MỤC LỤC
Chương 1: Cơ sở lý luận về Marketing và Marketing du
lịch trong kinh doanh du lịch.
1. Khái niệm Marketing.
2. Khái niệm Marketing du lịch
3. Vận dụng các chính sách Marketing nhằm khai thác thị trường khách
du lịch.
3.1. Chính sách sản phẩm.
3.2. Chính sách giá.
3.3. Chính sách phân phối.
3.4. Chính sách khuyếch trương, quảng cáo.
Chương 2: Thị trường du lịch và thị trường khách du
lịch Nhật Bản.
1. Khái quát về thị trường khách du lịch.
1.1. Khái niệm về thị trường du lịch.
1.2. Những đặc điểm của thị trường du lịch.
2. Thị trường khách du lịch Nhật Bản.
2.1. Khái quát về nước Nhật .
2.1.1. Lịch sử hình thành nước Nhật.
2.1.2. Khí hậu, địa hình.
2.1.3. Dân số.
2.1.4. Nền kinh tế Nhật Bản.
2.1.5. Văn hoá Nhật Bản.
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
2.2. Thị trường khách du lịch Nhật Bản.
2.2.1 Quy mô thị trường.
2.2.2. Đặc điểm tâm lý khách du lịch Nhật Bản.
2.2.3. Đặc điểm tiêu dùng khách du lịch Nhật Bản.
* Các yếu tố tự nhiên.
* Các yếu tố về văn hoá xã hội.
* Các yếu tố kinh tế.
2.2.3. Một số thuận lợi và khó khăn khi khai thác thị trường khách du
lịch Nhật của chi nhánh.
* Thuận lợi.
* Khó khăn.
2.3. Thực trạng việc áp dụng các chính sách Marketing trong việc khai thác
thị trường khách du lịch Nhật của chi nhánh Vietravel tại Hà Nội.
2.3.1. Môi trường Marketing của chi nhánh.
* Môi trường vĩ mô.
* Việc tổ chức hoạt động Marketing tại chi nhánh.
* Hiệu quả của các chính sách Marketing
2.3.2. Thực trạng việc áp dụng các chính sách Marketing trong việc thu
hút khách du lịch Nhật của chi nhánh.
* Các giải pháp Marketing trong việc thu hút khách du lịch Nhật
- Chính sách sản phẩm.
- Chính sách giá.
- Chính sách phân phối.
- Chính sách quảng cáo, khuếch trương.
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
3
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
* Kết quả của các giải pháp Marketing trong việc thu hút khách
du lịch Nhật.
- Số lượng khách du lịch.
- Cơ cấu khách du lịch.
Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả vận
dụng các chính sách Marketing trong việc thu hút
khách du lịch Nhật ở chi nhánh công ty du lịch và tiếp
thị giao thông vận tải Vietravel tại Hà Nội.
1. Những khó khăn và thuận lợi của việc phát triển thị trường Nhật
1.1. Khó khăn.
tập tốt nghiệp này.
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
LỜI MỞ ĐẦU
Trong tình hình kinh tế chính trị bất ổn trên thế giới như hiện nay
thì ngành du lịch đang gặp phải những khó khăn tương đối lớn. Tuy nhiên
Việt Nam được coi là điểm đến an toàn nhất trong khu vực châu Á nói riêng
và trên thế giới nói chung. Trước tình hình hình đó thì việc thu hút khách du
lịch nước ngoài vào Việt Nam được quan tâm hàng đầu hiện nay. Trên cơ sở
đó em đã chọn đề tài “Vận dụng các chính sách marketing nhằm khai
thác thị trường khách du lịch là người Nhật ở chi nhánh Vietravel tại
Hà Nội ”.
Bài viết của em gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về Marketing và Marketing trong kinh
doanh du lịch.
Chương 2: Thị trường du lịch và thị trường khách du lịch Nhật Bản
Chương 3: Thực trạng kinh doanh và việc vận dụng các chính sách
Marketing trong việc thu hút khách du lịch là người Nhật Bản ở chi nhánh
công ty du lịch và tiếp thị giao thông vận tải Vietravel tại Hà Nội .
