SKKN Giáo dục hướng nghiệp thông qua các hoạt động quan sát thực địa trong dạy học môn Địa lý khối bổ túc THPT - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG
QUAN SÁT THỰC ĐỊA TRONG DẠY HỌC MÔN ĐỊA LÝ KHỐI
BỔ TÚC THPT"
- 1 -
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp đã được Bộ giáo dục và Đào tạo đưa vào
chương trình giáo dục phổ thông nhằm giúp học sinh tìm hiểu thế giới nghề nghiệp, biết
cách tìm kiếm thông tin nghề và cơ sở đào tạo nghề cần thiết cho bản thân; biết cách tự
đánh giá năng lực bản thân, điều kiện gia đình và nhu cầu xã hội để định hướng học tập
và chọn nghề tương lai cho phù hợp.
Công tác hướng nghiệp cho học sinh cần phải có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ của cả
gia đình, nhà trường, xã hội …, trong đó nhà trường đặc biệt là những giáo viên trực tiếp
tham gia giảng dạy, đứng lớp đóng một vai trò hết sức quan trọng. Với trách nhiệm
là một giáo viên trực tiếp dạy môn Địa lý tại Trung tâm giáo dục thường xuyên Vĩnh Lộc,
bản thân luôn có sự trăn trở, tìm tòi trong công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh.
Qua quá trình giảng dạy, qua kinh nghiệm thực tiễn, tôi đã mạnh dạn đưa hoạt động giáo
dục hướng nghiệp lồng ghép vào môn học, thông qua các buổi học ngoại khóa (quan sát
thực địa), nhằm cung cấp thông tin cần thiết và giúp cho học sinh một số cách thức lựa
chọn nghề nghiệp tương lai.
Thực tiễn cho thấy thế giới nghề nghiệp rất phong phú và đa dạng, nhu cầu tìm hiểu
thông tin nghề nghiệp của học sinh rất lớn. Tuy nhiên do thời lượng có hạn và căn cứ vào
nhu cầu của học sinh, thực tế địa phương, tôi chỉ đi sâu vào hướng nghiệp cho học sinh
thông qua các hoạt động ngoại khóa, giúp học sinh trực tiếp tìm hiểu, quan sát thực tế
một số hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn địa phương.
Qua một số năm học áp dụng phương pháp học tập trên, bản thân nhận thấy đã thu được
kết quả khả quan. Vì vậy tôi đã lựa chọn làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm “ Giáo dục
hướng nghiệp thông qua các hoạt động quan sát thực địa trong dạy học môn Địa lí khối
Bổ túc trung học”.

một nghề phù hợp. Trong xã hội ngày nay, số lượng nghề ngày càng tăng, con người
không dễ dàng gì lựa chọn cho mình một nghề giữa hàng ngàn nghề khác nhau. Vì vậy,
thông qua việc tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động quan sát thực tế sẽ góp phần
giúp học sinh định hướng, lựa chọn nghề trong tương lai hiệu quả và thiết thực nhất.
2. Học sinh đánh giá đúng năng lực học tập và điều kiện kinh tế gia đình.
Hầu hết học sinh khối Bổ túc trung học đều có năng lực kiến thức học tập trung bình và
yếu. Hoàn cảnh kinh tế gia đình phần lớn gặp nhiều khó khăn. Ngoài thời gian học tập tại
trường, các em phải tham gia lao động phụ giúp gia đình. Với điều kiện kinh tế và năng
lực học tập của bản thân, để tiếp tục tham gia học tập ở một trường đại học, cao đẳng nào
đó là vấn đề hết sức khó khăn. Công tác hướng nghiệp cho học sinh thông qua các buổi
học tập ngoại khóa quan sát các hoạt động sản xuất trên địa bàn địa phương, sẽ góp phần
giúp các em có một định hướng nghề đúng với năng lực học tập cũng như sau khi tốt
- 3 -
nghiệp sớm tìm kiếm được công việc ổn định, tạo nguồn thu nhập giúp đỡ gia đình phát
triển kinh tế.
3. Góp phần xây dựng kinh tế địa phương, xây dựng nông thôn mới.
Những năm gần đây, với sự xuất hiện của nhiều ngành sản xuất mới, đặc biệt với
sự có mặt của các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp ở khu vực nông thôn đã và đang làm
cho nền kinh tế nông thôn phát triển mạnh mẽ. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động khu vực
nông thôn có sự chuyển dịch: Giảm tỉ trọng giá trị kinh tế, lao động trong lĩnh vực hoạt
động Nông- Lâm- Ngư nghiệp, tăng tỉ trọng giá trị kinh tế, lao động khu vực hoạt động
Công nghiệp- Xây dựng và Dịch vụ. Với sự xuất hiện của nhiều nhà máy, xí nghiệp tại
địa phương , lực lượng lao động đi làm ăn khác tỉnh đang có xu hướng chuyển về quê
nhà. Việc định hướng nghề cho học sinh tham gia lao động tại địa phương sinh sống, sẽ
góp phần cho công cuộc phát triển kinh tế nông thôn, tham gia vào xây dựng các tiêu trí
trong xây dựng nông thôn mới.
4. Giúp học sinh hình thành tác phong lao động công nghiệp và trong học tập.
Phần lớn học sinh Trung tâm giáo dục thường xuyên đều có xuất thân từ những gia
đình sản xuất nông nghiệp, vì vậy tác phong làm việc, học tập còn mang nặng tính tự
phát, việc tuân thủ, chấp hành kỷ luật giờ giấc chưa cao. Thông qua việc tìm hiểu, quan

