BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐÀO THỊ LÝ
THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA NGUYÊN HỒNG
THỜI KỲ TRƢỚC NĂM 1945
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62 22 01 21
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2015
văn xuôi Việt Nam hiện đại, NXB Đại học Thái Nguyên, tr.63-112.
II. Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ
1. Đào Thị Lý (2011), Nghiên cứu đặc điểm thế giới nghệ thuật
trong sáng tác của Nguyên Hồng (giai đoạn trước năm 1945); Mã số:
B2010-TN 03-02; Đã được nghiệm thu, đạt loại: Khá.
III. Bài báo
1. Đào Thị Lý (2010), "Nhân vật trẻ em trong sáng tác của
Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám năm 1945", Tạp chí
Khoa học và Công nghệ Đại học Thái Nguyên, tập 65, số 3 năm
2010, tr.61 - 66.
2. Đào Thị Lý (2011), "Một số đặc điểm về nghệ thuật xây
dựng nhân vật phụ nữ trong sáng tác của Nguyên Hồng", Tạp chí
Diễn đàn văn nghệ Việt Nam, tháng 12 năm 2011, tr.17 - 21.
3. Đào Thị Lý (2013), "Nghệ thuật tạo dựng hoàn cảnh, tình
huống trong sáng tác của Nguyên Hồng trước Cách mạng tháng Tám
năm 1945", Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam, số 277, tháng 12,
năm 2013, tr.30 - 34.
4. Đào Thị Lý (2014), “Không gian nghệ thuật trong sáng tác của
Nguyên Hồng thời kỳ trước năm 1945”, Tạp chí Khoa học và Công
nghệ Đại học Thái Nguyên, tập 129, số 15, năm 2014, tr.51 - 58.
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nguyên Hồng (1918 - 1982) là một trong những nhà văn
xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực nói riêng, của nền văn
học Việt Nam hiện đại nói chung. Ông là người đến với nghề văn
khá sớm và đã thành công ngay từ tác phẩm đầu tay: Bỉ vỏ (1937).
Nguyên Hồng có sức viết phi thường, viết với tất cả sự đam mê và
nhiệt huyết của mình. Hơn bốn mươi năm cầm bút, ông đã để lại
1.3. Theo khảo sát của chúng tôi, cho tới nay đã có khoảng hơn
50 công trình viết về Nguyên Hồng và riêng việc nghiên cứu về Thế
giới nghệ thuật của ông đã có trên 20 bài (đề cập đến nhiều khía
cạnh, ví dụ như: Chủ đề, đề tài sáng tác, cảm hứng sáng tạo, chủ
nghĩa nhân đạo, cảm quan tôn giáo, lời văn nghệ thuật, trong sáng
tác của nhà văn). Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã
chú ý đề cập đến giai đoạn sáng tác trước Cách mạng tháng 8/1945
của Nguyên Hồng, trong đó đã có sự khảo sát, đề cập đến một số
phương diện trong Thế giới nghệ thuật của ông như: đề tài, chủ đề
nhân vật, không gian và thời gian, lời văn nghệ thuật nhưng chúng
tôi nhận thấy rằng, phần lớn đây là những nhận xét, nhận định mang
tính khái quát; hoặc đó có thể là những khảo sát, phân tích khá cụ thể
ở một số phương diện trong Thế giới nghệ thuật chứ chưa phải toàn
bộ Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng. Do đó, vẫn rất cần phải có
một công trình chuyên biệt nghiên cứu một cách khá hệ thống và toàn
diện về Thế giới nghệ thuật của nhà văn Nguyên Hồng. Thực hiện
đề tài nghiên cứu này, chúng tôi muốn góp phần nhìn nhận một cách
tương đối toàn diện, hệ thống về Thế giới nghệ thuật của Nguyên
Hồng trong một giai đoạn sáng tác cụ thể - giai đoạn trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945, để chỉ ra những đặc điểm riêng, những
sáng tạo riêng trong Thế giới nghệ thuật của nhà văn; đồng thời qua
đó khẳng định những đóng góp đáng trân trọng của ông đối với sự
vận động và phát triển của trào lưu văn học hiện thực phê phán nói
riêng, của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung một cách cụ thể
và đầy đủ hơn.
