Chiến thắng mùa khô 1966-1967. Ngoài ra,
phong trào đấu tranh của quần chúng ở nông thôn và thành thị diễn ra ngày càng
nhiều và đương nâng cao về mọi mặt, vùng giải phóng đc mở rộng và uy tín của
cách mạng được nâng cao.
Chiến Dịch Mậu Thân 1968
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 là một cuộc tiến công chiến
lược của quân và dân ta.Với thắng lợi vẻ vang, Mậu Thân 1968 đã
làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ, buộc chúng phải tuyên bố: "phi Mỹ hoá chiến
tranh" , chấm dứt không điều kiện việc tiến hành chiến tranh phá hoại miền
bắc,chịu ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Paris để đi đến việc ký kết Hiệp Định
Paris sau này.
Việt Nam Hoá Chiến Tranh (1969-1973)

buộc phải rút hết quân, chấm dứt sự hiện diện ở Việt Nam và phải thừa nhận mình
là người thua cuộc. 29/3/1973 Mỹ cuốn cờ tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Giải phóng miền Nam-Toàn vẹn lãnh thổ
Cuối 1974, đầu 1975 Bộ chính trị đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền
nam trong hai năm 1975-1976, nhấn mạnh: "năm 1975 là năm thời cơ, nếu thời cơ
đến thì ta phải giải phóng hoàn toàn miền nam trong năm 1975 để tránh thiệt hại về
người và của”
Tổng tiến công mùa xuân 1975
Chiến Dịch Tây Nguyên:
- 4/3 ta tấn công Pleiku và Kontum., 10/3 ta tiếp tục đánh nghi binh ở Buôn Ma
Thuột, 12/3 địch phản công chiếm lại nhưng không thành công và bị tổn thất nặng,
14/3 Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút bỏ Tây nguyên. Đây là một cuộc tiến công chiến
phát triển thành một cuộc tổng tiến công chiến lược.
Chiến Dịch Huế-Đà Nẵng:
- 21/3 ta tấn công Huế, 26/3 ta giải phóng Huế, tỉnh Thừa Thiên, thị xã Tam Kỳ và
toàn bộ tỉnh Quảng Ngãi. 29/3 quân ta từ các hướng bắc, tây, nam tiến công và giải
phóng Đà Nẵng. Cơ bản đến đầu tháng 4/1975 ta giải phóng các tỉnh ven biển miền
trung, nam Tây nguyên và một số tỉnh ở Nam bộ. Đây là cuộc tiến công chiến lược
đẩy địch vào bờ vực diệt vong, quân ta tiến công với sức mạnh áp đảo
Chiến Dịch Hồ Chí Minh:
- Bộ chính trị và TW Đảng nhận định, thời cơ giải phóng hoàn toàn đất nước đã tới,
ta phải giải phóng hoàn toàn miền nam trước trước mùa mưa năm 1975
- 8/4, bộ chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn-Gia Định được thành lập Hồ Chí
Minh được thành lập do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy tối cao.
- 21/4 ta chọc thủng phòng tuyến Xuân Lộc
- 16/4 ta tấn công, 20/4 ta giải phóng Phan Rang, Phan Thiết
- 21/4 Nguyễn Văn Thiệu từ chức Tổng thống và tháo chạy khỏi Sài Gòn cùng
nhiều tướng lĩnh cấp cao khác của Ngụy quyền
- 17h ngày 26/4, chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, 11h30 ngày 30/4,cờ cách
mạng tung bay trên nóc Dinh Độc lập, chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc thắng lợi,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status