trương, Chính sách của Đảng, Nhà nước và địa phương về vấn đề lao động việc làm.
Chưa thật sự nắm bắt được những tâm tư, nguyện vọng của học sinh trong lựa chọn nghề
nghiệp.
1.2, Về phía học sinh:
Sau khi tốt nghiệp, tuyệt đại đa số học sinh chỉ muốn thi vào các trường đại học,
coi con đường học đại học là hướng duy nhất có tương lai để lập thân, lập nghiệp, bất kể
đến trình độ, khả năng về mọi mặt của bản thân và gia đình như thế nào. Học sinh cũng
không chú ý đến điều kiện và yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội của địa phương, đất nước,
đến chỉ tiêu tuyển sinh, đào tạo và tuyển dụng của Nhà nước. Còn hạn chế và hoàn toàn
chưa tính đến khả năng tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp đại học.
Việc hiểu biết về nghề của học sinh còn phiến diện, sơ sài. Chưa tự đánh giá được đúng
bản thân về phẩm chất và năng lực, những đặc điểm về tâm sinh lý của bản thân, những
điểm mạnh, điểm yếu, hoàn cảnh gia đình, đặc điểm kinh tế- xã hội của địa phương, đất
nước. Do đó phần lớn học sinh có dự định chọn nghề chỉ theo một suy nghĩ duy nhất là
dựa vào ý thích cá nhân, hoàn toàn theo cảm tính chủ quan, không dựa trên đặc điểm hoạt
động của nghề.
Phần lớn học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông đều muốn thoát ly khỏi sự kèm cặp của
gia đình, để chứng tỏ mình đã thật sự là một “người lớn”, biết sống tự lập, tự chủ. Vì vậy
các em chỉ thích vào học , đi làm việc ở môi trường xa nhà. Sự hấp dẫn cuộc sống đô thị
cũng thu hút tính tò mò, háo hức nhập cuộc mà không tính, lường hết những khả năng,
hiệu quả, sự bền vững của công việc lựa chọn.
1.3, Về phía gia đình:
- 5 -
Hiện tượng bị cha mẹ, người thân trong gia đình phản đối việc chọn nghề của các em
cũng khá phổ biến. Người lớn can thiệp vào việc chọn nghề của học sinh thường do động
cơ mong muốn con, em mình chọn những nghề mà theo chủ quan của họ đó là những lĩnh
vực hoạt động mang lại lợi ích thiết thực, mong muốn con em mình thành danh, thành
đạt, nổi tiếng mà không nghĩ đến nguyện vọng, năng lực bản thân các em, gây ra sự lúng
túng trong quá trình lưạ chọn nghề phù hợp ở học sinh.
2. Hệ quả của thực trạng.

