1
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Franz Kafka (1883 - 1924) là một trong những nhà văn lớn nhất thế
kỷ XX. Với Kafka, tiêu chí phản ánh hiện thực giống nh thật với toàn bộ
các hình thức của đối tợng (G.Lukacs) có từ quan niệm nghệ thuật là sự bắt
chớc hiện thực của Aristoste - một quan niệm chi phối t duy lý luận qua
nhiều thế kỷ đã chính thức phá sản. Cùng với nhiều nhà văn hiện đại khác
nh: M.Proust, J.Joyce Kafka là ngời khai tử cho tiểu thuyết bô lão kiểu
Banzắc và mở đầu cho một thời đại tiểu thuyết[32, tr.85]. Franz Kafka đã tạo
ra bớc đột phá lớn cho lịch sử văn học, góp phần đa văn chơng nhân loại
mở ra một ngã rẽ mới và đa văn học của chủ nghĩa hiện đại lên ngôi. Các
sáng tác của ông đã đem đến cho văn học thế kỷ XX những quan niệm mới về
con ngời và hiện thực, về đặc trng phản ánh nghệ thuật, mang đến phơng
thức t duy mới cho tiểu thuyết hiện đại, làm thay đổi không chỉ các yếu tố thi
pháp tiểu thuyết mà còn mở ra cho ngời đọc những khả năng mới trong việc
tiếp nhận văn bản văn học. Lựa chọn đề tài Thế giới nghệ thuật của Franz
Kafka, chúng tôi hy vọng có đợc cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về con
ngời, tài năng, t tởng nghệ thuật và những đóng góp của nhà văn hiện đại
xuất sắc này cho văn chơng nhân loại.
1.2. Sự nghiệp của bất kỳ nhà văn lớn nào cũng không tách rời thời đại
và những giá trị văn hoá, văn học của nó. Qua các sáng tác của Kafka, chúng
ta thấy rõ hơn về sự vợt lên những giới hạn của chủ nghĩa hiện thực thế kỷ
XIX khi nó chuyển từ chủ nghĩa hiện thực truyền thống đến chủ nghĩa hiện
đại. Khám phá thế giới nghệ thuật của Franz Kafka do đó là dịp để chúng tôi
nhìn nhận lại phần nào diện mạo của chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX, tiếp cận
với văn học chủ nghĩa hiện đại thế kỷ XX. Hơn nữa, trên hành trình chân lí
3
1966). Thực tế ấy đã chứng minh một cách thuyết phục tính có vấn đề trong
các tác phẩm của Kafka đối với ngời đọc. Do điều kiện thực tế cha cho
phép, chúng tôi mới chỉ tiếp cận đợc với những tài liệu đã đợc dịch qua
tiếng Việt. Dới đây, xin điểm lại một số ý kiến liên quan đến vấn đề của luận
văn.
Franz Kafka bớc vào văn đàn thế giới một cách âm thầm lặng lẽ với
vài truyện ngắn đợc in và không hề thu hút đợc sự quan tâm của các nhà
phê bình. Bởi theo ý muốn của nhà văn, cả trớc và sau khi ông qua đời, tác
phẩm của ông sẽ không công bố rộng rãi. Nhng ngay sau khi Kafka mất, các
tác phẩm của nhà văn đã đợc công bố hàng loạt. Không chỉ các nhà phê bình
phơng Tây mà cả các nhà phê bình mác xít cũng đánh giá ông rất cao. Báo
Quyền lợi đỏ của Đảng Cộng sản Tiệp Khắc đã viết về Kafka với những nhận
xét đầy trân trọng và xót thơng: Một trí tuệ tinh tế và trong sạch, từng ghê
tởm cái thế giới này và mổ xẻ nó bằng con dao không xót thơng của lẽ
phải trong những bài viết của mình, ông tấn công vào kẻ mạnh của thế giới
bằng phơng tiện trào phúng và bằng một hình thức chất chứa đầy hình ảnh
(dẫn theo Đặng Anh Đào)[61, tr.645]. Còn trên báo Nhân dân của Tiệp Khắc,
Milena Jesenka nhận xét: những cuốn sách của Kafka đã để lại một ấn tợng
về thế giới hoàn chỉnh đến nỗi ngời ta không thể thêm vào đó một chữ
nào[61, tr.645], và ông đã viết những cuốn sách có ý nghĩa nhất của nền văn
chơng Đức hiện đại, những cuốn sách cu mang trong nó sự chiến đấu của
thế hệ hôm nay xuyên suốt thế giới ( ). Chứng thực, trần trụi, và đau thơng
nên hết đỗi tự nhiên ngay cả khi có tính biểu tợng. Chúng đầy sự khô cằn và
là cảm quan của một ngời nhìn thế giới một cách rõ ràng đến không thể chịu
đựng đợc nó.[37, tr.1].