3
1.4. Hiện nay, một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyên Hồng đã
được đưa vào trong chương trình giáo dục ở bậc phổ thông và đại
học. Nếu đề tài này được thực hiện thành công, đây sẽ là cuốn tài liệu
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát một số tác phẩm
tiêu biểu của các tác giả cùng khuynh hướng, cùng thời với ông để so
sánh, đối chiếu nhằm chỉ ra những nét riêng, nét độc đáo trong Thế
giới nghệ thuật của Nguyên Hồng.
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Như đã biết, Thế giới nghệ thuật bao gồm nhiều phương diện
như: đề tài, chủ đề, nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, thời
gian, không gian nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật Tuy nhiên,
trong khuôn khổ luận án của mình, chúng tôi xác định phạm vi
nghiên cứu cụ thể là đi sâu vào nghiên cứu một số phương diện cơ
bản của Thế giới nghệ thuật như: thế giới nhân vật và nghệ thuật xây
dựng nhân vật, thời gian, không gian nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ
thuật trong các sáng tác của nhà văn Nguyên Hồng giai đoạn trước
Cách mạng tháng Tám năm 1945 - vì đây là giai đoạn sáng tác nhiều,
tiêu biểu và thành công nhất của Nguyên Hồng. Còn một số phương
diện khác như: đề tài, chủ đề, lời văn nghệ thuật, giọng điệu nghệ
thuật cũng đã được một số tác giả đề cập đến khá rõ trong các
chuyên luận và bài báo của mình, nên chúng tôi không chủ trương đi
sâu vào nghiên cứu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau: Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp
thống kê, phân loại; Phương pháp so sánh, đối chiếu; và có vận dụng
lý thuyết về thi pháp học để phục vụ trong quá trình nghiên cứu.
6. Dự kiến đóng góp mới của đề tài
6.1. Đây là công trình chuyên biệt đầu tiên nghiên cứu một
cách khá toàn diện và hệ thống về Thế giới nghệ thuật trong sáng
tác của Nguyên Hồng thời kỳ trước 1945. Luận án đi sâu vào khảo
5
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tình hình nghiên cứu chung về Nguyên Hồng
Gần ¾ thế kỷ trôi qua kể từ khi cuốn tiểu thuyết Bỉ vỏ của
Nguyên Hồng ra đời và được nhận Giải thưởng của Tự lực văn đoàn
(1937), đã có rất nhiều bài viết, những công trình nghiên cứu về cuộc
đời và sự nghiệp của nhà văn. Cho đến nay, việc nghiên cứu về
Nguyên Hồng cũng vẫn đang được tiếp tục và đã đạt được nhiều
thành tựu đáng trân trọng. Đã có trên 50 công trình, bài viết nghiên
cứu về Nguyên Hồng, có nhiều cuộc Hội thảo lớn, nhỏ về cuộc đời
và sự nghiệp của nhà văn, có hàng chục luận văn, luận án nghiên cứu
về tác giả. Khi ông qua đời, đã có hơn 20 bài viết về những Hồi ức và
kỷ niệm về nhà văn. Tất cả những điều đó chứng tỏ: sức sống của tác
phẩm Nguyên Hồng rất bền vững trong lòng người đọc nhiều thế hệ
và theo thời gian những giá trị đặc biệt của nó ngày càng được phát
hiện, được khẳng định một cách trân trọng.
Theo khảo sát của chúng tôi, trong khoảng hơn 50 công trình,
bài viết nghiên cứu chung về Nguyên Hồng, có khoảng 20 bài nghiên
cứu có liên quan trực tiếp đến phương diện Thế giới nghệ thuật của
nhà văn, ví dụ như: Lời văn nghệ thuật, phong cách nghệ thuật, cảm
quan tôn giáo trong sáng tác của Nguyên Hồng Tuy nhiên, cũng
theo khảo sát, chúng tôi nhận thấy: những nhà nghiên cứu mới chỉ
dừng lại ở những nhận định chung nhất, hoặc đi sâu vào một số
phương diện như: nhân vật, ngôn ngữ nghệ thuật, phong cách nghệ
thuật mà chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu toàn
diện, hệ thống về Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng trước 1945.
Vì thế, việc nghiên cứu Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng thời kỳ
trước năm 1945 là rất cần thiết.