Chương 4: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả vận dụng các chính
sách Marketing trong việc thu hút khách du lịch Nhật ở chi nhánh công ty
du lịch và tiếp thị giao thông vận tải Vietravel tại Hà Nội
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
6
Chuyên đề tốt nghiệp
Chng I:
C s lý lun v marketing v marketing trong kinh
doanh du lch
1. Khỏi nim marketing
đối thủ cạnh tranh.
2. Khái niệm Marketing du lịch
Cùng với xu hướng phát triển chung của thời đại, du lịch được xác
định là một trong những nghành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân,
nó là một nghành công nghiệp không khói. Ngày nay, du lịch đã trở thành
hiện tượng phổ biến trong đời sống kinh tế, xã hội đang phát triển với nhịp
độ cao. Thậm chí ở những nước phát triển, nó là nhu cầu không thể thiếu của
mỗi người. Điều này giải thích phần nào tại sao trong những năm gần đây có
rất nhiều nhà đầu tư đã đầu tư vào lĩnh vực du lịch. Với bất kỳ một nghành
kinh doanh nào thì khả năng đáp ứng tốt được nhu cầu của thị trường, tạo ra
những sản phẩm mà thị trường cần thì đều mang lại thành công nhất định
cho tổ chức kinh doanh. Vấn đề này đối với các công ty du lịch ngày càng
quan trọng. Vì nhu cầu của khách du lịch là nhu cầu cao cấp của con người
nên công ty lữ hành du lịch cần phải thoả mãn tốt nhu cầu của khách du lịch,
cần phải tiến hành khuyếch trương, quảng bá sản phẩm của mình để thu hút
khách.
Có rất nhiều quan điểm và định nghĩa về marketing du lịch, chúng ta
có thể kể ra dưới đây:
Định nghĩa của hiệp hội Marketing Mỹ: Marketing là thực hiện hoạt
động kinh doanh nhằm điều khiển lưu thông hàng hoá hay dịch vụ từ tay
người sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
8
Chuyên đề tốt nghiệp
nh ngha ca WTO: Marketing du lch l mt trit lý qun tr m
nh nghiờn cu, d oỏn, tuyn chn da trờn c s nhu cu ca du khỏch
nhm em sn phm ra th trng sao cho phự hp vi mc ớch thu nhiu
li nhun ca t chc du lch.
nh ngha ca Micheal Coltman: Marketing du lch l ton b nhng
h thng nghiờn cu v lờn k hoch nhm lp nh cho t chc du lch mt
tài nguyên thiên nhiên và nhân văn. Sự xuất hiện sản phẩm mới là khó khăn.
Vì vậy chính sách sản phẩm trong du lịch đóng vai trò rất quan trọng trong
hệ thống các chính sách marketing.
Theo Philip Koller thì: “ sản phẩm là bất cứ cái gì có thể đưa ra thị
trường để tạo ra sự chú ý, mua sắm hay tiêu thụ nhằm thoả mãn một nhu cầu
hay một ý muốn. Nó có thể là những vật thể, những dịch vụ của con người,
những địa điểm, những tổ chức và những ý nghĩa ”. Sản phẩm đem lại giá trị,
lợi ích cho con người.
Người mua hàng hoá hay dịch vụ chính là mua những giá trị, lợi ích
mà sản phẩm đó mang lại. Sản phẩm du lịch cũng mang những đặc điểm
riêng. Người ta định nghĩa sản phẩm du lịch như sau:
Sản phẩm du lịch là toàn bộ những hàng hoá và dịch vụ cung cấp cho
khách du lịch trong quá trình đi du lịch nhằm thoả mãn nhu cầu của khách du
lịch.
