Tích hợp giáo dục biển đảo thông qua các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non - Pdf 49

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, tác giả đã nhận được nhiều sự giúp đỡ từ Nhà
trường, thầy cô, bạn bè và gia đình.
Xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên ThS. Nguyễn Thị Thanh
Nhàn, người đã tận tình hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này!
Xin chân thành cảm ơn Khoa Sư phạm Tiểu học - Mầm non, Khoa Khoa học Xã
hội, trường Đại học Quảng Bình đã dạy dỗ chúng em trong suốt thời gian ngồi trên ghế
nhà trường. Chính nhờ sự dạy dỗ của quý thầy cô mà em đã nhận được những kiến
thức bổ ích, đặc biệt là về chuyên ngành của mình để phục vụ cho bản thân và công
việc sau này.
Xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường Mầm non Bảo Ninh, các giáo viên trong
trường và các cháu đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình làm
đề tài khóa luận này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu song do
kiến thức còn hạn chế, thời gian không nhiều và những lí do khách quan khác nên
không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong nhận được ý kiến đóng góp của hội đồng
khoa học để đề tài khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, ngày….. tháng…..năm 2018
Tác giả

Nguyễn Thị Hải


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết
quả nghiên cứu của đề tài là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì một
công trình nào.
Tác giả

Nguyễn Thị Hải


Bảng 2.2. Mức độ thực hiện tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông
qua hoạt động học
Bảng 2.3. Nhận thức của giáo viên về thời điểm tích hợp giáo dục biển
đảo cho trẻ
Bảng 2.4. Nhận thức của giáo viên về việc lựa chọn các nội dung chủ
đề giáo dục biển đảo
Bảng 2.5 Nhận thức về việc lựa chọn hoạt động để giáo dục biển đảo
cho trẻ
Bảng 3.1. Kết quả khảo sát mức độ biểu hiện bảo vệ biển đảo của trẻ
trước thử nghiệm
Bảng 3.2 Mức độ có nhu cầu và hứng thú với việc giáo dục biển đảo
của trẻ

Số trang
15
16
17

18

19

19

20

38

40


41

Hình 3.4. Mức độ biểu hiện kĩ năng bảo vệ biển đảo của trẻ

42

Hình 3.5. Ý thức, thái độ và giữ gìn bảo vệ biển đảo của trẻ

43

Hình 3.6.Mức độ biểu hiện bảo vệ biển đảo của trẻ sau thực
nghiệm

44


MỤC LỤC
MỤC LỤC ....................................................................................................................... 1
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................................... 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................................... 3
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................................. 3
5. Đối tượng nghiên cứu .................................................................................................. 4
6. Phạm vi nghiên cứu ..................................................................................................... 4
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................. 4
8. Những đóng góp của đề tài .......................................................................................... 6
9. Cấu trúc của khóa luận ................................................................................................ 6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI.......................................................... 7
1.1. Cơ sở lý luận ............................................................................................................. 7

