LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Lê Trọng Đại.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực. Các thông tin
trích dẫn trong khóa luận có nguồn gốc rõ ràng và được chú thích đúng quy định.
Tác giả khóa luận
Lê Thị Bích Liên
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện bài khóa luận em đã nhận được nhiều sự giúp
đỡ, đóng góp ý kiến của quí thầy cô, gia đình, bạn bè và các địa phương liên
quan đến đề tài của bài khóa luận.
Trước hết em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Th.S Lê Trọng Đại người
trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ em về kiến thức và phương pháp để em hoàn
thành được khóa luận tốt nghiệp này.
Em cũng xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khác khoa Khoa học -
Xã hội, trường Đại học Quảng Bình đã tận tình giảng dạy trong 4 năm học
qua và động viên, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn thư viện trường Đại Học Quảng Bình đã
giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm và khai thác tài liệu phục vụ cho việc
nghiên cứu hoàn thành khóa luận.
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới những người thân
trong gia đình, bạn bè đã luôn ủng hộ và động viên em hoàn thành tốt khóa
luận tốt nghiệp này.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên
khóa luận này chắc chắn không tránh khỏi có thiếu sót và hạn chế. Tác giả
khóa luận rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để
khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn!
Quảng Bình, tháng 05 năm 2014
truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc.
Quảng Bình đã có truyền thống lịch sử lâu đời. Con người nơi đây luôn luôn
biết gìn giữ và phát huy bản sắc tốt đẹp của quê hương mình. Quảng Bình là
vùng đất gắn với các di chỉ thuộc nền văn hóa Hòa Bình đến Bàu Tró, Đông Sơn
1
và Sa Huỳnh. Quảng Bình xưa kia là địa phương có nhiều di tích lịch sử như:
Thành Khu Túc, Thành Nhà Ngo (văn hóa Chămpa); hệ thống Lũy Thầy, Quảng
Bình quan. Trong thế kỷ XX, Quảng Bình xuất hiện nhiều địa danh nổi tiếng
trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ như: Cự Nẫm, Cảnh
Dương, Lệ Sơn, Cha Lo, Cổng Trời Long Đại, đường Hồ Chí Minh…Qua lịch sử
hàng trăm năm liên tục phát triển Quảng Bình đã hình thành nên nhiều làng văn
vật nổi tiếng có những đặc trưng riêng của từng cộng đồng làng xã. Đặc biệt
trong đó các làng văn vật nổi lên bát danh hương “Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn -
Võ - Cổ - Kim”. “Bát danh hương” là tám làng văn vật gồm: Lệ Sơn, La Hà,
Cảnh Dương, Thổ Ngọa, Văn La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại; chúng là hệ quả của
sự phát triển văn hóa làng xã Quảng Bình.
Từ lâu “bát danh hương” đã trở thành niềm tự hào trong mỗi người dân
Quảng Bình. “Bát danh hương” này xuất hiện từ lúc nào, thực chất là gì? Có
những tiêu chí nhất định để xác định một danh hương ở Quảng Bình hay không?
đã và đang được nhiều học giả băn khoăn đi tìm lời giải và cũng đã có không ít
nhà nghiên cứu tìm cách lý giải điều này. Là người may mắn được sinh ra và lớn
lên ở Quảng Bình có chút vốn hiểu biết văn hóa và lịch sử nên từ lâu tôi hằng ấp
ủ ước muốn đi sâu tìm hiểu những làng quê “văn vật” của tỉnh nhà được gọi là
“bát danh hương”. Đó là lý do khiến chúng tôi chọn vấn đề “Một số đặc điểm,
đặc trưng nổi bật của bát danh hương Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ -
Kim ở Quảng Bình” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình.
Mặt khác, việc chọn vấn đề trên làm đề tài nghiên cứu còn có tác dụng giúp
tác giả nâng cao hiểu biết các giá trị văn hóa và lịch sử địa phương. Hy vọng kết
quả nghiên cứu phần nào có tác dụng góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc văn
hóa tốt đẹp của quê hương Quảng Bình.
