BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐÀO THỊ LÝ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT CỦA NGUYÊN HỒNG
THỜI KỲ TRƢỚC NĂM 1945
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM THÁI NGUYÊN - 2015
THÁI NGUYÊN - 2015
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận án Đào Thị Lý ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các cán bộ Khoa Ngữ văn,
Phòng Quản lý và Đào tạo Sau đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư
phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn GS.TS. Trần Đăng Xuyền, PGS. TS
Trần Thị Việt Trung - những người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ rất
nhiều để tôi có thể hoàn thành luận án này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã
động viên, khuyến khích, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu.
Tác giả luận án
2.2.2. Hoàn cảnh gia đình, môi trƣờng sống và hoạt động văn học của Nguyên Hồng 42
2.2.3. Cá tính Nguyên Hồng 49
iv
Chƣơng 3. THẾ GIỚI NHÂN VẬT 53
3.1. Một thế giới nhân vật phong phú, phức tạp thuộc tầng lớp thị dân và lao
động dƣới đáy xã hội 53
3.1.1. Những ngƣời phụ nữ nghèo khổ, bất hạnh, cùng đƣờng, nổi loạn 55
3.1.2. Những đứa trẻ nghèo dƣới đáy xã hội, “không có tuổi thơ” 65
3.1.3. Những ngƣời trí thức tiểu tƣ sản nghèo, giàu hoài bão nhƣng bất lực và
bế tắc trƣớc cuộc sống 71
3.1.4. Những nhân vật con ngƣời tha hoá 77
3.2. Một số thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu xây dựng nhân vật 83
3.2.1. Nghệ thuật tạo dựng hoàn cảnh và tình huống 83
3.2.2. Nghệ thuật miêu tả ngoại hình để khắc họa tâm trạng và tính cách nhân vật 91
3.2.3. Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật qua độc thoại nội tâm 95
Chƣơng 4. THỜI GIAN, KHÔNG GIAN VÀ NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT 100
4.1. Thời gian nghệ thuật 100
4.1.1. Thời gian gắn liền với những sự kiện và biến cố dữ dội của cuộc đời
nhân vật 100
4.1.2. Thời gian của con ngƣời cá nhân, của sự hồi tƣởng đan xen giữa quá
khứ, hiện tại và tƣơng lai 106
4.2. Không gian nghệ thuật 109
4.2.1. Không gian xã hội đen tối, nhức nhối, chứa đựng đầy bất công và tội lỗi 109
4.2.2. Không gian gia đình chứa đầy bi kịch buồn đau, tan tác 113
4.2.3. Không gian mang sắc thái tôn giáo - trầm, buồn ảm đạm 115
4.3. Ngôn ngữ nghệ thuật 124
4.3.1. Ngôn ngữ đầy ắp chất liệu cuộc sống cần lao, phù hợp với tâm lý, tính
cách của từng kiểu nhân vật 125
4.3.2. Ngôn ngữ mang sắc thái tôn giáo 142
những ngƣời lao động nghèo khổ và quá trình đổi đời nhờ Đảng, nhờ Cách mạng
của họ. Khi viết về vấn đề này, Nguyên Hồng đã thể hiện đƣợc cái nhìn hiện thực
sâu sắc và tấm lòng nhân đạo thiết tha của nhà văn đối với những con ngƣời lao
động. Vì vậy, khi đặt vấn đề nghiên cứu: Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng
thời kỳ trƣớc năm 1945 cũng có nghĩa là đã đi vào nghiên cứu về những đặc
điểm nổi bật trong nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm, khẳng định giá trị
hiện thực sâu sắc và giá trị nhân đạo cao cả trong sáng tác của nhà văn hiện thực
xuất sắc này trong một giai đoạn sáng tác cụ thể của ông. 2
1.3. Theo khảo sát của chúng tôi, cho tới nay đã có khoảng hơn 50 công trình
viết về Nguyên Hồng và riêng việc nghiên cứu về Thế giới nghệ thuật của ông đã
có trên 20 bài (đề cập đến nhiều khía cạnh, ví dụ nhƣ: Chủ đề, đề tài sáng tác, cảm
hứng sáng tạo, chủ nghĩa nhân đạo, cảm quan tôn giáo, lời văn nghệ thuật, trong