Đặc biệt, từ năm 1939, khi chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ và cũng
là khi thế giới bắt đầu giống nh thế giới Kafka, khi con ngời chỉ còn là
một con số trong các trại tập trung phát xít, khi thế giới phơng Tây đột nhiên
5
M.Melentinski trong Thi pháp của huyền thoại đã dành rất nhiều tâm
huyết cho việc nghiên cứu (chủ yếu là huyền thoại) sáng tác của Kafka. Với
cái nhìn thấu suốt về thế giới huyền thoại của Kafka trên nhiều phơng diện,
Melentinski cho rằng thế giới nghệ thuật của nhà văn là sự biến cải siêu
tởng thế giới đời thờng [51, tr.472].
Năm 1963, tại hội nghị Quốc tế về Kafka đợc tổ chức tại Lipbice
(Tiệp Khắc trớc đây) , Ernst Fischer nói đến tác phẩm của Kafka nh một
trờng hợp tiêu biểu nhất cho phơng pháp sáng tác hiện thực chủ nghĩa. Tất
nhiên, chủ nghĩa hiện thực đợc đề cập ở đây không còn mang ý nghĩa của
chủ nghĩa hiện thực cổ điển mà đã mang một ý nghĩa mới, một chủ nghĩa
hiện thực không bờ bến. Trong bài viết của mình, nhà lý luận marxit này đặc
biệt chú ý đến việc khảo sát các chi tiết trong các tác phẩm của Kafka và nhìn
thấy trong thế giới nghệ thuật của Franz Kafka tính chất tiêu cực, sự tha hoá
của con ngời; đồng thời khẳng định khả năng tái hiện hiện thực của nhà văn
bằng tiếng nói nghệ thuật độc đáo có một không hai. Trên cơ sở nghiên cứu
sáng tác của Franz Kafka, Fischer còn đề xuất những vấn đề quan trọng liên
quan đến thái độ ứng xử của những ngời marxit với Kafka, những vấn đề của
phản ánh nghệ thuật
Cũng tại hội nghị này, nhà lý luận marxit, nhà văn Pháp Roger Garaudy
xem Kafka là mẫu mực của chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XX. Trong hai công
trình Về một chủ nghĩa hiện thực không bờ bến (1963) và Vì một chủ nghĩa
hiện thực của thế kỷ XX (1968), nhà nghiên cứu cho rằng Kafka đã xây dựng
đợc một thế giới riêng, mà những vật liệu của thế giới đó đợc tổ chức theo
một quy luật khác. Cái độc đáo của Kafka là ở chỗ những thế giới quái dị mà
ông sáng tạo ra đều có từ hiện thực, có khả năng dự báo hiện thực và ca ngợi
Kafka trong việc sáng tạo ra một hiện thực mới - hiện thực có tầm
Prometheus. Mặc dù những ý kiến của Garaudy có thể khiên cỡng ít nhiều,
song nó cũng mở ra hớng nhìn mới về hiện thực và cách phản ánh khác về
nỗi cô đơn, sự lu đày và ám ảnh cái chết và nhận ra ở đó một số thủ pháp 7
phản ánh hiện thực đặc trng nh huyền thoại hóa. Từ đó, khẳng định những
đóng góp mới mẻ và độc đáo của Kafka trong việc mở rộng chiều kích của
chủ nghĩa hiện thực, đặt ra cho t duy lí luận văn học nhận thức mới về những
vấn đề về mô hình phản ánh nghệ thuật, về mối quan hệ giữa văn học và hiện
thực
2.2. Tình hình nghiên cứu Kafka ở Việt Nam
Những giới hạn về ngôn ngữ, thời đại, lịch sử, tầm đón đợi khiến
Kafka và tác phẩm của ông đến Việt Nam có phần bình lặng hơn. Bắt đầu từ
những năm 60 của thế kỷ XX, Franz Kafka mới bắt đầu đợc chú ý đến.