Do điều kiện thời gian, mục đích nghiên cứu, phương pháp tiếp cận khác
nhau cho nên việc làm nổi bật những đặc điểm, đặc trưng của bát danh hương
chưa được học giả nào đi sâu nghiên cứu một cách công phu.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục tiêu nghiên cứu.
Chọn vấn đề “Một số đặc điểm, đặc trưng nổi bật của bát danh hương Sơn -
Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ - Kim ở Quảng Bình” làm đề tài nghiên cứu
chúng tôi nhằm mục đích dưới đây:
- Làm rõ một số vấn đề khái niệm và đặc điểm, đặc trưng nổi bật về “bát
danh hương” ở tỉnh Quảng Bình.
3
- Giới thiệu những thành tựu văn hóa đặc sắc của “bát danh hương”
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Tìm hiểu làm rõ các thuật ngữ về “danh hương” và “bát danh hương”.
- Nghiên cứu kỹ lưỡng văn hóa từng danh hương để lựa chọn giới thiệu
những đặc điểm, đặc trưng nổi bật của từng danh hương.
- Đề xuất một số giải pháp để bảo tồn và phát huy các thành tựu văn hóa đặc
sắc của danh hương nói riêng, làng xã Quảng Bình nói chung.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
Do điều kiện thời gian, năng lực và tư liệu có hạn nên khóa luận chỉ tập
trung nghiên cứu các thành tựu văn hóa của “bát danh hương” từ khi Quảng Bình
xuất hiện danh hương thế kỷ XIX đến nay:
- Một số khái niệm liên quan đến “bát danh hương” như: Khái niệm làng,
làng văn hóa hay khái niệm về làng văn và đặc biệt là khái niệm về “danh
hương” và “bát danh hương”
- Những tiêu chí cơ bản của “bát danh hương”.
Trên cơ sở nghiên cứu đó chúng tôi đi sâu làm rõ những nét đặc điểm, đặc
trưng nổi bật của tám làng nổi tiếng ở Quảng Bình đó là: “Sơn - Hà - Cảnh - Thổ
- Văn - Võ - Cổ - Kim”.
5. Phương pháp nghiên cứu.
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH “BÁT DANH HƯƠNG”
Ở QUẢNG BÌNH
1.1. Quá trình hình thành và phát triển của làng xã người Việt ở Quảng
Bình từ thế kỷ XI - XIX.
Dưới thời kỳ nước Đại Cồ Việt và 15 năm đầu của nước Đại Việt (1054 -
1069), lãnh thổ nước ta về phía Nam chỉ mới đến Hoành Sơn (Đèo Ngang). Năm
1069, Chiêm Thành đem quân ra cướp phá Nghệ An, Vua Lý Thánh Tông cùng
Lý Thường Kiệt xuất chinh đánh Chiêm Thành. Quân đội nhà Lý đánh bại
Chiêm Thành, bắt sống vua Chiêm là Chế Củ. Để chuộc mạng Chế Củ phải cắt
ba châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh cho Đại Việt. Năm 1074, quân Chiêm lại
tấn công chiếm lại ba châu. Năm 1075, nhà Lý cử Lý Thường Kiệt đưa quân
đánh lấy lại ba châu. Lý Thường Kiệt bèn cho vẽ địa đồ và mộ dân phía Bắc khai
hoang lập làng. Nhờ đợt di dân đầu tiên này mà một số làng Việt đầu tiên được
xác lập trên đất Quảng Bình và Bắc Quảng Trị.