sáng tác của nhà văn). Trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã chú ý
đề cập đến giai đoạn sáng tác trƣớc Cách mạng tháng 8/1945 của Nguyên Hồng,
trong đó đã có sự khảo sát, đề cập đến một số phƣơng diện trong Thế giới nghệ
thuật của ông nhƣ: đề tài, chủ đề nhân vật, không gian và thời gian, lời văn nghệ
thuật nhƣng chúng tôi nhận thấy rằng, phần lớn đây là những nhận xét, nhận định
mang tính khái quát; hoặc đó có thể là những khảo sát, phân tích khá cụ thể ở một
số phƣơng diện trong Thế giới nghệ thuật chứ chƣa phải toàn bộ Thế giới nghệ
thuật của Nguyên Hồng. Do đó, vẫn rất cần phải có một công trình chuyên biệt
nghiên cứu một cách khá hệ thống và toàn diện về Thế giới nghệ thuật của nhà
văn Nguyên Hồng. Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi muốn góp phần
nhìn nhận một cách tƣơng đối toàn diện, hệ thống về Thế giới nghệ thuật của
Nguyên Hồng trong một giai đoạn sáng tác cụ thể - giai đoạn trƣớc Cách mạng
tháng Tám năm 1945, để chỉ ra những đặc điểm riêng, những sáng tạo riêng trong
Thế giới nghệ thuật của nhà văn; đồng thời qua đó khẳng định những đóng góp
đáng trân trọng của ông đối với sự vận động và phát triển của trào lƣu văn học hiện
trình sáng tác của nhà văn sau cách mạng.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành khảo sát một số tác phẩm tiêu biểu của
các tác giả cùng khuynh hƣớng, cùng thời với ông để so sánh, đối chiếu nhằm chỉ
ra những nét riêng, nét độc đáo trong Thế giới nghệ thuật của Nguyên Hồng.
4. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Nhƣ đã biết, Thế giới nghệ thuật bao gồm nhiều phƣơng diện nhƣ: đề tài, chủ
đề, nhân vật, nghệ thuật xây dựng nhân vật, thời gian, không gian nghệ thuật và
ngôn ngữ nghệ thuật Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận án của mình, chúng tôi
xác định phạm vi nghiên cứu cụ thể là đi sâu vào nghiên cứu một số phƣơng diện
cơ bản của Thế giới nghệ thuật nhƣ: thế giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân
vật, thời gian, không gian nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật trong các sáng tác
của nhà văn Nguyên Hồng giai đoạn trƣớc Cách mạng tháng Tám năm 1945 - vì
đây là giai đoạn sáng tác nhiều, tiêu biểu và thành công nhất của Nguyên Hồng.
Còn một số phƣơng diện khác nhƣ: đề tài, chủ đề, lời văn nghệ thuật, giọng điệu
nghệ thuật cũng đã đƣợc một số tác giả đề cập đến khá rõ trong các chuyên luận
và bài báo của mình, nên chúng tôi không chủ trƣơng đi sâu vào nghiên cứu. 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã sử dụng các phƣơng pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phân tích tác phẩm để tìm hiểu kỹ
những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên Hồng giai
đoạn trƣớc Cách mạng. Đó là cơ sở để có những nhận xét, đánh giá tổng hợp nhất
về Thế giới nghệ thuật của nhà văn.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Phƣơng pháp này đƣợc áp dụng trong
quá trình khảo sát các tác phẩm cụ thể của nhà văn, thống kê và phân loại từng
kiểu nhân vật, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật trong Thế giới nghệ
thuật của Nguyên Hồng.
riêng và văn xuôi Việt Nam thời kỳ hiện đại giai đoạn trƣớc Cách mạng tháng Tám
nói chung.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, kết cấu của luận án
bao gồm bốn chƣơng. Cụ thể nhƣ sau:
Chƣơng 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu.
Chƣơng 2. Khái niệm Thế giới nghệ thuật và những cơ sở hình thành nên Thế
giới nghệ thuật của Nguyên Hồng.
Chƣơng 3. Thế giới nhân vật.