thì quá đông, nhưng chỉ tiêu tuyển sinh chỉ có hạn; sự mất cân đối về số học sinh dự thi
giữa các trường, giữa các nhóm ngành; tính trung bình mỗi thí sinh ở các tỉnh về thành
phổ để tham gia dự thi thường phải có ít nhất một phụ huynh đi kèm, chi phí cho đi lại,
ăn ở của một cặp thí sinh- phụ huynh này trong đợt thi không phải nhỏ, đây chính là gánh
nặng với nhiều gia đình, nhất là nhữnh gia đình nông dân ở khu vực nông thôn có thu
nhập thấp. Những nguyên nhân trên đã dẫn đến sự lãng phí không nhỏ về thời gian, sức
khỏe, tài chính của cả các gia đình thí sinh và các trường đại học, cao đẳng tổ chức thi
tuyển, gây khó khăn trong công tác quản lý an ninh trật tự, an toàn giao thông…
- Phần lớn số học sinh sau khi biết kết quả thi đại học, cao đẳng không như mong muốn
lại lên đường “ Nam tiến” hoặc “ Bắc tiến”, để tìm kiếm việc làm, tìm vận may ở nơi xa
sứ, số ở lại địa phương rất ít ỏi. qua theo dõi, điều tra, thống kê một số năm cho thấy:
Năm học
Số học
sinh
Thi đậu TN
Số HS ở lại
địa phương
Số học sinh tìm
việc làm tỉnh khác
SL Tỉ lệ % SL Tỉ lệ %
2008- 2009 56 05 8,93 48 85,75
2009- 2010 53 06 11,32 44 83,02
2010- 2011 60 40 66,87 16 27,00
2011- 2012 39 32 82,05 06 15,38
Những học sinh đi tìm việc làm nơi xa chủ yếu là những công việc phổ thông như: Phụ
hồ, giúp việc, bảo vệ hoặc công nhân may, dày da… với những công việc tự do, thu nhập
vừa thấp lại không ổn định, các chế độ, quyền lợi của người lao động như bảo hiểm an
toàn trong khi đang lao động,chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế không được đảm bảo
vì vậy một, hai năm trở lại đây lại có su hướng chuyển về địa phương, tham gia lao động
trong các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp.

chức điều tra thực dịa phụ thuộc rất nhiều vào trình độ kiến thức, mức độ hiểu biết về địa
lý địa phương của giáo viên và khả năng tổ chức, hướng dẫn, động viên của giáo viên
làm cho học sinh có hứng thú. Do đó yêu cầu người giáo viên phải nắm vững những đặc
điểm cơ bản về đối tượng, nghiên cứu và biết cách nghiên cứu có hệ thống. Công tác gíáo
- 8 -
dục hướng nghiệp cho học sinh thông qua các buổi học tập ngoại khóa về quan sát, điều
tra thực tế cần tiến hành thực hiện theo trình tự:
1. Công tác điều tra thăm dò:
+, Ngay đầu năm học mới, giáo viên tiến hành công tác điều tra thăm dò bằng
cách, tổ chức phát phiếu thăm dò ý kiến học sinh với nội dung:

PHIẾU THĂM DÒ CÁ NHÂN
- Họ và tên:
- Ngày sinh:
- Quê quán:
- Năng khiếu, sở trường:
- Nguyện vọng nghề nghiệp trong tương lai:
+, Giáo viên tiến hành tổng hợp theo nhóm nghề nghiệp học sinh lựa chọn.
+, Lên kế hoạch tổ chức thăm quan, điều tra thực địa một cách cụ thể, chi tiết.
2. Công tác chuẩn bị:
- Xác định mục đích, nội dung khảo sát, điều tra.
- Thời gian, địa điểm, lộ trình, phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ.
- Liên hệ với cơ sở cần điều tra khảo sát, nắm bắt các thông tin cần thiết về đối tượng
trước khi tiến hành tổ chức khảo sát, điều tra.
- Dự kiến phương pháp sử dụng chủ yếu, chuẩn bị các dụng cụ cần thiết phụ vụ cho
công tác điều tra, khảo sát.
- Dự kiến hình thức tổ chức, sự chuẩn bị của các nhóm, tổ.
3. Tiến hành khảo sát, điều tra:
- Đến điạ điểm khảo sát, điều tra.
- Tiến hành khảo sát, điều tra thông qua quan sát, điều tra thực địa, thu thập thông tin.