Nhng ngời ta chỉ nhìn thấy ở các tác phẩm của Kafka một thái độ tuyệt
vọng và bất lực trớc cuộc sống.Trong Phơng Tây, văn học và con ngời, GS.VS Hoàng Trinh đã viết
một cách hệ thống về tác phẩm của Kafka và về thủ pháp huyền thoại. Tuy
nhiên còn nặng về phê phán, phủ nhận, coi tác phẩm của Kafka là nơi c trú
tối tăm của những t tởng tôn giáo, của các loại triết học siêu hình mà Franz
Kafka đã tiếp nhận đợc ở các bậc thầy trong trờng phái Praha ngày trớc
[82, tr.26].
GS Đỗ Đức Hiểu trong Phê phán văn học hiện sinh chủ nghĩa khẳng
định rằng trong các sáng tác của Kafka có yếu tố hiện thực nh cuộc sống bị
đoạ đày, bị áp bức của con ngời do chế độ quan liêu, bất công gây ra và thừa
nhận vị trí tiên phong của Kafka trong dòng văn học hiện sinh. Tuy nhiên ông
phê phán tác phẩm của Kafka rằng trong đó ý thức bị thủ tiêu, con ngời đã
chết, con ngời trở thành vô hình chỉ còn lại những bóng dáng trừu tợng của
con ngời bị sơ đồ hoá, cái tôi trở thành cái ngời ta và hoà tan trong một
Kafka. Đứng trên quan điểm mới của lí luận văn học, dịch giả của Lâu đài đã
khẳng định, F.Kafka là nhà văn cảm nhận sâu sắc về trạng thái tồn tại của
con ngời hiện đại, đã thể hiện bản chất của thời đại mình một cách độc đáo,
mở ra những khả năng mới cho tiểu thuyết hiện đại. Với cái nhìn có chiều
sâu triết học, khi thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của F.Kafka, nhà nghiên 9
cứu đã phát hiện ra nỗi cô đơn trong thời gian của con ngời mà Kafka muốn
diễn tả. Ông cũng chỉ rõ đối tợng trung tâm của thế giới nghệ thuật của
Kafka là sự tha hoá, nỗi lo âu, sự lu đày và cái chết [38, tr.941].
Giáo s Phùng Văn Tửu, ngời dành khá nhiều tâm huyết nghiên cứu về
Kafka, trong phần giới thiệu bản dịch tiểu thuyết Vụ án [40] và trong giáo
trình Văn học phơng Tây [61] đã mô tả một cách khái quát thế giới nghệ
thuật của Kafka, phân tích một số thủ pháp nghệ thuật của nhà văn trong miêu
tả thời gian, không gian, con ngời trong đó, yếu tố huyền thoại đợc ông
đặc biệt lu ý. Ngoài ra, trong Tiểu thuyết Pháp hiện đại, những tìm tòi đổi
mới [78], nhà nghiên cứu cũng đã phát hiện ra rằng xu hớng cá nhân bị hoà
tan trong tập thể, cộng đồng, bị mất quá khứ, bị cô đơn là xu hớng chung của
nhân vật tiểu thuyết Kafka.