Chƣơng 4. Thời gian, không gian và ngôn ngữ nghệ thuật. 6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu chung về Nguyên Hồng
Gần 3/4 thế kỷ trôi qua - kể từ khi cuốn tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng
ra đời và đƣợc nhận Giải thƣởng của Tự lực văn đoàn (1937) - đã có rất nhiều bài
viết, những công trình nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp, những đóng góp của
nhà văn. Cho đến nay, việc nghiên cứu về Nguyên Hồng cũng vẫn đang đƣợc tiếp
tục và đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng trân trọng. Điều đó chứng tỏ sức sống của
tác phẩm Nguyên Hồng rất bền vững trong lòng ngƣời đọc nhiều thế hệ, và theo
thời gian những giá trị đặc biệt của nó ngày càng đƣợc phát hiện, đƣợc khẳng định
một cách trân trọng.
Theo khảo sát của chúng tôi, đến nay đã có khoảng hơn 50 công trình
nghiên cứu chung về Nguyên Hồng, trong đó có khoảng 20 bài nghiên cứu có đề
cập đến phƣơng diện Thế giới nghệ thuật. Bên cạnh đó có hàng chục luận án, luận
văn khoa học nghiên cứu về sáng tác của ông. Đặc biệt khi ông qua đời, đã có hơn
20 bài viết về những Hồi ức và kỷ niệm về nhà văn, thể hiện tình cảm trân trọng tài
năng và nhân cách của Nguyên Hồng trong lòng bạn bè, đồng nghiệp và bạn đọc.
nghiêm khắc và khách quan về nghệ thuật của một cuốn tiểu thuyết đầu tay của
Nguyên Hồng.
Năm 1940, khi viết Lời tựa cho tập tiểu thuyết tự truyện Những ngày thơ
ấu, Thạch Lam đã nhận thấy khả năng thể hiện “những rung động cực điểm của
một linh hồn trẻ dại” của ngòi bút Nguyên Hồng… Tác giả của Gió lạnh đầu mùa
đã rất tinh tế khi nhận thấy những cảm xúc chân thành của một trái tim dễ xúc
động qua từng trang hồi ký đẫm nƣớc mắt của nhà văn hiện thực trẻ tuổi này.
Trong cuốn Nhà văn hiện đại, năm 1942, Vũ Ngọc Phan đã công phu giới
thiệu gƣơng mặt 78 nhà văn Việt Nam, trong đó có nhà văn Nguyên Hồng. Về
Nguyên Hồng, tác giả đã khẳng định sự thành công của nhà văn qua những sáng
tác đầu tay, nhất là cuốn Bỉ vỏ của ông. Vũ Ngọc Phan nhận xét: “truyện thật là
hay… cách viết có mạch lạc mà đi đến đoạn kết một cách tự nhiên”, đồng thời ông
cũng đƣa ra một nhận định khái quát khá chính xác về tƣ tƣởng nghệ thuật của
“nhà văn xã hội này”: “Ở tập văn nào của Nguyên Hồng cũng vậy, tư tưởng nhân
từ, bác ái của tác giả bao giờ cũng tràn lan và đó chính là cái phần cốt yếu của
nhà văn xã hội cầu mong ánh sáng” [116, tr. 48]. Nhƣ vậy, nhà phê bình Vũ Ngọc
Phan đã chỉ ra đƣợc cái cốt lõi, cái đặc trƣng và giá trị trong sáng tác của Nguyên
Hồng, đó là: Tƣ tƣởng nhân đạo và khát vọng có một xã hội công bằng tốt đẹp hơn,
nhất là đối với những ngƣời nghèo khổ. 8
Năm 1944, trong cuốn “Văn chương và xã hội” (Đại học Thƣ xã Hà Nội),
khi nghiên cứu một số tác phẩm của Nguyên Hồng thời kỳ trƣớc cách mạng nhƣ
“Bỉ vỏ”, “Bảy Hựu”, “Những ngày thơ ấu”, tác giả Lƣơng Đức Thiệp nhận xét:
đây là “cây bút linh động cho ta cảm thấy sâu xa lòng yêu thiết tha của chính tác
giả đối với các nhân vật trong truyện” [159, tr. 98]. Nhận xét này khẳng định thêm
tính nhân đạo của nhà văn Nguyên Hồng.
