BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------------
LÊ THỊ HUYỀN TRANG
Lựa chọn và sử dụng tác phẩm văn học
giáo dục tình yêu biển đảo cho trẻ 5 – 6 tuổi
ở trường mầm non
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Hà Nội - 2016
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
STT
1
2
3
4
5
6
Chữ viết tắt
CSGD
ĐC
GDMN
LQTPVH
TN
SL
giáo..................................................................................................................18
1.2. Một số yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng TPVH giáo dục tình yêu biển đảo
cho trẻ 5-6 tuổi................................................................................................25
1.2.1. Đặc điểm tâm lý của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi..........................................25
1.2.2. Đặc điểm tiếp nhận văn học của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi........................29
1.3. Cơ sở giáo dục học..................................................................................31
1.3.1. Một số khái niệm...................................................................................31
1.3.2. Một số quan điểm giáo dục hiện đại.....................................................32
1.4. Các hình thức sử dụng tác phẩm văn học để giáo dục tình yêu biển đảo cho
trẻ mầm non.....................................................................................................35
Kết luận chương 1...........................................................................................39
Chương 2. THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG TÁC PHẨM VĂN HỌC............40
GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN ĐẢO CHO TRẺ 5-6 TUỔI...............................40
Ở TRƯỜNG MẦM NON......................................................................................40
2.1. Khái quát địa bàn điều tra........................................................................40
2.2. Mục đích nghiên cứu thực trạng..............................................................40
2.3. Đối tượng điều tra....................................................................................41
2.4. Nội dung và phương pháp điều tra..........................................................41
2.5. Tiêu chí và thang đánh giá những biểu hiện tình yêu biển đảo của trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi.....................................................................................................43
2.6. Kết quả nghiên cứu thực trạng................................................................46
Kết luận chương 2...........................................................................................59
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TÁC PHẦM............61
VĂN HỌC GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN ĐẢO CHO TRẺ 5-6 TUỔI............61
VÀ TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM........................................................................61
3.1. Lựa chọn tác phẩm văn học giáo dục tình yêu biển đảo cho trẻ 5-6 tuổi ở
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
1.1. Biên giới, Biển đảo luôn là vấn đề thời sự thu hút sự quan tâm của
mọi người. Đối với mỗi người dân Việt Nam, biển đảo quê hương như một
phần máu thịt của chính mình phải được giữ gìn và bảo vệ. Thực hiện QĐ số
373/QĐ-TTg ngày 23/3/2010 của Thủ tưởng Chính phủ về việc phê duyệt “
Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý bảo vệ bền vững Biển và
Hải đảo Việt Nam”, mỗi người dân Việt Nam đã và đang thể hiện tình yêu
của mình đối với đất nước bằng ý thức gìn giữ và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ
từ những việc làm nhỏ nhất. Đề tài biển đảo đã và luôn là nguồn cảm hứng
cho các nhà văn. Những sáng tác của họ không chỉ góp phần làm phong phú
thêm kho tàng văn học Việt Nam mà còn là phương tiện thể hiện tình yêu
với biển đảo, với đất nước và con người quê hương.
1.2. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non là bậc học
đầu tiên, là giai đoạn khởi đầu cho sự hình thành và phát triển toàn diện nhân
cách con người. Các mặt của sự phát triển toàn diện đó đan xen, hòa quyện
vào nhau, ảnh hưởng lẫn nhau mà không tách rời. Ở lứa tuổi này, với tâm hồn
thơ ngây, trong trắng, chưa có nhiều trải nghiệm cá nhân, nhận thức về thế
giới xung quanh ở mức cảm tính nên việc tiếp xúc với cái đẹp lấp lánh của
ngôn từ và trí tưởng tượng phong phú trong tác phẩm văn học thiếu nhi sẽ là
cơ sở để các em rung động và cảm nhận được vẻ đẹp về một thế giới bao la
đầy âm thanh, màu sắc và sự huyền bí. Trong một thời đại có rất nhiều
phương tiện cho con người sử dụng để nhận thức thế giới thì văn học là một
phương tiện giáo dục có ưu thế riêng rất cần được phát huy.