rất lớn. Bên cạnh đó, vùng biển Việt Nam cũng là một phần trong tuyến đường biển
nhộn nhịp bậc nhất thế giới, do đó nơi đây có tầm chiến lược cực kì quan trọng và
thường xuyên bị tranh chấp. Suốt nhiều thế kỉ qua, biển đảo là yếu tố gắn bó máu thịt
với đời sống dân tộc ta. Tuy nhiên, hiện nay tài nguyên và môi trường biển bị suy
thoái nghiêm trọng, vấn đề chủ quyền quốc gia thường xuyên bị xâm phạm. Do đó,
vấn đề vô cùng cấp thiết hiện nay là cần tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao ý thức
giữ gìn tài nguyên, môi trường biển, cũng như tăng cường hơn nữa công tác giáo dục
bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam.
Thời gian gần đây, giáo dục biển đảo bước đầu đã được giảng dạy tích hợp trọng
một số môn học ở cấp Tiểu học tại Việt Nam. Tuy nhiên, giáo dục biển đảo chỉ là một
nội dung rất nhỏ trong giáo dục môi trường. Hơn nữa, hoạt động này mới chỉ là giải
pháp tình thế, chưa có hệ thống và chưa trở thành nhiệm vụ bắt buộc trong Nhà
trường. Do đó, chất lượng, hiệu quả của giáo dục bảo vệ môi trường nói chung và giáo
dục biển đảo nói riêng còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu của quá trình phát triển
kinh tế - xã hội ở nước ta trong công cuộc hiện đại hóa và công nghiệp hóa.
Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục Mầm non là mắt xích đầu tiên, rất
quan trong và có vị trí tương đương với các bậc học khác. Việc đưa giáo dục biển đảo
vào trong trường Mầm non là vô cùng cần thiết vì điều này sẽ giúp trẻ tạo ra những
phản xạ, thói quen đầu tiên về giữ gìn môi trường sống cũng như hình thành những ý
niệm đầu tiên về quyền làm chủ của đất nước đối với vùng biển Việt Nam, từ đó góp
phần hình thành nhận thức, ý kiến và kĩ năng cho các bậc học sau này.
Tuy nhiên, việc giáo dục biển đảo cho trẻ ở các trường Mầm non vẫn chưa thực
sự được chú trọng, các biện pháp giáo dục cho trẻ vẫn chưa được áp dụng thích hợp,
do đó đòi hỏi người giáo viên phải biết cách tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông
qua các hoạt động học tập để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Kế thừa thành
quả của những người đi trước và xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã quyết định
lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tích hợp giáo dục biển đảo thông qua các hoạt động
giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non”.
1


ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”, NXB chính trị quốc
gia sự thật, Hà Nội.

2


Nguyễn Văn Long (2013), “Nguồn lợi cá rạn san hô vùng biển ven bờ Phú Yên”,
Tạp chí khoa học và Công nghệ biển, số 1 Hà Nội.
Nhiều tác giả (2011), “Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa, Trường
Sa là của Việt Nam”, NXB trẻ TP Hồ Chí Minh.
Không chỉ có các công trình nghiên cứu về biển đảo Việt Nam, liên quan đến các
vấn đề nghiên cứu của đề tài còn có một số đề tài nghiên cứu về dạy học tích hợp ở
trường Mầm non như:
Lê Thị Thanh Hà (2004) với tác phẩm“Một số biện pháp giáo dục môi trường
cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non”.
Hoàng Thị Oanh, Nguyễn Thị Xuân (2009) đã cho ra đề tài “Phương pháp cho
trẻ Mầm non khám phá khoa học về môi trường xung quanh”.
Nguyễn Thị Thanh Nhàn (2013) cũng đã nghiên cứu đề tài “Các biện pháp tích
hợp giáo dục môi trường cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động khám phá khoa học về
môi trường xung quanh”.
Như vậy, nghiên cứu vấn đề về biển đảo và giáo dục tích hợp đã được nhiều nhà
khoa học quan tâm, tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu nội dung tích
hợp giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động ở trường Mầm non.
Với đề tài này, tác giả sẽ tập hợp nghiên cứu các biện pháp để tích hợp giáo dục biển
đảo để giúp các bé những hiểu biết sơ đẳng về môi trường.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi
ở trường Mầm non, tác giả sẽ tiến hành xây dựng các biện pháp tích hợp giáo dục biển
đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động giáo dục ở trường Mầm non.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu

qua các hoạt động giáo dục.
7.2.3. Phương pháp điều tra
Đề tài sử dụng phương pháp điều tra bằng các phiếu khảo sát nhằm tìm hiểu thực
trạng giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Bảo Ninh, Đồng Hới,
Quảng Bình. Tác giả sẽ tiến hành khảo sát trên 15 giáo viên và 60 trẻ mẫu giáo lớn
trường Mầm non Bảo Ninh. Từ đó đánh giá thực trạng và làm cơ sở cho việc xây dựng
các vấn đề tích hợp giáo dục biển đảo thông qua các hoạt động giáo dục cho trẻ 5 - 6
tuổi ở trường Mầm non. Nội dung khảo sát tập hợp vào các vấn đề sau:
- Nhận thức của giáo viên về việc tích hợp giáo dục biển đảo vào các hoạt động
học tập.
- Các biện pháp mà giáo viên đã sử dụng để góp phần giáo dục biển đảo cho trẻ
thông qua các hoạt động học tập.