Giáo s Nguyễn Văn Dân tìm hiểu sáng tác của Kafka theo hớng làm
nổi bật vấn đề: cái phi lý, sự lo âu, nỗi bất an Ông khẳng định: cái mới của
Kafka trong bối cảnh văn học đơng thời là việc Kafka đã khai phá một mảng
đề tài khó xử lí: cái phi lý của cuộc đời. Nhà nghiên cứu đã phát hiện những
điểm mới mẻ trong nghệ thuật của Kafka là nghệ thuật miêu tả cái vắng mặt,
nghệ thuật thông báo cái không thể thông báo, diễn đạt cái không thể diễn đạt,
chủ đề mê cung
Đỗ Ngoạn trong bài viết Franz Kafka và thân phận cô đơn của con
ngời nói lên thái độ phủ nhận của Kafka đối với xã hội đơng thời và nêu lên
vấn đề trung tâm mà Kafka quan tâm nhất đó là vấn đề thân phận con ngời.
nhà mĩ học đến nhà tiểu thuyết mới ai cũng có thể tìm thấy ở văn chơng
Kafka một thứ gì đó cho mình. Thực tế đó cho thấy sự đa dạng, nhiều chiều,
nhiều ẩn ý, nhiều tầng lớp nghĩa trong các tác phẩm của Kafka. Những khám
phá về ông không có dấu hiện dừng lại, phía sau tảng băng trôi ấy luôn là
những bí mật lôi cuốn bạn đọc khám phá tìm hiểu.
11
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu Thế giới nghệ thuật của F.Kafka, luận văn khẳng định vai
trò tiên phong và những khả năng mới mà F.Kafka mở ra cho chủ nghĩa hiện
đại, qua đó làm sáng tỏ những dấu hiệu nhận biết đặc trng của chủ nghĩa
hiện đại, thấy đợc sự vận động của t duy nghệ thuật, cũng chính là sự vận
động của phơng thức phản ánh nghệ thuật qua mỗi thời kỳ văn học.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thế giới nghệ thuật của nhà văn là một phạm vi rộng, thể hiện trên
nhiều phơng diện. Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi không có tham
vọng đi sâu tìm hiểu mọi vấn đề trong thế giới nghệ thuật của Franz Kafka,
mà chỉ giới hạn ở việc lựa chọn nghiên cứu hai đặc điểm cốt yếu làm nên thế
giới nghệ thuật của ông, đó là vấn đề thân phận con ngời trong thế giới và
vấn đề huyền thoại.
4.1. Trớc khi bớc vào khám phá thế giới nghệ thuật của Franz Kafka,
chúng tôi sẽ tìm hiểu một cách khái lợc nhất những đặc điểm của chủ nghĩa
hiện thực thế kỷ XIX. Điều này theo chúng tôi là cần thiết, để từ nền tảng và
tiền đề đó có cái nhìn khách quan, hệ thống, có cơ sở cảm nhận, chỉ ra một
cách chính xác những đóng góp của Franz Kafka cho văn học hiện đại; qua đó
làm sáng tỏ những dấu hiệu nhận biết đặc trng của chủ nghĩa hiện đại.
4.2. Con ngời luôn là một trong những vấn đề trọng tâm có tính cốt lõi
- Phơng pháp phân tích
- Phơng pháp tổng hợp
7. Đóng góp mới của luận văn 13
Thông qua việc nghiên cứu những điểm mấu chốt làm nên thế giới nghệ
thuật của F.Kafka, luận văn khẳng định vai trò tiên phong và những đóng góp
của ông cho văn học hiện đại trên hai phơng diện: cách cảm nhận mới mẻ về
con ngời, cuộc sống và phơng thức khái quát hiện thực bằng huyền thoại
hoá đầy sáng tạo của nhà văn.
Trên cơ sở nghiên cứu các sáng tác của Franz Kafka, thấy đợc những
dấu hiệu nhận biết đặc trng của chủ nghĩa hiện đại và sự vận động, biến
chuyển, thay đổi t duy tiểu thuyết qua mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ văn học.