“Từ năm 1069 đến thế kỷ XIV, Quảng Bình là vùng đất biên viễn phía Nam
của Đại Việt, có vị trí trọng yếu nhưng tính đến cuối thế kỷ XIV, cư dân nơi đây
vẫn còn rất thưa thớt. Do đó nhà Trần đã ban hành chính sách khuyến khích các
quan lại quý tộc mộ dân khai hoang lập điền trang. Chính sách này đưa tới đợt di
dân thứ hai đến khu vực thứ hai phía Nam Quảng Bình (Hoàng Hối Khanh mộ
dân nghèo khai khẩn lập điền trang ở Lệ Thủy). Một số các tướng tá, binh lính
vào trấn giữ ở Quảng Bình sau khi xuất ngũ cũng ở lại khai khẩn đất hoang lập
nên làng xóm, thôn ấp để sinh sống. Nhờ có sự phát triển nhất định về cư dân và
xã hội mà trong thế kỷ XIV nhà Trần đã nâng Lâm Bình từ cấp châu lên cấp
phủ”[5;251]. “Năm 1366, Phạm A Song được phong làm Đại tri phủ Lâm Bình.
Năm 1375, nhà Trần đổi phủ Lâm Bình thành phủ Tân Bình. Năm 1397, nhà
Trần đổi phủ Tân Bình làm trấn Tây Bình”.
“Nhà Hồ lên cầm quyền trong những năm 1400 - 1407, tiếp tục chủ trương
vận động quan lại mộ dân nghèo ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ vào khai khẩn đất
hoang lập làng xã ở hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam. Do đó có đợt di dân thứ
Huyện châu
Thời Hồng Đức định
bản đồ (1490)
Thời Dương Văn An
viết Ô châu cận lục
(1553 - 1555)
Xã Thôn Trang Xã Thôn Trang
Châu Bố Chính (Q. Trạch,
Tuyên Hóa, Minh Hóa)
64 24 20 69 0 0
Huyện Lệ Thủy 28 0 2 32 0 1
Huyện Khang Lộc (H. Quảng
Ninh)
80 0 0 75 7 0
“Qua so sánh số lượng các làng xã từng huyện ở hai thời gian trên chúng ta
thấy châu Bố Chính số làng tăng 5 làng nhưng số thôn, phường, trang lại triệt
tiêu phải chăng là một số thôn, trang được sát nhập vào các làng lân cận hoặc
phát triển lên thành làng mới. Huyện Lệ Thủy số làng tăng lên 4, số thôn tăng lên
1 nhưng số trang lại giảm đến mức triệt tiêu. Huyện Khang Lộc số làng giảm 5
mà số thôn tăng lên 7 sự thay đổi nhỏ này chỉ có thể là một số làng đã tụt xuống
cấp thôn mà gần như không có sự thành lập thêm các làng mới. Năm 1558 khi
vào trấn thủ xứ Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng vận động chiêu mộ khá đông nhân
dân ở Thanh Hóa, Nghệ An cùng vào mặt khác năm 1558, 1559 khu vực Thanh
Hóa, Nghệ Tĩnh đói lớn nên nhân dân dắt nhau vào xứ Thuận Hóa khá đông do
đó có đợt di dân thứ 5 đến Quảng Bình. Tuy nhiên qua khảo sát quá trình hình
thành làng xã thì số làng xã mới thành lập ở Quảng Bình giai đoạn này không
nhiều. Từ những căn cứ trên chúng ta có cơ sở để kết luận rằng đến đầu thế kỷ
XVI, về cơ bản hầu hết những nơi đất đai thuận tiện cho con người sinh cơ lập
nghiệp ở Quảng Bình đều đã được khai khẩn hệ thống làng xã được thành lập đi
vào ổn định và phát triển.
tới 4 vị đỗ đại khoa. Tuy nhiên trong số các làng khoa bảng đó lại chỉ có La Hà
và Cảnh Dương là được xếp vào nhóm các danh hương của tỉnh Quảng Bình.