4


- Hiệu quả việc giáo dục biển cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua các hoạt động học tập tác
giả tiến hành khảo sát hiệu quả việc giáo dục biển cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Thực nghiệm sư phạm được tiến hành nhằm mục đích kiểm chứng lại kết quả của
việc tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua hoạt động học tập. Qua đó
chứng minh cho giả thuyết khoa học mà đề tài đã đề ra.
- Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm: Để thực hiện mục đích đề ra của
đề tài, tác giả tiến hành thực nghiệm sư phạm trên 60 trẻ 5 - 6 tuổi của Trường Mầm
non Bảo Ninh. Cụ thể là:
 Lớp mẫu giáo lớn A (lớp đối chứng) và lớp mẫu giáo lớn C (lớp thực
nghiệm).
 Lớp đối chứng và lớp thử nghiệm chúng tôi lựa chọn số trẻ bằng nhau
(đều có 30 trẻ).
 Đặc điểm trẻ ở hai lớp đối chứng và thực nghiệm tương đương nhau về

phẩm của trẻ có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài.
7.3. Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán học để phân tích, xử lí các số liệu thu thập được
về mặt định lượng, nhằm khẳng định độ tin cậy của đề tài.
8. Những đóng góp của đề tài
8.1. Ý nghĩa khoa học
- Góp phần làm phong phú hệ thống lý luận, các lý thuyết về vấn đề tích hợp giáo
dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non. Đồng thời, từ thực trạng nghiên cứu
bước đầu đã đề xuất các biện pháp tích hợp có hiệu quả.
- Đóng góp thêm số liệu, thông tin để thấy rõ hơn về thực trạng vấn đề nghiên cứu.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tư liệu tham khảo, thông tin học tập cho
các bạn sinh viên, giáo viên các khóa kế tiếp cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Góp phần mô tả thực trạng giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non.
- Bằng một số giáo án theo chủ điểm, đề tài tiến hành thực nghiệm ở một số lớp
mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) nhằm khẳng định tính khả thi của các biện pháp tích hợp giáo
dục biển đảo.
- Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo đối với các học giả, nhà khoa học,
nhà nghiên cứu, chuyên gia quan tâm đến nhà trẻ em.
9. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài các phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm có 3 phần.
Chương 1. Cơ sở khoa học của đề tài
Chương 2. Một số biện pháp tích hợp giáo dục biển đảo thông qua các hoạt động
giáo dục cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non
Chương 3. Thực nghiệm sư phạm
6


CHƯƠNG 1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận

7


- Vùng đặc quyền về kinh tế: Vùng đặc quyền về kinh tế là vùng biển hợp với
lãnh hải có chiều rộng là 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Ở vùng này, Nhà nước ta đã
có chủ quyền hoàn toàn về kinh tế nhưng vẫn để các nước khác đặt các đường ống dẫn
dầu, dây cáp ngầm và tàu thuyền, máy bay nước ngoài được tự do về hàng hải và hàng
không, đúng như các công ước quốc tế về Luật biển đã quy định [8].
- Thềm lục địa: Thềm lục địa nước ta cũng đã được Nhà nước quy định bao gồm
đáy biển và lòng đất dưới biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mở rộng ra ngoài
lãnh hải Việt Nam cho đên bờ ngoài của rìa lục địa, có độ sâu khoảng 200m hoặc hơn
nữa. Nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở không đến 200 hải lý thì thềm lục
địa được tính cho đến 200 hải lý. Nhà nước ta có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò,
khai thác, bảo vệ và quản lý các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam [8].
Như vậy, theo quan điểm mới về chủ quyền quốc gia thì Việt Nam có chủ
quyền trên một vùng biển khá rộng, khoảng 1 triệu km2 tại biển Đông.
b. Các đảo
Nước ta có trên 4.000 hòn đảo lớn nhỏ. Căn cứ vị trí chiến lược và các điều
kiện địa lý, kinh tế, dân cư người ta có thể chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:
- Hệ thống đảo tiền tiêu, có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc. Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước
ta, kiếm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế,
bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta. Đó là các đảo, quần đảo:
Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn,
Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ,…[15].
- Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Đó
là các đảo như Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc.
- Các đảo ven bờ gần đất liền, có điều kiện phát triển nghề các, du lịch và cũng
là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta. Đó là các đảo
thuộc huyện đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý

