SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“RÈN KỸ NĂNG VIẾT TRONG CÁC TIẾT HỌC CHÍNH TẢ CHO
HỌC SINH LỚP 3”
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Sự cần thiết và tính khả thi của đề tài:
Theo tiến trình phát triển của xã hội, mục tiêu giáo dục ngày càng được nâng lên
và toàn diện hơn.Ngoài việc rèn kĩ năng tính toán, kĩ năng nắm bắt thông tin về thế giới,
môi trường xung quanh học sinh còn được rèn kĩ năng nói, viết và giao tiếp .Để diễn đạt
cho người khác hiểu được ý mình muốn nói thì vốn Tiếng Việt của mỗi học sinh rất là
quan trọng.
Trong chươg trình tiểu học, phân môn Tiếng Việt chiếm vị trí rất quan trọng.Tiếng
Việt tạo điều kiện và cơ sở cho học sinh học tốt các môn học khác.Đặc biệt những năm
gần đây môn Tiếng Việt lớp 3 sau khi chỉnh lí đã chú trọng hơn đến yêu cầu rèn luyện kĩ
năng viết cho học sinh.Viết chữ đẹp là nguyện vọng mong muốn của tất cả giáo viên và
học sinh.Nhưng muốn viết chữ đẹp thì việc rèn chính tả cũng là một nhu cầu cần thiết
hiên nay. Chính vì vậy việc rèn viết chính tả cũng không kém phần quan trọng.
Hiện nay phong trào rèn chữ viết đẹp ở các trường diễn ra sôi nổi hàng năm. Nhưng
bên cạnh đó một số giáo viên và phụ huynh học sinh cũng trăn trở về việc các em viết sai
chính tả nhiều quá.Thông thường tại lớp một bài chính tả có những em không thể đạt
được điếm 1. Các kỳ trong năm học phần lớn môn Tiếng Việt các em bị thấp điểm do viết
chính tả còn bị sai nhiều Nhiều em trình bày sạch sẽ, chữ viết rõ ràng nhưng điểm trình
bày không thể kéo điểm mắc lỗi chính tả lên được.
Vì vậy làm thế nào hướng tới việc rèn chính tả đúng, tôi đã nghiên cứu các biện
pháp rèn luyện và áp dụng vào thực tế. Với mong muốn là nêu ra “Một số kinh nghiệm
giúp học sinh học tốt phân môn chính tả ở lớp 3 Trường tiểu học Bồng Sơn ” năm học
2010 -2011.
Xuyên suốt trong quá trình giảng dạy, luyện tập cho học sinh tìm từ có phụ âm đầu,
âm cuối, vần , dấu thanh theo yêu cầu.
Thông qua các năm giảng dạy lớp 3 thay sách. Bắt đầu thực hiện từ tháng 9/2010.
PHẦN II :KẾT QUẢ
I. Thực trạng :
Đầu năm học , bước vào bài kiểm tra chất lượng của phân môn chính tả và sau đó
tôi đưa ra bài khảo sát mà các em thường mắc trong thực tế bài viết chính tả hằng ngày
kết quả như sau :
1. Thống kê qua khảo sát:
Chất
lượng
Số lượng
Phân loại kết quả đạt được Dấu
thanh
Âm cuối
vần ;âm
đầu vần
G K TB Y
Đạt Chư
a
đạt
Đạ
t
Chư
a
đạt
% S
L
% S
nghe và được nói từ gia đình, từ những giao tiếp và trò chuyện với người xung quanh.
Đánh vần, phát âm chưa chuẩn nên dẫn đến tình trạng mắc nhiều lỗi chính tả. Nhiều năm
giảng dạy lớp 3 tôi đã thấy học sinh ở lớp tôi có nhiều em mắc lỗi chính tả. Phần do phụ
huynh chưa hiểu tầm quan trọng của việc rèn chính tả nên học sinh lười rèn chính tả ở
nhà. Bản thân học sinh thì phụ thuộc một cách máy móc vào việc phát âm. Vì vậy khi
viết các em cũng khó phân biệt được về qui tắc chính tả. Các em đã bị mất căn bản nên
việc viết chính tả rất hạn chế .Các em chưa hiểu nghĩa của từ nên hay viết sai .
2. Nội dung chương trình và phân bố ,sắp xếp các nội dung chính tả và số lần
xuất hiện trong năm học của lớp 3:
STT Nội dung chính tả
Số lần xuất hiện
trong chương
trình
% so
chương
trình
Ghi
chú
HKI HKII CN
TS %
01 Phân biệt dấu thanh: ? /~ 9 11 20 20 15,
4
02 Phân biệt có âm đệm và
không có âm đệm.
9 9 9 6,9
03 Phân biệt nguyên âm đôi 3 3 3 2,3
04 Phân biệt âm cuối vần n/ng 15 15
c/t 4 12 16
trước khi viết một vài lần nữa. Để rèn cho các em đọc đúng, phát âm chuẩn không những
qua tiết chính tả mà chủ yếu là tiết Tập đọc, giáo viên yêu cầu và khuyến khích các em
chịu khó đọc đúng.Từ nào sai giáo viên sửa ngay, đưa thêm một số từ gần giống như vậy
để học sinh so sánh.