Qua một số ý kiến, nhận xét trên, chúng ta nhận thấy khá rõ một điểm: ngay
đƣơng thời, ngƣời ta cũng đã chỉ ra những mặt mạnh, những thành công của nhà
giả Nguyễn Hoành Khung; Những đề tài nghiên cứu về sáng tác của nhà văn
Nguyên Hồng của các tác giả: Lê Hồng My, Bạch Văn Hợp, Phạm Hồng Lan,
Nguyễn Duy Tờ, Lê Thị Hải Vân Qua các công trình nghiên cứu này, chúng tôi
thấy các vấn đề về tƣ tƣởng nghệ thuật, phong cách nghệ thuật, lời văn nghệ thuật,
cảm hứng sáng tạo,… trong sáng tác của Nguyên Hồng đã đƣợc đề cập đến ở
những mức độ khác nhau. Các ý kiến, nhận xét đều sâu sắc và tinh tế nhƣng phần
lớn là những nhận xét, nhận định có tính chất khái quát, hoặc nghiên cứu sâu một
phƣơng diện nào đó thuộc về nội dung hoặc nghệ thuật trong sáng tác của Nguyên
Hồng, cụ thể là một số ý kiến tiêu biểu nhƣ sau:
- Đánh giá sự đóng góp của Nguyên Hồng đối với sự vận động và phát triển
khuynh hƣớng văn học hiện thực phê phán Việt Nam trƣớc Cách mạng tháng Tám
năm 1945 nói riêng và đối với nền Văn học hiện đại Việt Nam nói chung trên
những phƣơng diện cụ thể. Tiêu biểu cho xu hƣớng đánh giá này là các công trình
nghiên cứu: “Nguyên Hồng” [Phan Cự Đệ -116], “Nguyên Hồng, con người và sự
nghiệp” [Nguyễn Đăng Mạnh -116], “Nguyên Hồng và quá trình sáng tác của
anh” [Chu Nga -116]
- Khẳng định chủ nghĩa nhân đạo thống thiết của Nguyên Hồng khi viết về
các nhân vật dƣới đáy xã hội thực dân phong kiến, đặc biệt là nhân vật ngƣời phụ
nữ và trẻ em. Xu hƣớng này đƣợc thể hiện trong các công trình nghiên cứu:
“Nguyên Hồng, con người và sự nghiệp” [Nguyễn Đăng Mạnh -116], “Một cuộc
đời sáng tạo trong đau khổ” [Vƣơng Trí Nhàn - 111], “Cảm hứng cần lao trong
sáng tác của Nguyên Hồng” [Phan Diễm Phƣơng -116]
- Chỉ ra đặc điểm phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng là “nhà văn của
niềm tin và ánh sáng”, “nhà văn của lòng thương cảm thống thiết”, “một ngòi bút
hiện thực giàu chất lãng mạn”… “Nguyên Hồng, nhà văn của những khát vọng
sống” [Hà Minh Đức - 116], “Phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng” [77],
“Nhà văn của tình thương” [1]
- Khẳng định mặt mạnh của Nguyên Hồng trong nghệ thuật xây dựng nhân vật,
cũng nhƣ trong nghệ thuật sử dụng ngôn từ, giọng điệu nhƣ bài viết: “Đặc sắc hồi ký
Nguyên Hồng” [Nguyễn Đăng Điệp -116], “Giọt lệ lớn và đoàn tàu chợ” [Linh Thi -
của con người, hướng về con người ” [116, tr. 229]. Vƣơng Trí Nhàn khẳng định
cuộc đời Nguyên Hồng là “Một cuộc đời sáng tạo trong đau khổ”, “Văn xuôi
Nguyên Hồng là một thứ sản phẩm giàu chất tự truyện”, đồng thời tác giả cũng
đánh giá Những ngày thơ ấu là tác phẩm đỉnh cao của Nguyên Hồng: “Khách
quan và tỉnh táo mà đánh giá, phải nhận toàn bộ cuộc đời và sáng tác của Nguyên
Hồng về sau không có cái nào vượt được Những ngày thơ ấu” [116, tr. 219]. Và
“Trước đau khổ, Nguyên Hồng thấy nên cam chịu, và tìm thấy lẽ sống, cảm hứng 11
sáng tạo của mình trong chính sự đau khổ” [116, tr. 220]. Đỗ Trung Thoại thấy ở
Nguyên Hồng là“một nhà văn lớn, một nhân cách lớn… chủ nghĩa nhân đạo là tư
tưởng chủ đạo trong hầu hết các tác phẩm của ông… Nguyên Hồng là nhà văn của
nhân dân lao động và ông thuộc về những người lao động” [119].