Tích hợp là định hướng dạy học trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn để học
sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm
giải quyết các nhiệm vụ học tập, đời sống, thông qua đó hình thành những kiến thức,
kĩ năng mới, phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn
đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống. Ngoài ra, tích hợp là lồng ghép các nội
dung cần thiết vào những nội dung vốn có của một môn học [6].
1.1.2.2. Quan điểm về giáo dục tích hợp
Theo quan điểm của nhiều nhà khoa học, giáo dục theo hướng tích hợp là phù
hợp và có hiệu quả với bậc học Mầm non. Như Bredekamp viết: “Việc học không chỉ
xảy ra trong một phạm vi hạn hẹp của mỗi môn học, sự học và phát triển của trẻ mang
9


tính tích hợp. Mỗi hoạt động thúc đẩy mỗi mặt phát triển nào đó đồng thời cũng tác
động đến các mặt phát triển khác”. Vậy giáo dục tích hợp được hiểu như sau:
Tích hợp không phải là đặt cạnh nhau, liên kết với nhau mà là xâm nhập, đan xen
các đối tượng hay các bộ phận của đối tượng vào nhau tạo thành một chỉnh thể.
Tất cả các yếu tố xã hội, tự nhiên và khoa học của môi trường đan quyện vào
nhau tạo thành môi trường sống phong phú của trẻ. Xuất phát từ quan điểm này mà
chương trình giáo dục trẻ nhỏ được xây dựng theo nguyên tắc tích hợp chủ đề. Giáo
dục tích hợp hay dạy học tích hợp nhấn mạnh việc kết hợp nhiều nội dung giáo dục (xã
hội, tự nhiên, khoa học) thông qua các hoạt động tích cực của cá nhân trẻ với môi
trường sống của mình. Với cách học này, trẻ được học một cách tự nhiên, không có
giới hạn tuyệt đối về thời gian, không gian và môn học.
Tích hợp được thể hiện nhiều cách khác nhau bao gồm tích hợp theo chủ đề và
tích hợp trong một hoạt động. Tích hợp theo chủ đề được hiểu là việc tổ chức các hoạt
động xoay quanh nội dung một chủ đề nào đó. Tích hợp trong một hoạt động đó là:
Khi tổ chức một hoạt động nhằm thúc đẩy một mặt phát triển nào đó, giáo viên cần
chú ý tác động cùng một lúc đến nhiều mặt phát triển khác nhau của trẻ. Bên cạnh đó,
tích hợp các lĩnh vực nội dung trong một hoạt động tức là khai thác nội dung của các

xúc sự vật hiện tượng xung quanh, dạy chúng tìm kiếm cách giải thích những hiện
tượng quan sát được và có ý thức về mối quan hệ giữa chúng. Dạy trẻ quan sát (tập
trung chú ý đến hiện tượng một cách có mục đích) là phát triển ở trẻ sự chú ý. Đây là
phẩm chất tâm lý có liên quan chặt chẽ với sự phát triển trí tuệ, là điều kiện không thể
thiếu được để chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng học tập ở phổ thông.
- Giáo dục biển đảo góp phần phát triển tình cảm đạo đức cho trẻ. Giáo dục trẻ
tình yêu thiên nhiên, có thái độ giữ gìn, bảo vệ động, thực vật…Trẻ thường gắn bó và
coi trọng những gì chúng tự chăm sóc. Sự đa dạng của động thực vật ở trường Mầm
non, việc trẻ trực tiếp chăm sóc chúng sẽ hình thành những phẩm chất nhân cách quan
trọng như thái độ coi trọng lao động, biết yêu lao động, có thói quen lao động, có trách
nhiệm với công việc được giao.
- Giáo dục biển đảo góp phần phát triển thể chất và lao động. Hình thành ở trẻ
tình yêu lao động, thái độ bảo vệ tự nhiên, một số kỹ năng trồng cây và chăm sóc động
vật. Điều quan trọng là trẻ phải cảm thấy thích thú trong quá trình lao động, kết quả
lao động. Sự tiếp xúc và lao động trong tự nhiên còn cần thiết để củng cố sức khỏe của
trẻ và phát triển thể chất cho chúng (phát triển các cơ và củng cố hệ thần kinh của
chúng). Việc cho trẻ làm quen với lao động của người lớn trong tự nhiên, giáo dục sự
tôn trọng lao động của người lớn cũng góp phần hình thành ở trẻ tình yêu lao động.
-