Qua khảo sát tám danh hương “Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ -
Kim” so sánh với các làng khoa bảng khác; chúng ta có thể khẳng định rằng: ở
Quảng Bình khái niệm danh hương không đơn thuần chỉ có nghĩa là để vinh danh
một làng nổi tiếng về khoa cử hay một lĩnh vực nào đó. Mà danh hương ở Quảng
Bình là một khái niệm dùng để chỉ những làng văn vật gần nghĩa với “làng văn”
ở xứ Thanh và Bắc Bộ. Để hiểu một cách đầy đủ và chính xác về danh hương
văn vật của Quảng Bình chúng ta tìm hiểu thêm về khái niệm “văn vật”. Trong
giáo trình “Lịch sử văn hóa Việt Nam” tiến sĩ Huỳnh Công Bá giải nghĩa khái
9
niệm văn vật: theo nghĩa chữ Hán thì văn là vẻ đẹp, vật là vật chất, văn vật là di
sản văn hóa với số lượng di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và các danh nhân
dồi dào phong phú. Văn vật còn hàm chứa nghĩa là nơi có bề dày quá khứ và
mang tính nhân bản sâu sắc”.
Tóm lại, các danh hương ở Quảng Bình là những làng văn vật với nghĩa là
những làng có bề dày lịch sử, nổi trội trên nhiều phương diện từ khoa cử đến di
tích, danh lam thắng cảnh, có sinh hoạt văn hóa, học thuật đặc sắc, lại có nhiều
danh nhân hoặc trai tài gái sắc, có lễ hội phong phú”[5;254].
1.3. Tứ danh hương, bát danh hương ở Quảng Bình có từ bao giờ ?
“Qua tìm hiểu, nghiên cứu các thư tịch cổ chúng tôi thấy rằng các cụm từ
“tứ danh hương”, “bát danh hương” ở Quảng Bình chỉ mới bắt đầu xuất hiện từ
đời Minh Mạng trở lại đây mà thôi. Các tác phẩm “Dư địa chí”, “Ô châu cận
lục”, “Phủ biên tạp lục”, “Phương Đình địa dư chí”, “Hoàng Việt địa dư chí”,
“Lịch triều hiến chương loại chí” khi viết về Quảng Bình đều chưa một lần đề
cập đến các cụm từ này. Phải từ các triều Minh Mạng đến Tự Đức (1820-1883)
thuật ngữ danh hương bắt đầu lộ diện mà bằng chứng là lần đầu tiên “tứ danh
hương” được các tác giả sách “Đại Nam nhất thống chí” nhắc tới. Trong tập 2
tỉnh Quảng Bình; ở phần phong tục có chép: “ bốn xã Sơn - Hà - Cảnh - Thổ
(Lệ Sơn và La Hà thuộc huyện Minh Chính, Cảnh Dương và Thổ Ngọa thuộc
+ Tên làng: Vừa có tên Nôm, vừa có tên Hán Việt
+ Cấu trúc vật chất và hình thức của làng gồm nhà cửa, ruộng vườn, lũy tre
làng, đình làng, chợ làng, chùa, hệ thống điểm canh, cổng làng
+ Cấu trúc xã hội của làng gồm: dân cư sống thành từng hộ, hộ là đơn vị xã
hội nhỏ nhất (gia đình), trên hộ xóm ngõ, gắn với gia đình là tộc họ.
Làng là nơi chôn rau cắt rốn của mỗi người dưới lũy tre làng có cha mẹ ông
bà tổ tiên, tình làng nghĩa xóm. Làng đóng vai trò tích cực trong sự bảo tồn và
phát triển văn hóa dân tộc, làng là pháo đài kiên cố ngăn cản sự du nhập và đồng
hóa của văn hóa ngoại bang, vì thế làng là nơi lưu giữ bản sắc văn hóa dân tộc, chi
phối sâu sắc tư tưởng tình cảm của con người và nhiều hoạt động văn hóa xã hội.
Ở nước ta có rất nhiều làng quê mỗi làng mỗi vẽ được phân loại theo nhiều
loại tiêu chí khác nhau như phân loại làng theo nghề nghiệp, làng nông nghiệp,
làng chài, làng thủ công.