7
8
trở nên quyết liệt hơn. Phong trào cách mạng, đặc biệt từ khi Đảng
cộng sản Đông Dương ra đời ngày càng phát triển mạnh mẽ. Từ
cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, văn hóa Việt Nam nói chung, văn học
nói riêng dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của nền văn hóa, văn học
phong kiến Trung Hoa, bắt đầu tiếp xúc và ảnh hưởng của văn hóa,
văn học phương Tây, đặc biệt là văn hóa, văn học Pháp. Những tư
tưởng tiến bộ hiện đại được tiếp nhận vào Việt Nam đã làm thay đổi
nhận thức của nhiều tầng lớp nhân dân, đặc biệt là lớp thanh niên trí
thức. Đặc biệt, khi cuốn Đề cương về Văn hóa Việt Nam (1943) ra đời
đã giúp nhiều văn nghệ sĩ tìm được con đường đi đúng đắn cho mình
(trong đó có nhà văn Nguyên Hồng), giúp họ thoát ra khỏi tình trạng
bế tắc về tư tưởng và hướng đi. Chính vì thế, nhiều sáng tác của
Nguyên Hồng vượt qua phạm trù phản ánh của khuynh hướng văn học
hiện thực phê phán, tiếp cận với cách phản ánh hiện thực của khuynh
hướng văn học cách mạng.
2.2.2. Hoàn cảnh gia đình, môi trường sống và hoạt động văn
học của Nguyên Hồng
Nguyên Hồng tên thật là Nguyễn Nguyên Hồng, sinh 05
tháng 11 năm 1918 tại Nam Định. Sinh trưởng trong một gia đình
theo đạo Thiên chúa đã có một thời khá giả, nhưng đến khi
Nguyên Hồng ra đời thì cảnh nhà dần sa sút, khó khăn. Năm 12
tuổi, bé Hồng bị mồ côi cha, mẹ đi bước nữa và phải đi làm ăn xa,
nên sống chủ yếu với bà nội. Vì vậy, Nguyên Hồng luôn khát khao
tình thương, đặc biệt là tình mẫu tử và hơi ấm gia đình. Đến năm
16 tuổi, Nguyên Hồng theo mẹ và chú dượng ra Hải Phòng để
kiếm sống trong xóm chợ nghèo, sống va chạm với đủ hạng người
trong xã hội. Cả cuộc đời Nguyên Hồng gắn bó với mảnh đất Hải
Phòng cần lao. Điều đó đã giúp nhà văn am hiểu một cách sâu sắc
thân trong cuộc sống của những người lao động nghèo khổ dưới đáy xã
hội - đã trở thành những yếu tố, những điều kiện quan trọng đưa
Nguyên Hồng đến với văn chương, đã tạo nên một NHÀ VĂN
NGUYÊN HỒNG. Đó là nhà văn của những người khốn khổ, nhà văn
của lòng nhân đạo - một trong những tên tuổi lớn của trào lưu văn học
hiện thực phê phán thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 nói
riêng, của nền văn học Việt Nam hiện đại nói chung.
10
Chƣơng 3
THẾ GIỚI NHÂN VẬT
3.1. Một thế giới nhân vật phong phú, phức tạp thuộc tầng lớp thị
dân và lao động nghèo khổ dƣới đáy xã hội
3.1.1. Những người phụ nữ nghèo khổ, bất hạnh, cùng đường, nổi loạn
Theo thống kê của chúng tôi thì trong hơn 60 sáng tác của nhà
văn trước Cách mạng đã có tới 38 truyện viết về đề tài phụ nữ
(chiếm tỷ lệ 62,2%). Những nhân vật phụ nữ này có hai đặc điểm
nổi bật: Thứ nhất, họ là những con người đau khổ, bất hạnh, có một
cuộc sống cơ cực, bị đánh đập, chà đạp nhưng nhẫn nhục, cam chịu
và bất hạnh vì không có hạnh phúc gia đình (kiểu nhân vật này được