Giáo dục biển đảo còn là phương tiện để phát triển thẩm mỹ. Cái đẹp của tự

nhiên có thể ảnh hưởng đến mọi trẻ. Khi cho trẻ làm quen với tự nhiên cần hướng sự chú
11


ý của trẻ đến sự náo nhiệt của thiên nhiên như tiếng thác, nước đổ, tiếng chim hót, tiếng
côn trùng kêu, tiếng rì rào của sóng biển, mùi vị của hoa sự vận động của động vật, thực
vật sống dưới biển. Trong quá trình đó, trẻ học được cách cảm nhận vẻ đẹp của tự nhiên
để từ đó chúng biết cảm nhận thế giới với mọi người sự hấp dẫn và đa dạng của nó.


1.2.3.2. Đặc điểm phát triển tâm lý của trẻ 5-6 tuổi
- Về phát triển ngôn ngữ
Trẻ 5 - 6 tuổi nhìn chung đã thực sự nắm vững tiếng mẹ đẻ, trẻ nắm được ý nghĩa
của từ vựng thông dụng, phát âm đúng với sự phát âm của người lớn, biết dùng ngữ
điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nói đúng hệ thống ngữ pháp khá
phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương diện cú pháp và về
phương diện tu từ, nói năng mạch lạc, thoải mái. Trẻ thích tham gia kể và nghe kể
chuyện. Trẻ hiểu được rằng ngôn ngữ có thể được viết dưới dạng các biểu tượng[18].
- Ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý
Ở lứa tuổi này, trẻ đã tự ý thức được về bản thân, về những ưu, khuyết điểm của
mình mà không cần sự đánh giá của người lớn. Trẻ tự điều chỉnh hành vi của mình phù
hợp với những chuẩn mực, những quy tắc của xã hội.
Nhờ vào hoạt động chủ đạo của lứa tuổi mẫu giáo - hoạt động vui chơi mà các
hoạt động tâm lý bên trong được biến đổi một cách rõ rệt, từ những quá trình tâm lý
không chủ định chuyển sang những quá trình tâm lý chủ định, như tri giác có chủ định,
chú ý có chủ định, ghi nhớ có chủ định…
- Sự phát triển tư duy
Cùng với kiểu tư duy trực quan - hành động của trẻ em, ở giai đoạn này đã xuất
hiện kiểu tư duy trực quan hành tượng. Tư duy của trẻ dựa vào các biểu tượng mà trẻ
đã tích lũy - đó là sự chuyển tư tưởng từ hành động định hướng bên ngoài vào hành
động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm của hành động. Kiểu tư duy này
được phát triển và chiếm ưu thế trong suốt độ tuổi mẫu giáo, đặc biệt phát triển mạnh
ở giai đoạn cuối lứa tuổi mẫu giáo (5 - 6 tuổi).
Kiểu tư duy trực quan - hình tượng phát triển mạnh mẽ, lúc này sẽ xuất hiện
một kiểu tư duy mới đó là kiểu tư duy trực quan - sơ đồ. Kiểu tư duy này sẽ giúp trẻ
em đi sâu vào các mối quan hệ phức tạp của sự vật hiện tượng, nhìn thấy được bản
chất sự vật của hiện tượng mà tư duy trực quan - hình tượng không cho phép nhìn
thấy được. Hoạt động tâm lý của trẻ giai đoạn này đặc biệt nhạy cảm với nhũng hình
tượng sinh động cụ thể về các sự vật và hiện tượng. Tư duy của trẻ còn gắn liền với