11
Có kiểu phân loại khác dựa trên đặc điểm nổi bật về văn hóa như: Làng
thượng võ, làng văn…
Quá trình hình thành làng Việt trước hết bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên
như địa lý, khí hậu, thủy văn, cảnh quan, môi trường, sinh thái…Tiếp theo là sự
tác động của các mối quan hệ xã hội như họ hàng, nghề nghiệp, nếp sống, tôn
giáo, tục lệ tập quán. Do đó giữa các làng bên cạnh nét tương đồng là những dị
biệt không làng nào giống làng nào về mặt địa thế, diện tích, hướng làng, số hộ,
số dân, các mặt sinh hoạt thậm chí nói một ngôn ngữ nhưng lại khác nhau về thổ
âm, thổ ngữ. Các dị biệt đó hun đúc nên đặc điểm tính cách tâm lý khác nhau
giữa các làng.
Làng hình thành theo nhiều cách song thường là do một nhóm người tìm
đến khai phá một vùng đất lập ra. Cuộc sống của họ dần dần ổn định sinh sôi nảy
nở, lôi kéo thêm những thành viên mới đến ở và trở thành một cộng đồng, khi đó
chính quyền phong kiến với tay sai tới ghi vào sổ, biến nó thành một đơn vị hành
chính để quản lý nhằm điều động nhân binh, thu thuế và cai trị. Để làng được
công nhận là một đơn vị hành chính thì phải có các tiêu chí dưới đây:
Khảo sát kỹ bát danh hương: Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngọa, Văn
La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại chúng tôi thấy các làng này đều có các tiêu chí nói
trên. Như vậy “bát danh hương” ở Quảng Bình chính là những làng văn vật nổi
tiếng hàng đầu có các giá trị văn hóa nổi trội hơn so với các làng khác ở tỉnh
Quảng Bình.
13
CHƯƠNG 2: CÁC ĐẶC ĐIỂM, ĐẶC TRƯNG NỔI BẬT CỦA
“BÁT DANH HƯƠNG”
Nghiên cứu “bát danh hương” nhà thơ Văn Tăng đã sử dụng tám câu thơ
đường Luật đã khắc họa nên cho mỗi danh hương một đặc trưng riêng:
“Sơn ấy Lệ Sơn núi dựng thành
Hà La Hà mộng sóng viền quanh
Cảnh Dương nồm biển say câu hát
Thổ Ngọa sông Gianh ngát bãi xanh
Văn xứ Văn La long đáo địa
Võ miền Võ Xá cát trường sinh
Cổ xây lũy Cổ Hiền lưu giấu
Kim Nại tên vàng gợi nét tranh”
Để tìm hiểu các đặc điểm, đặc trưng nổi bật ấy của “bát danh hương” chúng
ta lần lượt khảo sát từng danh hương.
2.1. Làng Lệ Sơn.
2.1.1. Làng Lệ Sơn là làng nổi tiếng có truyền thống hiếu học từ xưa đến
nay.
“Làng Lệ Sơn nay thuộc xã Văn Hóa, thuộc huyện Tuyên Hóa là làng có bề
dày lịch sử với hơn 500 năm xây dựng và phát triển. Lệ Sơn là làng nổi tiếng có
truyền thống hiếu học từ xưa đến nay. Ngay từ buổi đầu lập làng, cố Lê Văn
Hành (vị Tiền khai canh làng Lệ Sơn) đã mời cụ Trần Cảnh Huống nguyên là
quan thái học ở trường Quốc tử giám nghỉ hưu tại làng Phù Kinh về làm thầy dạy
học cho con em Lệ Sơn. Cố Trần Cảnh Huống nổi tiếng là người học rộng, văn
chương uyên bác lại có phong cách sư phạm mẫu mực. Cố là người đầu tiên đến
người Lệ Sơn từ nam phụ đến lão ấu ai cũng thuộc sách Tam tự kinh và Minh
tâm bảo giám phụ nữ ai cũng thuộc Truyện Kiều…”[5;256]
“Dưới triều Nguyễn, với số lượng nho sinh đông đảo. Hầu như khoa thi
hương nào cũng có người Lệ Sơn đi thi và đã có 11 người đỗ cử nhân, hàng chục
người đỗ tú tài. Thành tích khoa bảng của Nho sinh Lệ Sơn tuy không thật xuất
sắc nhưng cũng khá ấn tượng với một giải nguyên, ba Á nguyên, có người kiên
trì theo nghiệp đèn sách tới mức tám khoa liền đỗ tú tài và có một số khác có tới
3 khoa liền đỗ tú tài. Khoa Kỷ Mão - Gia Long thứ 18, ở trường thi Trực Lệ, xã
Lệ Sơn Thượng có hai Nho sinh là Phan Nhật Thạnh và Lê Huệ cùng đỗ cử nhân.