thể hiện ở 25/38 sáng tác). Đó là những người phụ nữ vất vả, tảo tần
kiếm sống (như nhân vật: Mũn (Đây, bóng tối), Vịnh (Hàng cơm
đêm)…; là những người phụ nữ bị chà đạp - trở nên nhẫn nhục cam
chịu (như các nhân vật mụ Mão (Người mẹ không con),nhân vật
người vợ lão Đen (Bố con lão Đen)…, hay đó còn là những người
phụ nữ không có hạnh phúc gia đình, không được hưởng hạnh phúc
làm mẹ (như các nhân vật: bà mẹ của bé Hồng (Những ngày thơ ấu),
mợ Du (Mợ Du)… Thứ hai, họ là những người phụ nữ bất hạnh,
nghèo khổ bị xã hội dồn đẩy vào tận chân tường, cùng đường, bế tắc
nên đã có những phản ứng cực đoan, nổi loạn trở thành những kẻ
hình như trong những nhân vật trẻ em này ít nhiều đều mang bóng
dáng của tác giả thời thơ ấu); Đặc điểm nổi bật thứ hai: Đó là những
nhân vật trẻ em bị cuộc sống nghèo đói đẩy vào con đường lưu manh
hóa (ví dụ như các nhân vật: Điều, Tý Sáu (Con chó vàng), Hiếu,
Minh, Sẹo (Bỉ vỏ) Tuy nhiên, những nhân vật trẻ em này dù rơi vào
hoàn cảnh bất hạnh như thế nào, thì trong sâu thẳm chúng vẫn là
những đứa trẻ nhân hậu, giàu tình tương thân, tương ái, khao khát
được sống trong tình mẫu tử, khao khát một cuộc sống gia đình tốt
đẹp, trong một xã hội giàu tình thương. Đó cũng là điểm mạnh riêng,
điểm tiến bộ của Nguyên Hồng - một nhà văn hiện thực giàu lòng
yêu thương những con người cùng khổ.
3.1.3. Những người trí thức tiểu tư sản nghèo, giàu hoài bão
nhưng bất lực và bế tắc trước cuộc sống
Trong những sáng tác của Nguyên Hồng thời kỳ trước Cách
mạng, chúng tôi nhận thấy kiểu nhân vật này xuất hiện tuy có phần ít
12
hơn so với loại nhân vật người phụ nữ và trẻ em (chiếm 24,5%),
nhưng sự phản ánh và sức khái quát của nó thì cũng không kém phần
sâu sắc. Nhân vật người trí thức của Nguyên Hồng thường là những
con người có tài, tâm huyết với nghề nghiệp nhưng họ đều phải đối
mặt với cuộc sống nghèo nàn, tù túng… nên thường dẫn đến những
bi kịch đau lòng, đó là nhân vật Hưng (Miếng bánh), Sinh (Hơi thở
tàn) Qua ngòi bút Nguyên Hồng, chân dung của họ hiện lên chân
thực và sinh động. Điểm khác biệt ở nhân vật trí thức của Nguyên
Hồng (so với các nhà văn cùng khuynh hướng lãng mạn và hiện thực
đương thời) là: họ đã cảm nhận được cái tất yếu phải thay đổi xã hội
một cách rõ rệt và mạnh mẽ. Và những nhân vật này đã có sự chuyển
biến tích cực về mặt tư tưởng: từ chỗ cảm nhận, thấm thía sự gần gũi,
gắn bó của mình với nhân dân lao động nghèo khổ (Lớp học lẩn lút)
Tóm lại, thế giới nhân vật trong sáng tác của Nguyên Hồng
trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 là một thế giới nhân vật
phong phú, phức tạp và sinh động - thế giới của những con người lao
động thuộc tầng lớp thị dân, những con người lao động nghèo khổ
dưới đáy xã hội Tính hiện thực sâu sắc, tính nhân đạo cao cả
trong tác phẩm của Nguyên Hồng luôn được toát ra từ chính hệ
thống nhân vật này của ông.