14
Nội dung
Chơng 1
cấp cách mạng, thiết lập một thời đại mà tất cả các mối quan hệ đều dựa trên
nguyên tắc của đồng tiền. Số phận con ngời trở nên nhỏ bé, bấp bênh, tình
ngời trở thành thứ xa xỉ, con ngời bị xơ cứng hoá tâm hồn, bị trở thành máy
móc Đây cũng là thời điểm mà triết học, các khoa học xã hội, khoa học kỹ
thuật phơng Tây đạt đợc những thành tựu rực rỡ. Về phơng diện triết học,
hệ thống t tởng của phép biện chứng của Hegel, chủ nghĩa duy vật của
Fuebach, chủ nghĩa xã hội khoa học của Marx và Engel đã đa chủ nghĩa
duy vật lên đỉnh cao cha từng có trớc chủ nghĩa Marx. Về khoa học xã hội,
khoa học lịch sử nửa đầu thế kỷ XIX đã tạo tiền đề cho chủ nghĩa duy vật lịch
sử rồi đây sẽ để lại dấu ấn trong văn học hiện thực ở quan điểm lịch sử về
cuộc sống. Còn về khoa học tự nhiên, không thể không nhắc tới thuyết tế bào,
học thuyết tiến hoá luận của Darwin, định luật bảo toàn và chuyển hoá năng
lợng Tất cả những đặc điểm về tình hình xã hội và những thành tựu của
các ngành khoa học nói trên tạo nền tảng trực tiếp cho sự phát triển của chủ
nghĩa hiện thực thế kỷ XIX, là tiền đề cho nhận thức của nhà văn về quy luật
sinh tồn, vận động của xã hội cũng nh quan niệm phản ánh nghệ thuật trong
thế giới quan của họ. Nó cho phép ngời nghệ sĩ khám phá, nghiên cứu và
thẩm định sâu sắc, thực tế, đầy đủ hơn về con ngời và cuộc sống, về bản chất
chế độ xã hội.
Chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX đặc biệt quan tâm, đề cao những cảnh
huống, hiện tợng chân xác của hiện thực khách quan, nhằm nhấn mạnh sự
tồn tại độc lập của khách thể miêu tả - đối tợng trung tâm của chủ nghĩa hiện
thực. Cuộc sống đợc phản ánh trong tác phẩm là thực tại khách quan sống
động đang sống, phát triển trong cuộc đời, trong thế giới chứ không phải là sự 16
tồn tại trong ý niệm, trong lý tởng nh các tiền chủ nghĩa khác. Thực tiễn
cuộc sống đóng vai trò to lớn trong sáng tác của các nhà văn hiện thực.
Quy luật văn học phản ánh hiện thực theo hình thức trọn vẹn và trực
thực quan tâm đến con ngời, đến thế giới nội tâm của con ngời và mối quan
hệ qua lại của họ với thế giới bên ngoài, dù thế giới thật hay tởng tợng,
chính cuộc sống của con ngời với những biểu hiện cá nhân cụ thể là đối
tợng nghệ thuật của các nhà hiện thực. Nh vậy, nhân vật chính của văn học
và nghệ thuật là con ngời và ở trong con ngời. Secnsepxki viết lĩnh vực
của thơ ca là tất cả lĩnh vực của cuộc sống và tự nhiên. Vậy thì thế giới thiên
nhiên, vật chất xung quanh con ngời cũng là đối tợng quan trọng của nghệ
thuật. Lý tởng thẩm mĩ của chủ nghĩa hiện thực là tái tạo một cách có nghệ
thuật chân lý của cuộc sống. Đối với các nhà văn hiện thực, cái đẹp trong nghệ
thuật là cuộc sống đựơc phản ánh một cách trung thực. L.Tolstoi viết: Nhân
vật trong truyện vừa của tôi, ngời mà tôi yêu với tất cả sức mạnh của tâm
hồn, ngời mà tôi cố gắng tái tạo với tất cả vẻ đẹp của nó, ngời luôn đã đang
và sẽ đẹp - đó là sự thật, thiếu sự thật sẽ không có cái gì đẹp trong nghệ thuật".
Cái gì đẹp trong cuộc sống khi đi vào trong nghệ thuật mà bị miêu tả một cách
sai lệch thì sẽ không còn vẻ đẹp nữa. Cái đẹp trong nghệ thuật hiện thực là
chân lý cuộc sống đợc tái tạo dới dạng nghệ thuật hoàn chỉnh, phù hợp bởi
vì đối tợng của thơ ca là chân lý cho nên vẻ đẹp vĩ đại nhất chính là ở chân
lý, ở sự giản dị, còn tính chân thực và tự nhiên tạo nên điều kiện cần thiết cho
một sáng tác nghệ thuật chân chính (Plêkhanốp).