- Đặc điểm nhận thức về môi trường biển của trẻ 5-6 tuổi
Đặc trưng cơ bản của trẻ em là luôn thích tìm tòi khám phá thế giới xung quanh.
Trẻ luôn muốn khám phá các hiện tượng tự nhiên, muốn tìm hiểu về bản thân mình, trẻ
luôn đặt ra câu hỏi “Tại sao”, “Sao lại như thế”…
Tuy nhiên nhận thức của trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) về môi trường, nhất là
môi trường biển còn mang nặng cảm tính và tính trực quan hành động nên trẻ chỉ tập
trung, chú ý, ghi nhớ và tái hiện những sự vật hiện tượng mới lạ, hấp dẫn nghộ
nghĩnh …Vì vậy giáo dục biển đảo cho trẻ cần phải có những đồ dùng trực quan đẹp
mắt, cần phải cho trẻ được tiếp xúc trực tiếp với môi trường, với những tình huống
14


về môi trường cụ thể… có như vậy những kỹ năng, kiến thức về môi trường mới ăn
sâu vào tâm trí trẻ.
Trẻ mẫu giáo lớn (5 - 6 tuổi) đã có khả năng tổng hợp, phân tích và khái quát hóa
những dấu hiệu bên ngoài, trẻ nhận biết được đâu là đúng, đâu là sai, cái gì nên làm và
cái gì không nên làm. Khả năng vận dụng những điều đã nhận biết vào việc liên hệ với
cuộc sống xung quanh của trẻ được nâng lên sâu và rộng hơn, trẻ thực hiện nghiêm túc
nghĩa vụ của mình. Trẻ hiểu được ý nghĩa của việc phải giáo dục biển đảo và trẻ biết
mình phải làm gì để giữ gìn bảo vệ môi trường.
Từ những đặc điểm nhận thức của trẻ về môi trường, trong quá trình tổ chức giáo
dục trẻ cần chú ý cho trẻ được thường xuyên tiếp xúc với thiên nhiên, giao tiếp với bạn
bè và người lớn, thõa mãn những nhu cầu hiểu biết của trẻ, cần tăng cường yếu tố trực
quan sinh động trong quá trình giáo dục cho trẻ, ngoài việc cung cấp những kiến thức,
kỹ năng giáo dục, cần phải tiến hành cho trẻ được hành động trực tiếp thông qua trò
chơi hoặc giao việc cụ thể, bên cạnh đó cũng cần chú ý đến đặc điểm cá nhân của trẻ
để có biện pháp sư phạm tác động thích hợp, tránh sự gò bó, áp đặt trẻ trong quá trình
giáo dục.
Nói chung, với sự phát triển về tâm lý, thể chất cũng như trí tuệ của trẻ 5 - 6 tuổi,
chúng ta thấy rằng hoàn toàn có thể áp dụng được một số biện pháp phù hợp để giáo

nông/dịch vụ

Tuần 2
11-15/9
Trường
mầm non
của bé
9-13/10
Sinh nhật
của bé
6-10/11
Ngôi nhà
xinh của bé
11-15/12
Bác sỹ, y tá
15

Tuần 3

Tuần 4

18-22/9
Lớp mẫu
giáo của bé

25-29/9
Đồ dùng đồ
chơi của bé

16-20/10

đáng yêu

1-5/1
Những con
vật nuôi
29/1- 2/2
Bé vui đón tết

8-12/1
Động vật
dưới nước
5- 9/2
Mùa xuân

15- 19/1
Động vật sống
trong rừng

22-26/1
Côn trùng

12-16/2
Nghỉ tết

19-23/2
Nghỉ tết

Thế giới
thực vật



23-27/4
Nước

Quê hương trường Tiểu
học - Bác
Hồ

30/4-4/5
Quê hương,
danh lam…

Tết - Mùa
xuân

7-11/5
Trường Tiểu
học

26-30/3
Cây xanh
Bé thích

14-18/5
Bác Hồ kính
yêu

(Nguồn: Kế hoạch năm học 2017-2018, Trường Mầm non Bảo Ninh)
Bảng 1.2. Dự kiến tổng số hoạt động năm học 2017 - 2018 (đơn vị: tiết học)
Chủ đề