3.2. Một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu xây dựng nhân vật
3.2.1. Nghệ thuật tạo dựng hoàn cảnh và tình huống
Để có thể có được những nhân vật chân thực, sống động với
những tính cách phong phú, phức tạp, điển hình cho thế giới của
những con người lao động nghèo khổ dưới đáy xã hội, nhà văn
Nguyên Hồng luôn ý thức tạo dựng một hoàn cảnh, một môi trường
sống với những tình huống đặc biệt. Cụ thể ở đây là hoàn cảnh sống
cơ cực, lầm than của những người lao động nghèo trước năm 1945,
hoàn cảnh ấy đã nảy sinh ra những kiểu nhân vật đặc biệt mang dấu
ấn Nguyên Hồng. Hoàn cảnh sống tăm tối, đói khổ, cùng quẫn kéo
dài đã góp phần tạo nên kiểu nhân vật chịu đựng, nhẫn nại, như nhân
vật mụ Mão (Người mẹ không con), bà mẹ Thưởng (Hai mẹ con)…
Và cũng chính hoàn cảnh sống khốn khổ, bế tắc đã góp phần tạo nên
kiểu nhân vật tha hóa, lưu manh, trộm cướp như các nhân vật: Thiết
Giản (Mối hờn), Năm Sài Gòn, Tám Bính (Bỉ vỏ)… Các nhân vật của
nhà văn luôn được đặt vào tình huống cực độ, khó khăn chồng chất
khó khăn, bất hạnh chồng chất bất hạnh với những thử thách nghiệt
ngã. Qua những tình huống, những thử thách ấy, nhà văn muốn khẳng
14
định và ca ngợi bản chất tốt đẹp của người lao động: càng trong hoàn
cảnh ngặt nghèo, càng gặp những thử thách éo le thì tâm hồn họ càng
ngời sáng, thánh thiện và đặc biệt là ở họ luôn có một niềm tin về
15
tự giãi bày những cảm xúc, tình cảm trong lòng mình một cách thành
thật nhất. Độc thoại nội tâm trong sáng tác của Nguyên Hồng còn
được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: nhật ký, ghi chép
sổ tay (Những ngày thơ ấu, Cuộc sống, Hơi thở tàn, Bỉ vỏ ) hoặc ở
những dạng nhân vật tự đối thoại ngầm (Miếng bánh, Bỉ vỏ, Những
ngày thơ ấu ), hoặc ở lời nửa trực tiếp, nghĩa là về thực chất là tiếng
nói của người kể chuyện, nhưng thể hiện suy nghĩ của nhân
vật.Trong nhiều tác phẩm của mình, Nguyên Hồng đã miêu tả thiên
nhiên như một phương tiện hữu hiệu để thể hiện nội tâm nhân vật.
Bức tranh thiên nhiên qua ngòi bút của nhà văn đã trở thành bức
tranh tâm trạng, giữa thiên nhiên và con người luôn có sự đồng điệu
về tâm trạng, cảm xúc.
Tóm lại, bằng nhiều thủ pháp và bút pháp nghệ thuật, Nguyên
Hồng đã khám phá ra thế giới nội tâm phong phú của con người. Chính
vì vậy, ông đã tạo dựng nên được cả một hệ thống các nhân vật là
những người lao động nghèo khổ, nhưng mỗi nhân vật có một bộ mặt
riêng, một tính cách riêng và để lại ấn tượng riêng cho người đọc. Đó
chính là bằng chứng cho sự thành công của Nguyên Hồng về nghệ
thuật xây dựng nhân vật trong các tác phẩm của mình.
Chƣơng 4
THỜI GIAN, KHÔNG GIAN VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT
4.1. Thời gian nghệ thuật
4.1.1. Thời gian gắn liền với những sự kiện và biến cố dữ dội của
cuộc đời nhân vật
Thời gian nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng giai đoạn
trước năm 1945 luôn gắn với những sự kiện và biến cố dữ dội của
cuộc đời nhân vật. Nhà văn luôn có ý thức miêu tả sự tác động mạnh
mẽ của những biến cố, những bước ngoặt trong đời sống đối với nhân
vật qua thời gian cụ thể, nhằm nhấn mạnh đến sự thay đổi nhanh
gian quá khứ, ký ức về tôi dạy học kiếm sống một cách lẩn lút đã để
lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhân vật. Bản thân tiểu thuyết tự
truyện Những ngày thơ ấu đã là thời gian của những hoài niệm, của
ký ức nhân vật chú bé Hồng. Đây là kiểu thời gian hồi tưởng kết hợp
với thời gian đồng tuyến một chiều diễn ra theo số phận nhân vật,
17
giống như một cuộn băng ghi hình chân dung một cậu bé không có
tuổi thơ, sống cô đơn, đau khổ, thiếu thốn cả về vật chất lẫn tinh thần.
Tóm lại, trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, Nguyên Hồng hay
sử dụng thời gian của con người cá nhân qua sự hồi tưởng đan xen giữa
quá khứ, hiện tại và tương lai để miêu tả những sự kiện có ảnh hưởng
sâu sắc đến cuộc đời các nhân vật. Vì vậy, nhân vật của ông hiện lên
chân thực với những nét tính cách vô cùng phong phú, phức tạp như
vốn có trong cuộc đời - và đây cũng là một trong những thủ pháp nghệ
thuật độc đáo để nhà văn xây dựng thành công các nhân vật của mình.