Trong giai đoạn này, mỗi tác phẩm văn học phải nh một tấm gơng
xê dịch trên con đờng lớn (Standhal), mỗi nhà văn phải là ngời th ký
trung thành của thời đại, thực hiện nhiệm vụ tái hiện sự thật, thực tại cuộc
sống một cách chân thực và mạnh mẽ () ngay cả khi sự thật ấy không phù
hợp với những thiện cảm của nhà văn. (Tuôcghenhép). Balzac - một bậc thầy
của chủ nghĩa hiện thực đã khẳng định: chính bản thân xã hội Pháp mới là sử
gia, mà tôi chỉ là th ký. L.Tolstoi cho rằng: ngời nghệ sĩ là nghệ sĩ vì đối 18
tợng nh thế nào thì anh ta thấy nh vậy, chứ không phải anh ta muốn thế
tố cáo kinh hồn cái xã hội t sản tôn thờ con bê vàng, lấy đồng tiền làm lý
tởng tuyệt đích[14, tr.95]. Trong hầu hết các tiểu thuyết của mình, ông đã
công kích toàn bộ giai cấp t sản, một giai cấp mới phất lên sau cách mạng
1789. Chúng đang chi phối xã hội bởi cái lối làm ăn chụp giật và cơ hội.
Những gã t sản xuất hiện với đầy đủ những thói h tật xấu nh hám danh lợi,
bủn xỉn, keo kiệt, tính toán mu mô xảo trá, tất cả đều lần lợt xuất hiện trên
sân khấu Tấn trò đời. Miêu tả những nhân vật trong Tấn trò đời hoàn toàn chỉ
biết đến lợi ích riêng t của mình, tập trung vào lợi ích riêng t đối lập với lợi
ích công hoặc lợi ích của những ngời khác, Balzắc đã truyền đạt một đặc
điểm của xã hội t sản, đó là tình trạng con ngời bị tách ra khỏi những cá thể
biệt lập, đó là hậu quả không sao tránh khỏi của sự lớn mạnh của chủ nghĩa t
bản mà cơ sở là nguyên tắc t hữu.
Còn với ngời mở đầu cho trào lu chủ nghĩa hiện thực phê phán trong
văn học Pháp - Stendhal thì những luận điểm về tính chân thực của nghệ thuật
cũng đợc ông đề ra trong các tác phẩm của mình. Chẳng hạn, trong Raxin và
Sêchxpia, ông khen một vở hài kịch đơng thời mô tả xã hội y nh nó sinh
hoạt và vận động năm 1824, những tình tiết của nó giống nh sự việc xảy ra
hàng ngày dới con mắt của chúng ta và nhân vật thì hệt nh những ngời
mà chúng ta gặp hàng ngày trong các phòng khách. Trong Đỏ và đen, Tu
viện thành Pacmơ, tiểu thuyết gia này đã phản ánh chân thực đời sống xã hội,
phơi bày những thói h tật xấu của con ngời. Đặc biệt, mục đích sống vì tiền,
vì danh vọng đã bị Stendhal bóc trần qua mỗi tác phẩm. Mỗi cuốn tiểu thuyết
của ông thực sự là một bản cáo trạng đanh thép đối với xã hội t sản, quý tộc
đơng thời.
Phạm vi hiện thực cuộc sống lại đựơc mở rộng biên độ trong Chiến
tranh và hoà bình của L.Tolstoi. Cuốn tiểu thuyết không chỉ bó hẹp giới hạn
hiện thực trong cuộc chiến tranh Pháp-Nga từ 1805-1812 mà nó còn phản ánh 20
21
để bộc lộ những mâu thuẫn khách quan của chủ nghĩa t bản, họ giữ một lập
trờng phê phán với thế giới t hữu. Balzac viết: Xã hội đòi hỏi ở chúng ta
những bức tranh đẹp, nhng lấy đâu ra mẫu cho những bức tranh nh vậy?