15
Khoa thi Mậu Tý - năm Minh Mạng thứ 9, tại trường thi Thừa Thiên, Lệ Sơn
Thượng lại có hai người cùng đỗ cử nhân Lê Thời Tập (chú) đỗ Giải Nguyên và
Lê Tư Duệ (cháu) đỗ Á nguyên”[4;133].
“Qua nghiên cứu về văn hóa và giáo dục của Lệ Sơn, một số nhà nghiên
cứu cho rằng dưới chế độ phong kiến, thực dân mà ở Lệ Sơn Thượng hầu như tất
cả nam, phụ, lão, ấu đều thuộc sách Tam tự kinh và Minh tâm bảo giám, phụ nữ
ai cũng thuộc truyền Kiều, truyện Hoàng Trừ - Bà Phó, truyện Phạm Công - Cúc
Hoa”[4;133]. Đây cũng được coi là một đặc trưng thể hiện tinh thần ham học hỏi
của người dân để thoát ra khỏi tình trạng mù chữ. Cùng với việc xây dựng nếp
sống ăn ở lành mạnh, thủy chung, lịch sự có văn hóa, lại có nhiều di tích, nhiều
người khoa bảng đỗ đạt làm quan nên thời nhà Nguyễn làng Lệ Sơn được xếp
vào nhóm tứ danh hương phía bắc tỉnh Quảng Bình.
2.1.2. Lệ Sơn là làng có nhều danh sơn kỳ tú.
“Ở Lệ Sơn gắn với dãy núi đá vôi có tới gần 100 đỉnh là truyền thuyết lèn
99 chóp, Lèn Đứt chân. Dãy núi này có một loạt các đỉnh nhấp nhô uốn lượn
được các bậc trí thức làng đặt cho những cái tên rất đẹp như Thi Đàn, Họa Các,
Vũ Tọa, Thần Vì…Núi Lệ Sơn có nhiều hang động như động Chân Linh, hang
Mụ Trằn đã đi vào huyền thoại, thi ca và cổ tích. Lệ Sơn có hệ thống di tích
phong phú thờ đủ cả tiên, thánh, thần, phật (miếu Chân Linh thờ tiên nữ, Văn
thánh thờ Khổng Tử (thánh), đình làng thờ Thành hoàng và các vị Tiền hiền khai
quận công.
“Hiện nay chúng ta vẫn chưa xác định được chính xác thời gian làng Lệ Sơn
bắt đầu dựng đình song theo lôgic thì đình làng Lệ Sơn phải được xây dựng sau
khi công cuộc khai khẩn đất đai hình thành nên xóm làng đồng ruộng, thiết lập xã
hiệu và trước khi xây dựng chùa Phúc Tự (1757). Từ căn cứ này chúng ta có thể
khẳng định rằng ngôi đình làng Lệ Sơn Thượng đầu tiên được xây dựng trong
khoảng từ sau thế kỷ XVI đến trước năm 1757 là năm hoàn thành chùa Phúc Tự
và đúc chuông chùa. Theo các cụ cao niên thì Đình làng lần đầu được xây dựng ở
khu trạm Ý tế xã hiện nay thuộc thôn Đình Miệu. Đình làng lần đầu tiên chỉ là
một căn nhà gỗ 5 gian làm chủ yếu từ gỗ do nhân dân đóng góp theo đơn vị ấp
(xóm). Đình tọa lạc trên một khu đất có diện tích khoảng 600m
2
”[4;56].