Trong giáo trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX, tập 2, tác giả Lê Hồng My,
Trần Đăng Suyền đã chỉ rõ quan điểm nghệ thuật của Nguyên Hồng là “Đề cao
vai trò của văn chương nghệ thuật, khẳng định ý nghĩa cao quý của nghề cầm bút”
[134, tr. 134] “Nhà văn, (người nghệ sĩ) phải trung thực, chân thành trên trang
viết: say mê, tin tưởng vào cuộc sống; phải cần cù học hỏi và không ngừng sáng
tạo” ”[134, tr. 135] “Nghệ thuật phải “bắt rễ” vào cuộc sống của người lao
động và hướng tới tương lai tốt đẹp. Bạn đọc quần chúng là “lẽ sống của ngòi bút”
[134, tr. 137]. Đây chính là quan điểm nghệ thuật nhất quán của Nguyên Hồng
trong sự nghiệp sáng tác của mình.
Đánh giá Nguyên Hồng ở một góc nhìn khác, GS.TS. Trần Đăng Suyền đã
phân tích một cách sâu sắc Sự gặp gỡ, giao thoa của những khuynh hướng, trào
lưu văn học trong sáng tác của Nguyên Hồng trƣớc cách mạng. Tác giả đã phân
tích và khẳng định: “Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 đã xuất hiện nhiều
khuynh hướng, nhiều trào lưu văn ọhc: Chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa hiện thực
và khuynh hướng văn học cách mạng; chúng vừa đấu tranh với nhau, vừa bổ sung
cho nhau để cùng phát triển. Sáng tác của Nguyên Hồng thể hiện quy luật vận
những trường ca, những thiên truyện ngắn lãng mạn chủ nghĩa của Mácxim
Goorki hay tiểu thuyết của Víchto Huygô, trong đó có sự đối lập giữa ánh sáng và
bóng tối, giữa bão táp và nắng vàng, giữa quỷ dữ và thiên thần…” [116, tr. 100]
và “Nguyên Hồng có thiên hướng xây dựng những tích cách phi thường, những
hình tượng kỳ dị, những tâm trạng được phóng đại, những tình huống dữ dội,
những quang cảnh rộng lớn, náo động đầy dông bão (…) phù hợp với một giọng
văn thống thiết của một tâm hồn nồng nhiệt muốn giãi bày trực tiếp trên những
trang sách ” [116, tr. 100,101]
Phan Cự Đệ là một trong những nhà nghiên cứu dành nhiều tâm huyết
nghiên cứu về Nguyên Hồng, ông đã tiếp cận sáng tác của nhà văn từ nhiều góc độ
khác nhau nhƣ: cảm hứng sáng tạo, chủ nghĩa nhân đạo, màu sắc trữ tình Về
phong cách nghệ thuật, tác giả khẳng định: "Cùng đứng trong chủ nghĩa hiện thực
phê phán nhưng Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ
Trọng Phụng mỗi người có một phong cách riêng. Phong cách nghệ thuật của
Nguyên Hồng cũng mang những màu sắc thẩm mỹ độc đáo” [116, tr. 112]. Nhà
nghiên cứu cũng chỉ ra yếu tố trữ tình lãng mạn nhƣ một đặc điểm phong cách
nghệ thuật của Nguyên Hồng: "Không phải lúc nào Nguyên Hồng cũng viết bằng
một bút pháp hiện thực tỉnh táo và nói chung, ít khi anh sử dụng một lối viết nặng
nề về trí tuệ. Ở anh, những yếu tố nội tâm, những tình cảm sôi nổi, dạt dào từ bên 13
trong đôi lúc cứ muốn lấn lướt, trùm lên cái hiện thực khách quan được miêu tả"
[116, tr. 121]. Khi giới thiệu quá trình sáng tác từ Bỉ vỏ đến Cửa biển, Phan Cự Đệ
cũng đã lý giải sự chuyển biến về tƣ tƣởng và nghệ thuật của Nguyên Hồng từ sau
Cách mạng tháng Tám gắn liền với quá trình nhận thức về cách mạng, đi theo cách
mạng của nhà văn. Tác giả khẳng định sự nhất quán trong phong cách nghệ thuật
của Nguyên Hồng, "Phong cách nghệ thuật của Nguyên Hồng giờ đây giàu có,
phong phú hơn trước nhưng nhìn chung vẫn là một phong cách hiện thực giàu chất
lãng mạn cách mạng và chất trữ tình say đắm" [116, tr. 142].