Để các em viết đúng chính tả ngay thì thật khó. Nên giáo viên phải cho các em được
nguyên tắc cơ bản của chính tả, giúp các em phân biệt chính tả với chính âm :chữ viết là
chữ ghi âm cần thể hiện ghi âm lại cho đúng. Các em phải trải qua ba kĩ năng :tai nghe,
miệng đọc , tay viết. Ngoài ra các em còn phải rèn luyện thể chất tốt trong khi viết đó là
tư thế ngồi viết : thẳng lưng, không tỳ ngực vào bàn, mắt cách vở 25 -> 30cm, tay trái đè
lên vở, tay phải cầm viết, vở để hơi nghiêng so với mặt bàn.2. Dạy các nội dung chính tả có yếu tố phân biệt dấu hỏi/dấu ngã:
3. Dạy nội dung chính tả có yếu tố phân biệt vần có âm đệm và không có âm
đệm: (có âm đệm o;u)
4. Dạy nội dung chính tả có yếu tố phân biệt nguyên âm đôi:
5. Dạy nội dung chính tả có yếu tố phân biệt âm cuối vần:( c/t ; n/ng)
6. Dạy nội dung chính tả có yếu tố phân biệt âm đầu vần: ( s/x;v/d/gi)
7. Tăng cường công tác chủ nhiệm trong việc rèn viết đúng chính tả:
7.1. Đối với giáo viên:
Bất kỳ làm một công việc gì cũng cần phải có lòng quyết tâm và sự say mê nếu
không có thì khó thành công. Vậy để bồi dưỡng điều này giáo viên thường xuyên kể cho
các em nghe về một số tấm gương viết chữ đẹp như : Cao Bá Quát , Nguyễn Trọng Ký
và liên hệ thực tế trường mình có các bạn đạt chữ viết đẹp trong các hội thi viết chữ đẹp
các cấp.Những người khuyết tật nhưng họ vẫn cố gắng viết đúng và đẹp.Qua đó các em
thấy được việc rèn chính tả là tầm cao hiện nay. Giáo viên cho các em xem cách trình bày
vở, bài làm của những em năm trước đạt vở sạch, chữ đẹp, kể cả những vở có chữ viết rõ
ràng, đúng chính tả. Giúp các em hiểu rằng để đạt điểm cao không những phải viết đẹp
mà còn viết đúng chính tả.
Bên cạnh đó giáo viên cũng cho các em thấy việc rèn chính tả của giáo viên qua
đầu vần
G K TB Y
Đạt Chư
a
đạt
Đạ
t
Chư
a
đạt
% S
L
% S
L
% S
L
% SL % SL %
Bài khảo
sát đầu
năm
33 5 15,
2
1
0
30,
3
1
2
36
,4
Bản thân giáo viên cũng sẽ có ý thức luôn tự phát âm chuẩn, chữ viết rõ.
2. Khả năng vận dụng:
Bạn có thể vận dụng các biện pháp trên trong suốt năm học.
Có thể thực hiện ở tất cả các lớp, các đối tượng.Truyền đạt lại để phụ huynh hướng
dẫn con em học ở nhà.
Tùy theo đặc điểm của từng lớp, giáo viên chủ nhiệm lớp cần vận dụng một
cách linh hoạt nhằm đạt hiệu quả tốt nhất cho học sinh của mình.
III. Đề xuất và kiến nghị :
1.Đối với giáo viên và học sinh
Để đáp ứng với nguyện vọng nâng cao chất lượng phân môn chính tả cho học
sinh lớp 3 đòi hỏi người giáo viên cần có nhiều thời gian, công sức và kiên trì.
Phải có sự đồng bộ giữa giáo viên, học sinh,phụ huynh học sinh trong tất cả các lớp.
Cần áp dụng theo đúng thực tế của lớp. Đặt biệt chú ý hoạt động kiểm tra đánh giá
thường xuyên trong mỗi tiết học , buổi học. Kịp thời động viên những cố gắng, nỗ lực
của từng học sinh khi viết chính xác các từ khó.
2.Đối với nhà trường,phụ huynh học sinh,môi trường xã hội
2.1. Đối với nhà trường:
Thường xuyên ,dự giờ,quan tâm đến giảng dạy phân môn chính tả ở các lớp.
Tạo điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị để giảng dạy bộ môn tốt nhất.
2.2. Đối với Phụ huynh học sinh và môi trường xã hội:
Trong quá trình giao tiếp ở gia đình cần quan tâm đến việc sử dụng ngôn ngữ trong
sáng,rõ ràng,không sử dụng tiếng “lóng” hoặc quá niều tiếng địa phương.
Trên đây là những kinh nghiệm và việc làm của tôi trong những năm học qua nhằm
nâng cao chất lượng phân môn chính tả giúp các em học tốt môn Tiếng Việt.