5

Ngôn
ngữ
3
3
5
3
4
1
4

Tạo
hình
3
3
4
4
3
2
5

4
3
4
3
3
1
4


2

3

Toán

26
35
28
30
28
28
(Nguồn: Kế hoạch năm học 2017-2018, Trường Mầm non Bảo Ninh)

1.2.2. Thực trạng giáo dục biển đảo cho trẻ 5 - 6 tuổi ở trường Mầm non Bảo Ninh
1.2.2.1. Giới thiệu khái quát về trường Mầm non Bảo Ninh
Trường Mầm non Bảo Ninh là trường công lập, tọa lạc tại xã vùng biển Bảo
Ninh thuộc địa phận Thành phố Đồng Hới. Đây là một trong số các trường được xây
dựng khá lâu đời và có bề dày về thành tích hoạt động. Từ những năm đầu thành lập
đến nay, trường đã phát triển một cách nhanh chóng.
Về cơ sở vật chất, trường hiện có 12 phòng học (gồm 10 phòng kiên cố ở cụm
trung tâm, 02 phòng bán kiên cố ở cụm Hà Thôn), 02 phòng chức năng (phòng Nghệ
16


thuật, Hội trường), 04 phòng làm việc (phòng Hiệu trưởng, phòng Phó hiệu trưởng,
phòng Y tế, Văn phòng), 02 phòng bếp ăn (01 phòng kiên cố và 01 bán kiên cố ở cụm
Hà Thôn). Khuôn viên Nhà trường thoáng mát, có tường rào kiên cố, môi trường sạch
sẽ, an toàn, thân thiện. Nhìn từ xa trong trường như một công viên trẻ em xinh xắn với
nhiều loại đồ chơi xích đu, cầu trượt, nhà chòi và bập bênh, sân trường rợp cây xanh và

Mức độ
Rất quan trọng
Quan trọng
Không quan trọng

Số lượng (trẻ)
Tỷ lệ (%)
10
66,7
5
33,3
0
0
(Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả)
17


Từ kết quả trên cho thấy hầu hết các giáo viên đã đánh giá cao tầm quan trọng
của việc tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông qua hoạt động học tập. Trong quá
trình tổ chức hoạt động, có 66,7% ý kiến giáo viên cho rằng việc tích hợp giáo dục
biển đảo thông qua hoạt động học tập là rất quan trọng. Còn 33,3% ý kiến là quan
trọng, không có ý kiến nào cho rằng việc tích hợp giáo dục cho trẻ thông qua hoạt
động học tập là không quan trọng. Như vậy, có thể khẳng định hoạt động học tập là
biện pháp giúp trẻ tiếp cận với môi trường một cách dễ dàng và thuận lợi nhất. Tuy
nhiên, các giáo viên mới chỉ nêu lên được tầm quan trọng của nó chứ chưa tích hợp
vào hoạt động học tập. Cho nên việc tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ ở trường Mầm
non vẫn đang còn rất hạn chế.
Nhận thức của giáo viên về mức độ thực hiện tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ
thông qua hoạt động học tập.
Sau khi phát, thu phiếu điều tra và xử lí số liệu, tác giả đã thu được kết quả nhận

chưa cao, tỷ lệ thực hiện không thường xuyên chiếm số đông là vì các giáo viên cho
rằng khi tích hợp thông qua hoạt động học tập thì phải có môi trường cho trẻ trải
nghiệm và hình thành ý thức cho trẻ ngay từ đầu thì mới đạt hiệu quả.
- Nhận thức của giáo viên về thời điểm tích hợp giáo dục biển đảo cho trẻ thông
qua hoạt động học tập
18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status