Những trang phục nghèo nàn của các ngời, những gã t sản ba hoa tôn giáo
chết của các ngời, chính quyền thoái hoá của các ngời là thi vị của chúng
đến đâu, có đáng miêu tả chăng? lúc này chúng ta chỉ có thể chế nhạo thôi.
Chủ nghĩa hiện thực đặc biệt thành công ở thể loại tiểu thuyết, thể loại
mãi tồn tại ở thì hiện tại cha hoàn thành (Bakhtin). Lợi thế co giãn về dung
lợng và bá quyền trong việc thể hiện mọi thứ bộn bề, ngổn ngang của cuộc
sống khiến tiểu thuyết đạt tới việc mô tả rộng rãi mọi biến động và khái quát
lịch sử xã hội nh Tấn trò đời của Balzac hay Chiến tranh và hòa bình của
L.Tolstoi. Engel đã tỏ rõ sự ngỡng mộ về Balzac và Tấn trò đời khi ông nhận
xét rằng, bức tranh đồ sộ của xã hội Pháp thời kỳ 1789-1850 đã đợc bày ra
trớc mắt ngựời đọc và độc giả học đợc trong đó ngay cả về những chi tiết
kinh tế () nhiều hơn là trong tất cả các sách của các nhà sử học, các nhà
kinh tế học, các nhà thống kê học chuyên nghiệp đơng thời gộp lại[14,
tr.64]. Nhận xét đó cho thấy khối lợng khổng lồ của những kiến thức hiện
thực lịch sử mà nhà tiểu thuyết lớn nhất và tiêu biểu nhất của dòng văn học
hiện thực phê phán Pháp đã đa vào trong tác phẩm. Cho nên, Tấn trò đời có
thể ví nh một bộ bách khoa toàn th của thời đại trong đó ngời ta có thể tìm
thấy đủ mọi việc, mọi quan hệ xã hội, mọi kiến thức khoa học kỹ thuật, nghề
nghiệp từ nhỏ đến to, từ chuyện nấu ăn, may mặc, mua bán, học nghề, vay
nợ, lừa đảo, đầu cơ cho đến chuyện yêu đơng, làm báo, viết văn, làm nghệ
thuật, nghiên cứu khoa học, sáng chế, phát minh, bầu cử, xử án, cai trị, thuyết
giáo[14, tr.92]. Nó đợc xem nh là một phòng triển lãm rộng lớn, bao
gồm những bức tranh có bảng màu đa dạng và độc đáo về những hoạt động
của xã hội. Cũng nh vậy, ngời ta không khỏi kinh ngạc về mức độ hoành
tráng, về những cảnh đời trong sáng tác của L.Tolstoi. Xtrakhov nhận xét: Vĩ
23
hàng ngày đã khuyến khích nó đi theo hớng thể hiện tâm lý, đồng thời lấy sự
phát triển của tâm lý để kết cấu tác phẩm [24, tr.29].
Tóm lại, chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX đã thực hiện một bớc tiến rất
dài so với chủ nghĩa hiện thực giai đoạn trớc trong khả năng tái hiện thực tại.