“Trận lụt lớn năm Ất Sửu 1865 đã đẩy đình làng trôi dạt về nằm lại khu đất
cao ráo ở trung tâm làng là nơi xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã (cũ) ở thôn
17
Trung Làng. Ở vị trí mới đó năm 1866, đình làng được trùng tu lần thứ nhất.
Đình được trùng tu với quy mô rộng lớn và kết cấu đẹp hơn trước, trong một
khuôn viên có diện tích gần 1000m
2
. Lần đầu trùng tu này đình được xây tường
đá. Đình có kết cấu nhà rường 5 gian 5 lòng cột, trếnh, kèo đều làm bằng gỗ mít,
gỗ lim và được chạm trổ công phu. Khi việc trùng tu đình làng hoàn tất, cố Lê
Huy Tuân lúc đó đang giữ chức Án sát sứ tỉnh Thanh Hóa đã gửi về cúng cho
làng một cái trống đại và một bức hoành phi. Trống đại có đường kính 0,8m, tang
trống dài 1,2m; bức hoành phi ở giữa khảm bốn chữ lớn “Vạn phúc du đồng” hai
bên có ghi thời gian tặng là năm Mậu Dần - Tự Đức thập cửu niên (1866) với
ước nguyện đủ loại hạnh phúc và may mắn luôn đồng hành cùng với làng Lệ
Sơn. Bức hoành phi đó ngày nay trở thành một trong những cổ vật văn hóa rất có
giá trị còn lại của làng và hiện vẫn được cất giữ tại hội trường Ủy ban nhân dân
láng xi măng trơn bóng. Khu vực tiền đình khá rộng nối liền cả 5 gian (để thông
các gian không ngăn cách) được trải chiếu là nơi lễ bái, dọn tiệc và hội họp của
quan viên. Khu vực hậu đình có mái cong vòm cuốn lộng lẫy với các hình rồng
chầu, phượng múa. Hậu đình là nơi “tối linh từ” đặt tượng thờ, vò hương, bài vị
và sắc phong của các vị thần. Hồi lang ở hai đầu là nơi để giá treo mủ áo, dù lộng
của quan viên”[4;59].
“Đình trung 5 gian rộng, vì kèo kết cấu 5 lòng kiểu nhà rường. Năm lòng
tính từ ngoài vào gồm: lòng tiền - cù, lòng tiền, lòng giữa, lòng hậu và lòng hậu -
cù. Vật liệu làm đình phần lớn là gỗ lim và gỗ mít. Cột đình gồm: 8 cột cái
đường kính chân cột khoảng 0,7m, 8 cột con đường kính chân cột khoảng 0,4m
và 4 cột cù đường kính 0,25m. Băng, xà, kèo làm đình đều chạm trỗ Long, Ly,
Qui, Phượng; đòn tay chạm cuốn thư, bầu rượu, đai kiếm, cung đàn. Phần đình
hậu được xây bàn thờ nhiều cấp. Ở bậc trên hết thờ các thiên thần gồm: Thần
nông, Sơn thần chủ quản sơn lâm,…Bậc kế tiếp thờ các nhân thần, đặt vò hương
kèm bài vị các nhân thần. Bậc kế tiếp là nơi đặt cờ, lộng, mâu kiếm, long đao và
các sắc phong của triều đình cho các vị thần là các Đức ông Thành hoàng, tiền
Khai canh, hầu Khai canh; các nhân vật khoa bảng đỗ đạt làm quan to được triều
đình sắc phong và giao cho làng cúng tế…”[4;59].