4.2. Không gian nghệ thuật
4.2.1. Không gian xã hội đen tối, nhức nhối, chứa đựng đầy bất
công và tội lỗi
Nhìn một cách tổng thể, không gian bao trùm đời sống trong các
tác phẩm của Nguyên Hồng là một không gian đen tối, chứa đầy bất
công, tội lỗi. Không gian ấy ngày một ngột ngạt hơn, căng thẳng hơn,
gắn với những xung đột xã hội rõ rệt hơn. Bằng sự phản ánh cụ thể,
chân thực, nhiều tác phẩm của Nguyên Hồng đã tái hiện một không
gian u ám nặng nề - không gian của sự chết chóc, chất chứa đầy
sự đau đớn, phẫn uất. Không gian này trải rộng từ thành thị đến
nông thôn. Nơi thị thành (mà tiêu biểu là thành phố Hải Phòng) hứa
hẹn một cuộc sống phồn hoa, thì thực tế chỉ là những khu ổ chuột hôi
thối, người và người chen chúc nhau sống trong những căn nhà lụp
xụp, thiếu không khí và lúc nào cũng cắn rứt nhau vì cuộc sống cùng
và sự cảm thông sâu sắc trong lòng người đọc.
4.2.3. Không gian mang sắc thái tôn giáo - trầm, buồn ảm đạm
Ngay từ thở ấu thơ, không gian tôn giáo đã in dấu trong đời
sống của Nguyên Hồng. Sự mộ đạo của người bà, sự nhẫn nhịn của
người mẹ và không gian tôn giáo ở quê hương đã thấm sâu trong
tâm trí nhà văn. Cảm quan tôn giáo đã ảnh hưởng đến Nguyên Hồng,
nhất là tư tưởng nhân từ bác ác, tư tưởng chịu nạn của đạo Cơ đốc.
Qua nhiều tác phẩm của ông, ta thấy thường trở đi, trở lại hình ảnh
của một xóm đạo nghèo với hình ảnh nhà thờ: những tầng gác cửa
xám lạnh ngắt, những nóc nhà đem xạm, những đỉnh gác chuông im
lìm, nhạt nhòa trong những chiều sâu thẳm, những bức ảnh chúa Jêsu
chịu nạn máu nhỏ ròng ròng từ chỗ đóng đinh Không gian mang
19
sắc thái tôn giáo trầm buồn và ảm đạm ấy đã gợi lên cuộc sống thê
thảm, đen tối vì sự bất công vô nhân đạo trong xã hội. Đồng thời
không gian mang sắc thái tôn giáo đó còn gợi cho con người ta
hướng đến sự lương thiện, sự hồi tâm, sự cứu rỗi linh hồn - nhất là ở
trong những hoàn cảnh tối tăm, ngặt nghèo, đớn đau nhất.
4.3. Ngôn ngữ nghệ thuật
4.3.1. Ngôn ngữ đầy ắp chất liệu cuộc sống cần lao, phù hợp với
tâm lý, tính cách của từng kiểu nhân vật
4.3.1.1. Ngôn ngữ đầy ắp chất liệu cuộc sống với vốn từ vựng
phong phú. Ngôn ngữ được sử dụng trong văn Nguyên Hồng là thứ
ngôn ngữ gắn bó sâu sắc, máu thịt với ngôn ngữ đời sống, được chắt ra
từ những cuộc đời cần lao đau khổ. Với vốn từ vựng vô cùng phong
phú, những từ ngữ giản dị, gần với lời ăn tiếng nói của tầng lớp lao
động nghèo dưới đáy xã hội, những từ ngữ gắn với công việc lam lũ,
cực nhọc; những từ ngữ của những người thuộc các thành phần phức
tạp (giang hồ, trộm cướp…), và cả thứ ngôn ngữ mang dấu ấn của
dùng của những người theo đạo Cơ đốc. Có lẽ với lớp từ ngữ này đã
khiến cho tác phẩm của Nguyên Hồng ít nhiều mang sắc thái tôn
giáo, thể hiện tinh thần xả thân, độ lượng, thương đến cả những kẻ
ác của đạo Cơ đốc. Nhờ việc sử dụng lớp từ ngữ này mà Nguyên
Hồng đã mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực, giúp người đọc hiểu
biết hơn về đời sống của những người theo đạo Thiên Chúa lúc bấy
giờ sau tấm màn tôn giáo huyền bí. Đây cũng là sự khác biệt trong
ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyên Hồng so với ngôn ngữ của một số
những tác giả cùng khuynh hướng và cùng thời với ông.