giả, bày tỏ lòng yêu quý, trân trọng, ngợi ca tài năng, phẩm chất nghệ sĩ và những
bài học đầy ý nghĩa đƣợc rút ra từ cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn hiện thực
xuất sắc Nguyên Hồng.
Gần đây nhất, tháng 11/2013, Hội Văn học nghệ thuật Hải Phòng đã tổ chức
Hội thảo “Nhà văn Nguyên Hồng - cuộc đời và sự nghiệp văn chương” (Nhân
Kỷ niệm 95 năm ngày sinh của nhà văn Nguyên Hồng, tại Hải Phòng). Trong
khuôn khổ của một Hội thảo, các ý kiến của GS. TS. Trần Đăng Suyền, PGS. TS.
Nguyễn Ngọc Thiện, TS. Lê Thị Bích Hồng, TS. Nguyễn Đức Thuận nhà thơ
Hữu Thỉnh, nhà văn Đình Kính, nhà văn Đỗ Nhật Minh, nhà văn Cao Năm, Lƣu
Văn Khuê, nhà sử học Lê Văn Lợi, nghệ sĩ nhiếp ảnh Hoàng Minh Đáng… đều thể
hiện sự ngƣỡng mộ, trân trọng tài năng và nhân cách Nguyên Hồng. Các ý kiến đều
đánh giá cao sự đóng góp của Nguyên Hồng đối với sự phát triển của nền văn
chƣơng Việt Nam hiện đại. Nhà thơ Hữu Thỉnh - Chủ tịch Hội Liên hiệp các Hội
Văn học nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã ghi nhận những
đóng góp của Nguyên Hồng, đó là: “Nguyên Hồng là một tác gia lớn, một tác giả sử
thi tầm cỡ nhất của văn chương Việt Nam hiện đại, một nhà văn thực sự xuất sắc
của thế kỷ XX” [119]. GS. TS. Trần Đăng Suyền đã khẳng định: “Nguyên Hồng là
nhà văn của chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc, thống thiết; sáng tác của ông làm phong
phú thêm chủ nghĩa nhân đạo của nền văn học dân tộc” [119]. Với một cái nhìn
tổng quan về Nguyên Hồng từ “một cái nhìn thế kỷ” - PGS.TS. Đoàn Trọng Huy
[119] đã có những đánh giá rất trân trọng và xác đáng về nhà văn: “Nguyên Hồng đã
sống với những sự kiện lớn lao của đất nước… với tư cách chứng nhân lịch sử, cũng
là người tham gia làm nên lịch sử, Nguyên Hồng đã sống và viết hết mình. Những
trang viết của nhà văn có sự mặn mòi của mồ hôi lao động, có cái nồng ấm của
nước mắt pha lẫn vẻ rạng rỡ của nụ cười. Tất cả những gì trên mặt giấy đều được
giãi bày tươi thắm bằng máu huyết tâm hồn” (Nguyên Hồng từ cái nhìn thế kỷ)
Tóm lại: Khi nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyên
Hồng, các nhà nghiên cứu phê bình đều đánh giá cao tài năng và nhân cách của
ông, khẳng định Nguyên Hồng là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của trào
hướng tả thực cùng với Vũ Trọng Phụng, Trọng Lang [51, tr. 466]. Cũng cùng
quan điểm này, Thế Phong khẳng định: “Nguyên Hồng là nhà văn xã hội hơn hết
theo đúng danh từ. Xã hội tính trong văn chương Nguyên Hồng là tả chân thực 16
sự” [123, tr. 77]. Giáo sƣ tiến sĩ khoa học N.I. Nikulin khi nghiên cứu Lịch sử văn
học Việt Nam, cho rằng “cuộc sống của tầng lớp dân nghèo thành thị cũng được
phản ánh trong những tác phẩm hiện thực”, và tác giả dẫn ra ví dụ tiêu biểu là
“tiểu thuyết Bỉ vỏ của Nguyên Hồng” [103, tr. 749].