Không giống như các loại hình nghệ thuật khác, văn học phản ảnh đời
sống bằng chất liệu ngôn từ và bằng hình tượng nghệ thuật. Trẻ thơ vốn đã
sẵn trong đầu trí tưởng tượng phong phú nên khi gặp những yếu tố kì ảo, đẹp
đẽ trong các tác phẩm văn học thì trí tưởng tượng ở trẻ càng được thăng hoa,
giúp các em phát triển trí tuệ và thưởng thức cái đẹp, tâm hồn nhạy cảm, tinh
1
nội dung gần gũi không chỉ làm phong phú về nhận thức mà còn làm giàu tâm
2
hồn mỗi con người. Nhà tâm lý học người Nga L.X.Vugoxki cho rằng: “Tác
phẩm nghệ thuật không tách rời cuộc sống, trái lại nó phản ánh cuộc sống
một cách có nghệ thuật. Bởi thế cho trẻ được tiếp xúc với tác phẩm nghệ
thuật là việc làm cần thiết” [23.40].
Nhà nghiên cứu phê bình văn học Nga V.G.Bielinxki từng nói: "Một
tác phẩm viết cho thiếu nhi là để giáo dục mà giáo dục là một sự nghiệp vĩ
đại vì nó quyết định số phận con người" [79.41]. Qua đó khẳng định và đề cao
vai trò của TPVH trong giáo dục, đặc biệt là hình thành và phát triển nhân
cách con người.
Tác giả Phạm Minh Hoa viết:“ …trong những vần thơ, trang truyện,
trẻ sẽ được làm quen với thế giới tưởng tượng hư cấu diệu kỳ, những tri thức
cuộc sống phong phú, phát triển vốn từ,…và hơn hết là biết hướng đến những
giá trị tốt đẹp – cái Thiện trong cuộc sống” [27.24]. Những bài thơ, trang
truyện bao giờ cũng có một sức hấp dẫn kỳ lạ với trẻ lưa tuổi mầm non.
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết khẳng định:“ Nếu đứng ở phương diện sư
phạm thì có thể coi đây là một phương tiện giáo dục tuyệt vời”. Không cần
phải đao to búa lớn, không cần đến những điều răn dạy khô khan hay mệnh
lệnh áp đặt mà bằng cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của trẻ thơ, bằng chính
ngôn ngữ của các cháu, nhà thơ đã làm cho công tác giáo dục của mình trở
nên nhẹ nhàng, thấm sâu vào lòng con trẻ. Những bài thơ đó thường mang
nội dung sâu sắc và phong phú về nhiều mặt mà trẻ lại dễ dàng tiếp nhận, dễ
thuộc, dễ nhớ" [34].
Tác giả Hà Nguyễn Kim Giang cho rằng:“ Cho trẻ làm quen với văn
học góp phần mở rộng nhận thức phát triển trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo
dục thẩm mỹ, phát triển ngôn ngữ, hứng thú đọc sách, kỹ năng đọc và kể tác
phẩm cho trẻ” [28.11]. Theo tác giả văn học xây dựng hình tượng bằng chất
Nếu lựa chọn các tác phẩm văn học và có các biện pháp sử dụng thích
hợp trong các hoạt động ở trường mầm non thì sẽ phát huy được hiệu quả của
văn học trong việc giáo dục tình yêu biển đảo cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu.
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc lựa chọn và sử dụng TPVH giáo
dục tình yêu biển đảo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non.
5
5.2. Nghiên cứu thực trạng việc sử dụng TPVH giáo dục tình yêu biển
đảo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
5.3. Lựa chọn tác phẩm, đề xuất biện pháp sử dụng TPVH giáo dục
tình yêu biển đảo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non và tổ chức thực nghiệm.
7. Phạm vi nghiên cứu.
6.1. Phạm vi về tác phẩm: Các tác phẩm viết về biển đảo phù hợp với
trẻ mầm non.
6.2. Phạm vi về lứa tuổi: Qúa trình nghiên cứu được thực hiện trên trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi tại một số trường mầm non trên địa bàn huyện Văn Yên –
Tỉnh Yên Bái.