- Lộ trình đi: Từ Trung tâm GDTX Vĩnh Lộc theo quốc lộ 217 về phía Đông 13,5
km.
Phương tiện: Xe buyt, phương tiện phục vụ giấy, bút, máy ảnh, máy ghi âm.
- Những thông tin cơ bản cung cấp cho học sinh trước khi tiến hành khảo sát, điều
tra: Đây là nhà máy sản xuất gạch tuy nen được thành lập năm 2009 dưới hình thức cổ
- 10 -
phần hóa, có diện tích 10,5 ha, phương thức sản xuất hiện đại, sản xuất theo dây truyền
máy móc tiên tiến. Sản phẩm chủ yếu là gạch, ngói, gạch men, gạch lát hoa… Tổng sản
phẩm đạt 35 đến 40 tỉ đồng/ năm, lao động cố định 450 công nhân, mức lương trung bình
từ 2,5 đến 4,2 triệu đồng/ người/ tháng.
c. Tiến hành khảo sát, điều tra.
-Khi đến địa điểm khảo sát giáo viên phân học sinh thành 3 tổ để tiến hành công
việc:
Tổ 1.Quan sát, điều tra, tìm hiểu về cơ sở hạ tầng, kỹ thuật của nhà máy gồm: Vị
trí địa lý, phạm vi ranh giới, hệ thống điện, nước, nhà
xưởng, mức độ ảnh hưởng môi trường…
Tổ 2. Quan sát, điều tra, tìm hiểu quy trình sản xuất sản phẩm của nhà máy gồm:
Hệ thống giây truyền máy móc, công đoạn sản xuất, năng xuất lao động, những thao tác
cơ bản của người lao động…
Tổ 3. Quan sát, điều tra, tìm hiểu về nội quy, quy định, quyền lợi, kỹ luật lao động.
d, Tổng hợp buổi khảo sat, điều tra.
Sau thời gian trực tiếp khảo sát, điều tra, quan sát, giáo viên tập trung các nhóm, tổ và
tiến hành thảo luận lớp. Đại diện các tổ báo cáo kết quả làm việc của tổ mình. Tiến hành
thảo luận lớp làm rõ những vấn đề, nội dung cơ bản của buổi khảo sát, điều tra và viết
báo cáo tổng hợp với các nội dung về những việc đã thực hiện, kết quả công việc, liên hệ
thực tiễn…
` Ví dụ 2: Khảo sát điều tra công ty may
a, Mục tiêu khảo sát, điều tra:
- Sau buổi khảo sát, học sinh năm vững kiến thức đặc điểm của ngành sản xuất công
nghiệp dệt- may.

ty về quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động và người sử dụng lao động : Thời gian và
hình thức lao động, mức lương trung bình, việc thực hiện các chế độ BHXH, BHYT…
quyền lợi của người lao động.
d, Tổng hợp buổi khảo sát, điều tra:
- Sau thời gian khảo sát, điều tra giáo viên tập trung lớp, đại diện nhóm, tổ báo cáo kết
quả quan sát, khảo sát, điều tra của tổ. Tiến hành thảo luận lớp và viết báo cáo tổng hợp.
Ví dụ 3. Quan sát điều tra tìm hiểu cơ sở chế biến Gỗ- Mộc dân dụng.
a, Mục tiêu
- Sau buổi khảo sát điều tra học sinh nắm rõ đặc điểm của ngành sản xuất chế biến lâm
sản.
- Trực tiếp quan sát tìm hiểu các thao tác lao động cụ thể.
- 12 -
- Củng cố kiến thức địa lí công nghiệp và địa lí địa phương lớp 10, 12.
- Bổ sung, tìm hiểu kiến thức nghề
b. Chuẩn bị kế hoạch khảo sát, điều tra:
- Xác dịnh địa điểm : Cơ sở chế biến gỗ - mộc dân dụng Quang Thắng xã Vĩnh Thành -
Huyện Vĩnh lộc.
-Thời gian : 1 buổi
- Lộ trình : Từ trung tâm GDTX đến quốc lộ 217 phía Tây 2 km
- Phương tiện: Xe đạp, các dụng cụ phục vụ, giấy, bút, máy ảnh, máy ghi âm…
- Một số thông tin cung cấp: Là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tổng lao
động cố định 46, mức lương trung bình từ 2,7 – 4,5 triệu đồng / người/ tháng, các sản
phẩm chủ yếu: Gỗ xẻ, mộc dân dụng…
c, Tiến hành khảo sát, điều tra:
Khi đến địa điểm, giáo viên phân chia thành hai nhóm và tiến hành giao nhiệm vụ cụ thể
cho các nhóm.
Nhóm 1: Quan sát, tìn hiểu cơ sở vật chất: Nhà xưởng, máy móc, các thao tác, hoạt động
của người lao động.
Nhóm 2: Quan sát, tìm hiểu các chế độ, quyền lợi lao động, mức độ ảnh hưởng tới môi
trường.