Sự miêu tả không còn mang tính ớc lệ trừu tợng, phóng đại, nó đạt đến một
mức độ mới của tính sống động, khiến ngời ta có thể nói về các nhân vật văn
học nh về những con ngời sống thực. Dạng phát triển nhất là hớng tới tính
xác thực trực tiếp của sự miêu tả, tái tạo đời sống trong hình thức của bản thân
đời sống. [3, tr.84]. Chủ nghĩa hiện thực thế kỷ XIX đã có công tái hiện một
cách tỉ mỉ, chi tiết và cũng hết sức khái quát trên một phạm vi rộng lớn, toàn
nhân loại đời sống kinh tế - xã hội và đời sống tinh thần trong khả năng có
thể. Bớc nhảy vọt của nó thể hiện ở sự phản ánh thế giới trên một tinh thần
hoàn toàn tự giác, và nhìn cuộc sống trong sự vận động nhất định, trong những
mối liên hệ khăng khít, bền chặt. Đặc biệt là sự phản ánh những mối quan hệ
giữa tính cách với hoàn cảnh và việc xây dựng những điển hình. Các nhà văn
hiện thực luôn đặt con ngời trong mối quan hệ khăng khít với hoàn cảnh xã
hội cụ thể rồi triển khai sự phát triển tính cách của nó theo sự diến biến của
hoàn cảnh đó. Điểm quan trọng bậc nhất về mặt kỹ thuật mà tiểu thuyết hiện
thực phê phán phơng Tây thế kỷ XIX đạt tới mức độ cao, đáng cho chúng ta
học tập, đó là kỹ thuật xây dựng nhân vật điển hình[14; tr.83]. Phạm trù
điển hình là phạm trù quan trọng nhất của mỹ học hiện thực. Balzac coi việc
sáng tạo các điển hình, tính điển hình của miêu tả có ý nghĩa quyết định. Ông
cho rằng không khó khăn gì khi tái tạo một cách chính xác những chi tiết của
cuộc sống, nhng cái chính đối với nhà văn là sáng tạo ra những điển hình,
bao hàm trong đó những sức mạnh và phơng diện khác nhau của cuộc sống
xã hội. Bêlinxki cho rằng điển hình chính là ngời lạ quen biết, tức ông
muốn nói tới sự thống nhất hài hoà cao độ giữa tính riêng sắc nét và tính
văn hào thế kỷ XIX ghi nhận. Balzac - bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực cho
rằng: Nếu nhân vật đợc tởng tợng ra thì nghệ thuật của nhà tiểu thuyết là 25
ở tính chân thực của mọi chi tiết [87, tr.340] và trong lời tựa Tấn trò đời ông
đã từng khẳng định: tiểu thuyết sẽ không là gì cả () nếu nó không chân thật
trong chi tiết. Để có một pho sách khổng lồ 80 bộ thì trớc hết Balzac đã sở
hữu một bể chi tiết phong phú và vô cùng đa dạng. Hơn 2000 nhân vật của
ông cùng những cảnh trí và không khí hoạt động riêng hiện lên sinh động, tơi
mát và rất sống chính là nhờ sự muôn màu của các chi tiết không hề có sự lặp
lại. ý nghĩa, vai trò của chi tiết trong việc xây dựng hình tợng và tái hiện
cuộc sống một cách hiện thực cũng đợc L.Tolstoi - tấm gơng phản chiếu
cách mạng Nga nhiều lần công nhận. Với ông để phục vụ cho mục đích mô tả
cụ thể lịch sử thì chi tiết luôn luôn là một phơng tiện điển hình hoá, phơng
tiện của sự khái quát hoá nghệ thuật. Và hiệu quả của nghệ thuật chỉ đạt đợc
chừng nào mà nhà nghệ sĩ tìm thấy vô vàn các yếu tố nhỏ bé tạo thành tác
phẩm nghệ thuật. Trong Chiến tranh và hoà bình, ông tỉ mỉ ngồi kết từng chi
tiết nhỏ nhặt nhất của nét mặt, lời nói, ánh mắt đến các biến thái trong diện
mạo nhân vật. Ngay trong bốn chơng đầu của tác phẩm, những chi tiết nhỏ
xíu tự nó phát huy vai trò to lớn trong việc xác định không gian và thời gian
một cách tờng minh. Petecbua hay những địa danh khác, tự nó đã mang ý
nghĩa thông báo cụ thể về địa danh mà không cần phải thuyết minh, giới thiệu.
Trong tiểu thuyết Đỏ và đen, Stendhal cũng đã tả khá tỉ mỉ quá trình leo từng
bớc thang danh vọng của Juylieng Xoren từ khi anh rời làng quê để bớc
chân đầu tiên đặt vào lâu đài và sự trả giá của nhân vật tham vọng này. Chân
dung đài các, quyền quý của những quý bà trong tác phẩm hay sự giằng co
tâm lý với những biến thái tinh vi tận đáy sâu tâm hồn của Juyliêng cũng đợc
Stendhal phơi bày lên trang giấy với chi tiết cụ thể.
Chủ nghĩa hiện thực với các bậc thầy của nó đã hoàn thiện trọn vẹn sự