Sản phẩm của kinh doanh lữ hành là những chương trình du lịch cung
cấp cho khách du lịch. Chương trình này bao gồm nhiều loại hàng hoá và
dịch vụ khác nhau của nhiều cơ sở cung cấp hàng hoá và dịch vụ du lịch
( khách sạn, nhà hàng, các điểm vui chơi giải trí, … )
Như vậy đối với sản phẩm du lịch và dịch vụ nói chung thì trên cách
nhìn của người làm marketing, giá trị của sản phẩm là giá trị của đầu và cho
việc sản xuất sản phẩm. Trong khi đó đối với khách hàng thì giá trị sản phẩm
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
là lợi ích mà sản phẩm đó mang lại.Chúng ta cũng cần hiểu rằng khách du
lịch có những đặc điểm khác nhau nên việc đánh giá của họ là khác nhau.
Thoả mãn tốt nhu cầu của khách là phương pháp tốt nhất nâng cao giá trị của
sản phẩm du lịch.
Bên cạnh những đặc diểm hoàn hảo của sản phẩm, khách du lịch cũng
rất quan tâm tới nhãn hiệu của sản phẩm, nó thể hiện độ tin cậy của sản
sản phẩm
Thử nghiệm
thị trường
Thương mại
hoá
sản phẩm
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
trên lý thuyết người ta xác định đối tượng khách mà sản phẩm hướng tới rồi
phân tích những lợi ích mà sản phẩm mang lại. Khi thấy sản phẩm thực sự
hiệu quả, các công việc liên hệ, thoả thuận với các cơ sở được thực hiện.
Những nhóm khách hàng chọn lọc được thử nghiệm nhằm xác định khả năng
của sản phẩm cũng như những thay đổi cần thiết trước khi thương mại hoá
sản phẩm.
Nói đến sản phẩm chúng ta không thể không thể không nói đến chu
kỳ sống của nó. Mọi sản phẩm đều trải qua một chu kỳ sống nhất định, nó
được định hình, ra đời, phát triển qua một số giai đoạn và dần dần chết đi khi
có sản phẩm mới xuất hiện đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách
du lịch.
Chu kỳ sống của sản phẩm du lịch :
Giai đoạn triển khai: Đây là giai đoạn bắt đầu từ khi xuất hiện sản
phẩm cho tới khi sản phẩm đứng vững trên thị trường. Sau một quá trình
nghiên cứu và thực nghiệm các chương trình du lịch những nhà kinh doanh
lữ hành quyết định tung sản phẩm của mình ra thị trường. Bắt đầu từ đây sản
phẩm bước vào giai đoạn triển khai trong chu kỳ sống của nó. Giai đoạn này
công ty cần phải làm sao để sản phẩm có chỗ đứng vững chắc trên thị
trường. Do vậy các biện pháp marketing cần vận dụng ở đây là:
+ Căn cứ vào các đặc điểm chung của chương trình du lịch và các đặc
điểm của đối tượng khách, bộ phận marketing xác định đối tượng khách ưu
tiên cho sản phẩm của mình. Đây chính là hướng giới thiệu chọn lọc sản
phẩm.
+ Có thể giảm giá để thu hút khách hàng nhạy cảm với giá.
+ Chuyển đổi mục tiêu quảng cáo, từ xác định mục tiêu nhận biết sáng
tạo ra những ý muốn mua hàng và hành động mua hàng.
Giai đoạn bão hoà:
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự chững lại của doanh số và dần
có xu hướng giảm. Giai đoạn này thường diễn ra khá căng thẳng vì các đối
thủ cạnh tranh cùng chung hoàn cảnh có xu hướng gia tăng quảng cáo và
khuyếch trương nhằm khai thác thị truờng có hiệu quả hơn. Giai đoạn này
cạnh tranh diễn ra rất gay gắt. Các nhà kinh doanh không chỉ đơn thuần là
bảo vệ sản phẩm của mình mà còn nhằm kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm.
Do vậy các biện pháp marketing có thể áp dụng ở đây là:
+ Chiến lược điều chỉnh thị trường: Theo đuổi khách hàng của đối thủ
cạnh tranh, bổ sung các thị trường mục tiêu, lôi kéo những khách hàng chưa
sử dụng sản phẩm thành khách hàng của mình, có thể áp dụng các biện pháp
khuyến khích sử dụng dịch vụ thường xuyên.