KẾT LUẬN
1. Là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của Việt Nam
giai đoạn đầu thế kỉ XX đến năm 1945 và cũng là một trong những
tác gia lớn của văn chương Việt Nam hiện đại, Nguyên Hồng đã
khẳng định được vị trí của mình trong đời sống văn học nước nhà
ngay từ những tác phẩm đầu tiên khi tuổi đời còn rất trẻ. Với một tuổi
thơ dữ dội, đầy đau đớn và bất hạnh; với một trái tim đặc biệt nhạy
cảm với nỗi đau của những người lao động nghèo khổ; với một vốn
sống giàu có, phong phú về đời sống của lớp người nghèo dưới chế
độ thực dân phong kiến, và với một tấm lòng thấm đẫm yêu thương
và giàu lòng trắc ẩn - Nguyên Hồng đã để lại cho chúng ta một sự
nghiệp văn chương đầy giá trị hiện thực và nhân đạo.
21
2. Một trong những yếu tố quan trọng tạo nên những giá trị lớn
lao đó trong các tác phẩm của Nguyên Hồng chính là Thế giới nghệ
thuật đặc sắc của ông. Trong Thế giới nghệ thuật, các phương diện:
từ hệ thống nhân vật đến không gian, thời gian nghệ thuật, ngôn ngữ
nghệ thuật đều mang đậm cá tính sáng tạo và tư tưởng nghệ thuật
của nhà văn.
Thế giới nhân vật của Nguyên Hồng thật phong phú và phức
22
nhân vật, Nguyên Hồng thường hay sử dụng kiểu thời gian hồi tưởng
đan xen giữa quá khứ, hiện tại và tương lai để miêu tả những sự kiện
có ảnh hưởng sâu sắc đến số phận và cuộc đời các nhân vật. Thời
gian được nhấn mạnh là thời gian ban đêm với nhịp điệu chậm chạp,
với sự vận động nặng nề chứa chất bao hiểm họa đau đớn… gợi lên
sự ám ảnh về những kiếp người khổ ải sống trong đêm trường nô lệ
đen tối, đầy rẫy những bất công, tội lỗi dưới chế độ thực dân phong
kiến. Thời gian đôi khi cũng được đẩy lên, có nhịp độ nhanh, khẩn
trương, chứa đầy kịch tính… trong một số thời điểm nhất định, gắn
liền với những sự kiện đáng nhớ của nhân vật, thời gian ấy có tác
dụng khắc họa tính cách quyết liệt của nhân vật cũng như khắc họa
không khí khẩn trương của sự kiện.
Không gian nghệ thuật trong sáng tác của nhà văn là không gian
xã hội đen tối, nhức nhối, chứa đựng đầy bất công và tội lỗi, bủa vây,
dồn dẩy con người vào tận cùng của đói khát, bệnh tật và vào con
đường tội lỗi; không gian gia đình buồn đau và tan tác chứa đầy bi
kịch, mà ở trong đó con người luôn phải chịu đựng mọi sự thiếu thốn,
khổ sở vì mưu sinh, luôn phải chịu hậu quả của những hủ tục phong
kiến nặng nề trói buộc; không gian mang sắc thái tôn giáo trầm,
buồn và ảm đạm như càng khắc sâu thêm bi kịch tuyệt vọng của con
người mà cuộc sống của họ chỉ còn cách cầu nguyện Chúa - để mong
Chúa “phá được sự dữ, ban được sự lành” cho họ, cứu vớt họ -
nhưng “Chúa lòng lành nhân từ” đâu có cứu được các con chiên
ngoan đạo trong khi xã hội ấy còn đầy những tội ác, bất công!
4. Nét đặc trưng về Ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyên Hồng
cũng có sự khác biệt so với các nhà văn khác. Nếu như ngôn ngữ của
Nam Cao là thứ ngôn ngữ lạnh lùng, sắc sảo đầy tính triết lý; ngôn
ngữ của Nguyễn Công Hoan là thứ ngôn ngữ hóm hỉnh, trào phúng
sâu cay… thì ngôn ngữ của Nguyên Hồng lại mang đậm cá tính sáng