6.3. Phạm vi về tổ chức hoạt động: Nghiên cứu việc sử dụng TPVH
giáo dục tình yêu biển đảo cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non trong một số
hoạt động như:
- Hoạt động làm quen với tác phẩm văn học.
- Hoạt động khám phá khoa học.
- Hoạt động tạo hình
- Hoạt đông vui chơi
- Hoạt động tham quan, dã ngoại.
8. Phương pháp nghiên cứu.
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
Đọc, tổng hợp, phân tích, khái quát và hệ thống hóa các nguồn tài liệu
7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC LỰA CHỌN VÀ SỬ DỤNG
TÁC PHẦM VĂN HỌC GIÁO DỤC TÌNH YÊU BIỂN ĐẢO
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1. Cơ sở ngữ văn
1.1.1. Một số đặc trưng cơ bản của văn học dành cho trẻ em lứa tuổi
mầm non
Văn học thiếu nhi trong chương trình “Chăm sóc – giáo dục mầm non”,
do đối tượng phục vụ chủ yếu là trẻ lứa tuổi mầm non, những “bạn đọc” còn
chưa biết đọc, biết viết nên ngoài những tiêu chí chung của văn học thiếu nhi,
nó còn có những đặc điểm được nhấn mạnh, phù hợp với đặc điểm tâm lý,
sinh lý đặc thù của lứa tuổi này.
1.1.1.1. Đặc trưng về nội dung
Các tác phẩm văn học viết cho trẻ em không chỉ là thế giới muôn màu,
muôn vẻ của cuộc sống mà còn là những mảng đề tài lớn như: Tổ quốc, quê
hương, cách mạng, lịch sử…. cho đến những đề tài gần gũi, nhỏ bé mà các em
được tiếp xúc hàng ngày như: hoa nở, chim hót… thiên nhiên, con người hay
cả những dòng chảy của thời gian….đều có thể được tìm thấy trong các
TPVH viết cho trẻ em.
Nội dung các TPVH dành cho trẻ em vô cùng đa dạng và phong phú. Các
tác giả luôn muốn mượn lời trẻ thơ để viết lên những tác phẩm sao cho các em
dễ dàng tiếp nhận, yêu văn học dân tộc và phát triển toàn diện nhân cách.
Có thể ví tác phẩm văn học như là một bộ phận cấu thành của toàn bộ
cuốn bách khoa toàn thư về đời sống và bản thân mỗi tác phẩm cũng là một
thế giới, một xã hội thu nhỏ mà ta có thể tìm thấy muôn mặt, muôn vẻ của
cuộc đời. Có thể nói, cuộc sống có bao nhiêu "những cái gì" thì cũng có bấy
nhiêu "những cái đó" có mặt trong các trang viết của văn học thiếu nhi dành
san hô (Như Mai), Bồ Nông có hiếu (Phong Thu).... Truyện cho trẻ mầm non
được dùng để kể hoặc để các em tự đọc (rất ít trẻ có thể đọc được), vì thế
truyện không chỉ ngắn mà kết cấu cũng phải rõ ràng, mạch lạc, ngôn ngữ đối
thoại được chọn lọc kĩ càng góp phần tăng thêm sự sinh động, giúp trẻ có thể
"yên tâm" nghe kể hoặc kể lại - một đặc điểm tâm sinh lý của trẻ nà các nhà
văn luôn chú ý và "tôn trọng".
Các tác phẩm truyện dành cho trẻ em có cách dẫn truyện rất ngắn gọn
mà thu hút. Ngay cả cách vào truyện cũng rất gọn gàng, "nhanh nhẹn" như
chính sự linh hoạt, "dễ thay đổi" của các em:
"Có một chú đỗ con nằm ngủ khì trong cái chum khô ráo và tối om suốt
một năm. Một hôm, khi tỉnh dậy, Đỗ con ngạc nhiên thấy mình đang nằm
giữa những hạt đất li ti, xôm xốp. Chợt có tiếng lộp bộp bên ngoài. Đỗ con
hỏi:
- Ai đó?
Có tiếng trả lời:
12
- Cô đây!