Tóm lại, trên bàn thờ ở hậu đình ngoài một số vò hương kể trên còn có các
vò hương khác để thờ cúng rất nhiều vị cả thiên thần lẫn nhân thần song hiện nay
vẫn chưa xác định được một cách chính xác và đầy đủ là đình làng còn thờ
những vị thần nào ngoài các vị thần đã kể phần trên và trật tự sắp xếp vò hương
trên bàn thờ ra sao? Tuy nhiên chúng ta có thể khẳng định chắc chắn rằng đình
làng đảm nhận ba chức năng cơ bản và quan trọng sau: Thứ nhất, đình là nơi thờ
tự cúng tế các vị Thành hoàng, Tiền Khai canh, Hậu Khai canh. Đình làng là nơi
19
tổ chức hội làng ba năm một lần vào dịp rằm tháng sáu âm lịch. Thứ ba, đình là
nơi hội họp của Quan viên, Hội đồng kỳ mục, nơi chức dịch của làng (Lý trưởng
- Xã trưởng, Phó lý, Tướng thần, Ngũ hương, Trương tuần, Cai đình) làm việc.
Miếu thờ Lê tộc đại tôn
Tại miếu thờ Sơ tổ Lê tộc đại tôn vào các ngày tết, giỗ chạp thường treo cao lá cờ
Khai canh do triều Bảo Đại cấp, xác nhận công lao khai khẩn làng Lệ Sơn của Lê
tộc”[4;75]. Ngoài ra còn có miếu thờ của các dòng họ khác như: miếu thờ họ
Trần, họ Phan, họ Phạm, họ Nguyễn, họ Bùi, họ Lương, họ Cao.
Điện thờ các Đức ông: Hoa Quận Công và Chấn Quận Công
Điện này được xây ở ấp Xuân Tổng xưa, nay thuộc thôn Xuân Sơn. Điện
được xây để thờ hai vị quan lớn là Hoa Quận công và Chấn Quận công.
“Hoa Quận công tên thật là Nguyễn Khắc Kham. Hoa Quận công là con trai
của danh tướng Nguyễn Khắt Thuần. Hoa Quận công Nguyễn Khắc Kham là một
võ tướng tài ba của quân đội Nam triều. Do lập được nhiều công trong các trận
chiến Trịnh - Mạc mà Nguyễn Khắc Kham được vua Lê phong lên hàng “Công
phụng đại thần tôn triết vương triều, quả trừ ngụy Mạc, Hựu Công phụng bản
Trung hưng khai quốc công thần. Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân, Đông
chinh tả đô đốc chưởng phụ sự trấn thủ Nghệ An - Quảng Nam đẳng xứ, Đại tư
mã tước hoa Quận công”. Hoa Quận Công được thưởng đất thực phong tại xã Lệ
Sơn Thượng”[4;70].
“Hoa Quận Công có bốn con trai thì ba người là những võ tướng cao cấp
của nhà Lê - Trịnh gồm Trà Quận công Nguyễn Trung Trực, Chấn Quận công
Nguyễn Khắc Du và hiền Quận công Nguyễn Khắc Tuân (Quân lớn tả)”[4;70].
“Chấn Quận công Nguyễn Khắc Du đương thời được triều đình Lê - Trịnh
phong chức là Công phụng đại thần Điển tướng quân uy dũng công thần Đặc tiến
phụ quốc thượng tướng quân Đô đốc phủ tước Chấn Quận công. Sau khi Chấn
Quận công mất, ngài tiếp tục được nhà vua truy thăng hàm Phó vương. Chấn
Quận công được phối thờ trong điện thờ của Hoa Quận công”[4;70].
2.1.4. Lệ Sơn có nhiều người làm quan thời phong kiến.
“Theo thống kê chưa đầy đủ làng Lệ Sơn thời phong kiến có số lượng võ
quan trên 30 người từ thượng tướng quân đến Đề đốc, Vệ úy, Phó vệ úy, Cai
đội…Thượng tướng quân có Tả phủ Trà Quận công Nguyễn Trung Trực, Cẩm y
21
vệ Đô chỉ huy sứ có Nguyễn Huy Tưởng. Đô đốc có Hoa Quận công Nguyễn
22