+ Chiến lược điều chỉnh sản phẩm: Làm cho sản phẩm mới hơn bằng
các biện pháp như:
* Tăng cường chất lượng của sản phẩm và các dịch vụ có trong chương trình.
* Tăng cường những đặc trưng, những tính năng mới cho chương trình
du lịch.
* Thay đổi những yếu tố, hình thức cho chương trình
+ Chiến lược điều chỉnh marketing: Tăng cường các biện pháp
marketing nhằm thu hút khách như giảm giá, ưu tiên cho khách hàng truyền
thống, tăng cường những dịch vụ mới,… ngoài ra chúng ta có thể tìm kênh
phân phối mới.
Giai đoạn suy thoái:
Doanh số của sản phẩm chùng xuống, các doanh nghiệp cần phải “vắt
G= Z +P+Cb+Ck+T
G=Z+Z*
α
p+ Z*
α
b+Z*
α
k+Z*
α
t
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
15
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
G=Z( 1+
α
p+
α
b+
α
k+
α
t )
G=z( 1+
∑
α
)
Trong đó: P là khoản lợi nhuận dành cho công ty lữ hành
Ck là các chi phí khác như chi phí quản lý, chi phí thiết kế
chương trình, chi phí dự phòng…
Cb là chi phí bán bao gồm hoa hồng cho các đại lý, chi phí
b)
=Z/(1-
∑
β
)
Trong đó
β
p,
β
b,
β
k,
β
t là các hệ số tương ứng của các khoản
mục tính theo giá bán,
∑
β
là tổng các hệ số.
Khi xác định giá thành và giá bán của chương trình cần phải lưu ý tới
những điểm sau:
- Giá của các dịch vụ và hàng hoá để tính giá thành phải là giá net
nghĩa là không bao giờ có phần hoa hồng.
- Cần phải lưu ý để tránh hiện tượng phải đóng thuế hai lần.
- Nếu trong chương trình có sử dụng máy bay thì công thức tính giá
nói trên chỉ sử dụng cho các dịch vụ mặt đất. Sau đó để có giá bán, ta cộng
thêm giá vé máy bay bán lẻ thông thường. Phần hoa hồng bán vé máy bay do
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
16
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
hãng hàng không trả cho công ty lữ hành. Trong trường hợp này công thức
∑
α
*
là tổng hệ số các khoản tính theo giá thành
∑
β
*
là tổng hệ số tính theo các khoản giá bán.
Từ công thức xác định giá thành và giá bán của chương trình có thể
nhận thấy các mức giá này tỷ lệ với lượng khách trong đoàn. Vì vậy khi xây
dựng mức giá của các chương trình du lịch các công ty lữ hành thường có
mức giá tương ứng với số lượng khách trong đoàn.
* Định giá dựa vào cạnh tranh: Theo phương pháp định giá này, người
định giá không quan tâm tới chi phí cá biệt của mình mà chỉ căn cứ vào giá
trên thị trường, giá của đối thủ cạnh tranh để định giá cho sản phẩm của
mình.
Trong kinh doanh lữ hành thường các sản phẩm không giống nhau nên
khó có thể đánh giá được chất lượng sản phẩm. Khi đó sử dụng phương pháp
này người ta căn cứ vào chất lượng của các sản phẩm cấu thành, chất lượng
của các dịch vụ trong chương trình.
* Các chiến lược định giá sản phẩm mới:
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
17
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
- Với các sản phẩm mới phát minh ( du lịch trên vũ trụ, du lịch lặn
biển… )
+ Định giá cao nhằm chắt lọc thị trường
+ Định giá thấp nhằm thâm nhập thị trường
- Với các sản phẩm mới mô phỏng
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
của chương trình là do khách hàng cảm nhận, đồng thời các chương trình du
lịch thường khác nhau đối với mỗi đoàn khách nên chiến lược thặng giá có
thể thực hiện dễ dàng và hiệu quả.