của đất nước, địa phương. Từ đó tìm hiểu và đánh giá đúng bản thân và xác định lựa chọn
cho mình một nghề phù hợp.
2. Kết quả.
Qua việc áp dụng phương pháp khảo sát, điều tra trong giáo dục hướng nghiệp cho
học sinh phổ thông trung học kết quả về công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
trong Trung tâm đã có nhiều biến chuyển theo chiều hướng tích cực. Số học sinh tham
gia hoạt động ngoại khóa ngày một đông, kỹ năng quan sát thực tế được nâng lên, tự bản
thân các em sau các buổi tham gia quan sát, điều tra, khảo sát dần xác định, định hướng
được cho mình một nghề phù hợp kết quả theo dõi, tổng hợp cho thấy:

Năm học

Tổng số HS
Tổng số HS tham gia
Khảo sát, điều tra
Số lượng Tỉ lệ
- 14 -
2010- 2011 166 123 74,10
2011- 2012 180 175 97,22
2012- 2013 172 169 98,26
Số học sinh đã đánh giá đúng năng lực của bản thân, điều kiện kinh tế gia đình, nhu
cầu phát triển nguồn nhân lực taị địa phương tăng lên vì vậy sau khi tốt nghiệp lớp 12, số
lượng học sinh tham gia thi tuyển vào các trường đại học, cao đẳng có chiều hướng giảm,
số học sinh tham gia vào các lớp học đào tạo nghề trực tiếp và học trung cấp nghề tăng
lên:

Năm học

Tổng số
HS đậu TN


Năm học
Tổng số HS
đậu TN
Số HS làm việc
ngoài tỉnh
Số HS làm việc
tại địa phương
- 15 -
Số
lượng
Tỉ
lệ
Số
lượng
Tỉ
lệ
2010-2011 60 16 22,57 40 77,43
2011-2012 39 06 15,79 32 84,21
2012-2013( DK) 60 02 3,51 55 96,49
Thông qua các hoạt động ngoại khóa về quan sát, khảo sát, điều tra chất lượng tiếp
thu kiến thức học trong sách giáo khoa của học sinh được nâng lên rõ rệt, học sinh chủ
động trong tìm hiểu, vận dụng kiến thức, giờ học trở nên sôi nổi, hiệu quả giờ học cao.
Kết quả dự giờ và kiểm tra được phản ánh cụ thể trong một số tiết học:
Bài 45: Địa lý các ngành công nghiệp lớp 10.

Lớp Sĩ số
Mức độ
Hiểu biết Vận dụng Phân tích Tổng hợp
Số

- 16 -
Số
lượng
Tỉ
lệ
Số
lượn
g
Tỉ
lệ
Số
lượng
Tỉ
lệ
Số
lượng
Tỉ
lệ
12B 39 01 3,00 04 10,0
0
19 49,0
0
15 38,00
Qua kết quả đạt được bản thân tôi nhận thấy việc tổ chức cho học sinh trong các
giờ học ngoại khóa đặc thù môn học Địa lí đã phục vụ đắc lực trong công tác giáo dục
hướng nghiệp cho học sinh, ngoài việc cũng cố, bổ sung vào những kiến thức học trên
lớp các em còn được tiếp cận trực tiếp các hoạt động sản xuất, tạo điều kiện cho sự lưa
chọn và định hướng nghề nghiệp tương lai một cách đúng nhất.
II. Ý KIẾN ĐỀ XUẤT.
1. Về phía giáo viên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status