Nhiều nhà nghiên cứu về Nguyên Hồng sau này nhƣ Nguyễn Đăng Mạnh,
Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức… cũng đều thống nhất cho rằng đề tài sáng tác mà
Nguyên Hồng hƣớng đến là cuộc sống của những ngƣời lao động nghèo khổ dƣới
đáy xã hội thực dân phong kiến. “Từ thế giới những người lao động cực khổ nhất
trong xã hội. Nguyên Hồng đã đến với nghề văn” [116, tr. 78]; “Mỗi nhà văn đều
có một nguồn suối tinh thần yêu thương của họ, Ngô Tất Tố tiếp thu được cái hơi
thở khỏe mạnh, hồn hậu, lạc quan của nông dân, còn Nguyên Hồng thì bắt rễ sâu
vào cuộc sống và những tình cảm tốt đẹp của những người dân nghèo, thợ thuyền
thành phố. Anh luôn luôn nói đến người lao động nghèo khổ với lòng biết ơn tình
nghĩa, với sự gắn bó trọn đời chung thủy” [116, tr. 106]…
Có thể thấy rằng: các ý kiến, nhận xét, đánh giá của các nhà nghiên cứu,
phê bình (trƣớc và sau cách mạng) đều đã chỉ rõ: Đề tài sáng tác trong tác phẩm
của Nguyên Hồng là cuộc sống của những con ngƣời khốn khổ trong xã hội
đƣơng thời, nhà văn đã rất thành công khi viết về đề tài này - và điều này là
hoàn toàn chính xác. Chính vì vậy, trong luận án của mình, chúng tôi sẽ không
đi sâu vào nghiên cứu phƣơng diện này mà sẽ tập trung vào một số phƣơng diện
khác trong Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiện thực Nguyên Hồng.
1.2.2. Về chủ đề sáng tác
Trong nhận xét của Giải thưởng Tự lực văn đoàn, năm 1937 (báo Ngày nay,
năm 1938), Thạch Lam đánh giá sự thành công cũng nhƣ hạn chế trong tiểu thuyết
của tính cách những con người lao động nghèo khổ” [116, tr. 379]. Đồng thời, tác
giả cũng cho rằng: Nguyên Hồng là “Nhà văn của thập loại chúng sinh” , “từ
trong lòng cái xã hội “thập loại chúng sinh” bước ra, cầm cây bút sắt chấm vào
mồ hôi, nước mắt và máu của mình mà viết ra văn chương riêng của mình” [116,
tr. 378]. Chúng ta thấy rằng: Nguyễn Minh Châu cũng nhƣ các nhà nghiên cứu,
phê bình trên đã nhấn mạnh đến đối tƣợng thẩm mỹ trong sáng tác của Nguyên
Hồng là những con ngƣời nghèo khổ trong xã hội cũ, đồng thời tác giả cũng khẳng
định niềm tin tƣởng vững chắc của Nguyên Hồng vào bản chất tốt đẹp của ngƣời
lao động - đó chính là chủ đề nổi bật, bao trùm trong toàn bộ sáng tác của nhà văn
hiện thực này.
1.2.3. Về nhân vật
Ngay từ trƣớc Cách mạng, Trƣơng Chính tuy có những nhận xét khắt khe
về cuốn tiểu thuyết Bỉ vỏ nhƣ: còn thiếu nghệ thuật, thiếu kinh nghiệm, nhƣng ông
cũng đƣa ra nhận định khách quan về cách xây dựng nhân vật của Nguyên Hồng: 18
"Tác giả dồn hết nạn này đến nạn khác trên đầu Bính cho đến khi cô bị bắt, ở tù,
mới chịu thôi”, đó là nhận xét về một trong những đặc điểm xây dựng nhân vật ở
Nguyên Hồng trong một cuốn tiểu thuyết cụ thể.