- Định giá phân biệt: Định giá khác nhau cho các đối tượng khách
khác nhau nhằm mục đích khác nhau như đánh vào tâm lý, giá quảng cáo…
Thông thường người ta sử dụng tất cả các yếu tố trên để xây dựng giá
thành cho sản phẩm của mình. Trong kinh doanh lữ hành, cách phổ biến là
định giá căn cứ vào chi phí sau đó trên cơ sở mục tiêu marketing và mục tiêu
lợi nhuận xác định một mức trội giá trên doanh thu chưa tính lại để xây dựng
giá mỗi chương trình du lịch cho mỗi đối tượng khách khác nhau, ở tại các
thời điểm khác nhau tương ứng với mức dịch vụ khác nhau.
Tính hoà vốn.
Bất kỳ một công ty kinh doanh nói chung, một công ty lữ hành nói
riêng cũng đều phải biết tại điểm nào thì công ty đạt mức hoà vốn. Để tính
toán được hoà vốn thì chúng ta phải hiểu được khái niệm điểm hoà vốn và
khối lượng hoà vốn.
Điểm hoà vốn: Là điểm mà tại đó khối lượng hàng hoá và dịch vụ bán
ra nhất định, tương ứng với một mức giá nhất định thì tổng doanh thu bằng
tổng chi phí
Khối lượng hoà vốn: Là khối lượng hàng hoá và dịch vụ bán ra để đạt
hoà vốn và nó phải tướng ứng với một mức giá nhất định.
( PGS-TS Nguyễn Văn Đính, Bài giảng Marketing du lịch )
Nếu ta gọi: Q
0
là khối lượng hoà vốn
G
0
là giá cả của sản phẩm, dịch vụ tại điểm hoà vốn
V là chi phí biến đổi trên một đơn vị sản phẩm
Nói tóm lại, yếu tố hiệu quả trong kinh doanh đã dẫn tới yêu cầu la
phải có kênh phân phối.
3.4. Chính sách khuyếch trương, quảng cáo.
Công tác tiếp thị tốt chỉ đòi hỏi việc cho ra thị trường những sản
phẩm, dịch vụ tốt, hấp dẫn, giá cả hợp lý, đưa sản phẩm tới tận tay người tiêu
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
20
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
dùng và còn phải tổ chức quảng cáo để cho khách hàng hiểu và tiêu dùng sản
phẩm. Đối với công ty thì vấn đề không phải là nên tuyên truyền quảng cáo
hay không mà là tuyên truyền quảng cáo như thế nào cho hiệu quả nhất, thu
hút được nhiều khách hàng nhất. Do vậy ở đây ta có thể sử dụng một số hình
thức khác nhau nhằm thu hút khách hàng tiêu thụ sản phẩm của chùng ta.
* Quảng cáo: Các phương tiện được sử dụng ở đây là các phương tiện
thông tin đại chúng, các sách hướng dẫn, tập gấp và có thể là trên mạng
Internet…
* Khuyến mại: Khích lệ trong thời gian ngắn kích thích người mua,
các chính sách này được thực hiện để khuyến khích khách hàng trong thời
gian ngoài thời vụ, cũng như lúc cạnh tranh diễn ra gay gắt. Đôi khi các
chính sách này cũng được thực hiện theo chu kỳ nhằm kích thích khách
hàng.
* Tuyên truyền: Kích thích những nhu cầu mong muốn mang tính phi
cá nhân về hàng hoá, có thể như tài trợ cho các hoạt động thể thao…
* Chào hàng, bán cá nhân: Giới thiệu bằng miệng tới một hoặc một
vài nhóm khách hàng tương lai, phương pháp này đã được sử dụng nhiều đối
với các hãng lữ hành ở nhiều nước có nền du lịch phát triển.
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
21
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
các nhóm tập thể mua sắm hàng hoá hoặc dịch vụ cho mục đích tiêu dùng cá
nhân.
1.2. Những đặc điểm của thị trường du lịch.
Thị trường du lịch là một bộ phận của thị trường hàng hoá nói chung
nên có đầy đủ những đặc điểm của thị trường và như thị trường ở các lĩnh
vực khác. Tuy nhiên do đặc thù của du lịch nên thị trường du lịch có những
đặc điểm riêng khác hẳn với thị trường hàng hoá.