Tác giả Hà Minh Đức khi đánh giá tổng quát về Nguyên Hồng và quá trình
sáng tác của nhà văn - đã nhận định: “Nguyên Hồng, nhà văn của những khát vọng
sống”… “nhà văn của những xóm thợ”, “người đã đem vào trang sách muối mặn,
mồ hôi và đất bụi của cuộc đời” [116, tr. 13]. Đồng thời, tác giả nhấn mạnh đến
đặc điểm nhân vật của Nguyên Hồng “thế giới nhân vật của Nguyên Hồng bị vây
bọc trong sự nghèo khổ không có lối ra (…) nhưng bao giờ cũng nuôi khát vọng
sống chân chính của con người… Cũng dễ nhận ra người dân lao động trong tác
phẩm của Nguyên Hồng ở cuộc đời nghèo khổ, lòng nhân ái và những khát vọng
sống của họ” [116, tr. 17]… Ở đây, nhà nghiên cứu đã khẳng định lòng nhân ái, sự
lạc quan và sức sống bất diệt ở các nhân vật của Nguyên Hồng. Đồng thời tác giả
tác giả Nguyễn Đăng Mạnh cũng đã khái quát quá trình sáng tác trƣớc và sau
Cách mạng của Nguyên Hồng, đã chỉ ra những đặc điểm quan trọng trong sáng tác
của nhà văn. Đó là chủ nghĩa nhân đạo, là cảm hứng sáng tạo, là ba loại nhân vật
quen thuộc của nhà văn: “những người làm các nghề phu phen, tạp dịch nặng nề”
[tr. 82], “những người đàn bà dân nghèo thường kiếm ăn bằng việc buôn thúng
bán mẹt, hay bán hàng cơm, hàng nước”[tr. 83]; “những trẻ em nhà nghèo”
[tr. 86]; Ngoài ra còn có“loại nhân vật trẻ tuổi thuộc tầng lớp tiểu tư sản nghèo”
[tr. 86] và “những hạng người lưu manh côn đồ” [tr. 80]. Tuy nhiên, với một công
trình nghiên cứu tổng quan về “Nguyên Hồng, con ngƣời và sự nghiệp”, Nguyễn
Đăng Mạnh cũng mới chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu chung về các loại nhân vật
của Nguyên Hồng, mà chƣa chỉ ra đặc điểm cụ thể của từng loại nhân vật cũng nhƣ
chƣa đi sâu vào nghiên cứu nghệ thuật xây dựng từng loại nhân vật ấy.
Nhận xét về tính cách nhân vật của Nguyên Hồng, có ý kiến nhận định rằng
“Trong thế giới nhân vật của ông, ta thường bắt gặp những tính cách phi thường,
những con người thánh thiện nhuốm vẻ tôn giáo và màu sắc lãng mạn. Đó là những
con người khác thường với những nét tính cách được tô đậm, phóng đại, được đẩy
lên đến mức cực đoan. Tất cả đều mang một nét chung nào đó khiến người đọc nhận
ra đây chính là những nhân vật, những đứa con tinh thần của Nguyên Hồng” [131,
tr. 420]. Theo chúng tôi, đây chính là một nhận xét chính xác và tinh tế bởi tác giả
đã chỉ ra sự khác biệt về nhân vật của Nguyên Hồng so với nhân vật của các nhà văn
khác cùng thời với ông, kể cả nhà văn hiện thực phê phán.
Về nghệ thuật sáng tạo của Nguyên Hồng, PGS.TS. Đoàn Trọng Huy cũng
khẳng định “Nguyên Hồng có nhiều hứng khởi để sáng tạo, đổi mới trên lĩnh vực
văn xuôi. Nghệ thuật ngôn từ phát triển do đi sâu vào đời sống nhiều mặt phong
phú và hết sức sinh động”. Từ góc nhìn của một nhà đạo diễn sân khấu, nghệ sĩ ƣu