Những đặc điểm của thị trường du lịch:
* Xuất hiện muộn hơn thị trường hàng hoá nói chung, nhu cầu bậc
cao.
Thị trường du lịch chỉ xuất hiện khi du lịch trở thành hiện tượng kinh
tế – xã hội phổ biến. Khi nhu cầu thiết yếu của cuộc sống được thoả mãn và
khách du lịch với sự tiêu dùng của họ tác động tới sản xuất hàng hoá du lịch
ở ngoài nơi họ thường trú.
* Sản phẩm trên thị trường du lịch chủ yếu là dịch vụ. Sản phẩm bao
gồm các dịch vụ vận chuyển, dịch vụ ăn uống, lưu trú, dịch vụ thăm quan,
vui chơi giải trí, môi giới, hướng dẫn …ngoài ra hàng hoá vật chất cũng
được bán trên thị trường du lịch nhưng chiếm tỷ lệ thấp.
* Sản phẩm trên thị trường du lịch gần như không thể dịch chuyển.
Sản phẩm du lịch không thể dịch chuyển tới nơi có khách hàng mà nó đòi
hỏi khách hàng phải đến nơi có sản phẩm du lịch để tiêu dùng nó.
Khách hàng có thể tự tìm kiếm thông tin hoặc thông qua các hãng lữ
hành hay thông qua các phương tiện quảng cáo. Cho nên vấn đề giới thiệu
sản phẩm du lịch đến được với khách hàng đóng vai trò quan trọng trong
hoạt động du lịch.
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
23
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
* Hàng lưu niệm là một đối tượng đặc biệt trên thị trường du lịch ( là
cầu nối giữa khách du lịch và điểm du lịch ). Đây có thể được coi là một mặt
Nhật, cho đến cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 thì Vua Minh Mạng đã cải cách
chế độ xã hội Nhật đã làm cho nền kinh tế Nhật có những bước tiến vượt
bậc.
Trong thế kỷ 20 Nhật đã tham gia vào thế chiến thứ II ( 1939-1945 )
chính vì vậy sau thất bại ở cuộc chiến nền kinh tế Nhật đã lâm vào tình trạng
vô cùng khó khăn, nhưng với sự trợ giúp của Mỹ và với tinh thần dân tộc
quật cường người Nhật đã đứng lên và chỉ trong vòng 20 năm Nhật đã vực
dậy nền kinh tế và đưa nó phát triển vào hàng nhất nhì trên thế giới. Người
Nhật đã khiến cho cả thế giới kinh ngạc và “ hiện tượng Nhật Bản “ đã trở
thành một hiện tượng có tầm ảnh hưởng lớn đến nhân loại ở giữa thế kỷ 20.
2.1.2 Khí hậu, địa hình.
Nước Nhật là một trong những nước nằm ở Tây Bán Cầu, thuộc khu
vực Đông Bắc của Châu Á có khí hậu ôn đới gió mùa, với địa hình gồm 3/4
là đồi núi và 1/4 là đồng bằng nước Nhật có rất ít tài nguyên thiên nhiên.
Nhật Bản có vùng tiếp xúc với biển lên tới 2100 dặm (khoảng hơn
33000 km) phía Bắc giáp với bán đảo Triều Tiên, phía Nam giáp với Trung
Quốc còn phía Đông giáp biển.
Nước Nhật nằm trong vùng nơi có sự vận động liên tục của địa tầng,
chính vì vậy Nhật là một trong những nới trên thế giới có hiện tượng núi lửa
xảy ra thường xuyên.
Nhật là nước nhỏ bé với diện tích khoảng 450.000 km
2
nhưng với rất
nhiều vùng đất không sinh sống được do điều kiện thời tiết khắc nghiệt và
những nơi có địa hình nguy hiểm.
Sinh viªn: Mai §×nh Hoµng Líp Du lÞch 41A
25