Thì ra là cô Mưa Xuân đem nước đến tắm mát cho Đỗ con. Khi tắm
xong chú lại nhắm mắt ngủ khì...". (Chú đỗ con - Viết Linh) [29].
Hay, "Ở một nhà kia, có hai anh em thỏ xám sống cùng mẹ. Bố đi làm
xa, nên cậu nào cũng tỏ ra là đứa con biết thương mẹ nhất và đáng khen
nhiều nhất" (Ai đáng khen nhiều hơn - Phong Thu) [29].
Thể loại văn vần mà trong đó thơ là loại hình văn học được trẻ dễ học,
dễ thuộc và có thể sáng tác được. Thơ dành cho các em cũng có những đặc
điểm vừa giống, vừa khác với thơ dành cho người lớn. Nói đến thơ là nói đến
tình cảm, sự xúc cảm mãnh liệt, là "nghệ thuật bậc nhất của trí tưởng tượng".
Thơ dành cho trẻ nhỏ không chỉ giúp các em biết xúc động trước vẻ đẹp của
thiên nhiên, biết trân trọng trước việc làm tốt của con người mà còn phải giúp
ngữ và cách sử dụng ngôn ngữ trong TPVH dành cho trẻ em có những đặc
trưng riêng. Nhà thơ Tú Mỡ đã có những kinh nghiệm quý báu "Làm thơ cho
các em cũng phải cân nhắc từng từ, chọn lọc từng chữ, dùng không những
cho đúng và phải cho thật đắt, thật sướng nữa".
Sự ngắn gọn không chỉ thể hiện ở dung lượng của tác phẩm mà còn thể
hiện trong cả câu văn, câu thơ. Đối với thơ thường là những bài thơ 2 chữ, 3
chữ, 4 chữ, 5 chữ hoặc lục bát:
Chim chích bông
Bé tẹo teo
Rất hay trèo
Từ cành na
Sang cành bưởi
Sang bụi duối
(Chim chích bông - Nguyễn Viết
Bình)
Hay nói ầm ĩ
Là con bịt bầu
Hay hỏi đâu đâu
Là con chó vện
14
(Kể cho bé nghe - Trần Đăng Khoa)
Đối với truyện, sử dụng chủ yếu là câu ngắn, một cụm chủ vị, hạn chế
câu ghép, câu nhiều thành phần cú pháp:
"...Mùa đông tràn về. Từng đợt gió thổi lạnh buốt. Mây xám phủ kín bầu
trời. Không gian ảm đạm. Lá vàng trút xuống. Cành cây khẳng khiu, trơ trụi. Tia
nắng nhỏ ngày ngày cần mẫn thắp những ngọn lửa trên những cây cái bé xinh..."
(Trích truyện ngắn Tia nắng nhỏ - Nguyễn Hải Vân)
Ngoài ra TPVH dành cho trẻ em rất hồn nhiên, dễ hiểu, phải thật tự
- Hài hước, vui tươi: Chất hài hước, vui tươi vô cùng cần thiết cho cả
truyện và thơ viết cho thiếu nhi. Trẻ mầm non là lứa tuổi "học mà chơi, chơi
mà học", cuộc sống của các em luôn tràn ngập niềm vui, hồn nhiên, trong
sáng. Do vậy văn học dành cho trẻ em cũng phải luôn tạo ra những tiếng cười
hóm hỉnh, sự thích thú, tinh nghịch thì mới thu hút được các em:
15
Mèo con rình bắt
Mèo con nhanh thế
Cái đuôi của mình
Đuôi còn nhanh hơn
Vồ phải, vồ trái
Mèo dừng lại nghỉ
Đuôi chạy vòng quanh
Đuôi vẫy chờn vờn...
(Mèo con - Phong Qúy)
"...Lời qua, tiếng lại thế là hai anh em nhảy vào đánh nhau. Bỗng con giun
lại xuất hiện. Hai anh em gà lại nhảy vào bắt. Nhưng con giun lại đâu rồi?...
Chợt hai anh em cùng nhìn thấy một con chuột. Chuột ta không nén
nổi, cười to:
- Đấy là cái đuôi của tôi. Hai anh em gà thật ngốc!..."
nghệ thuật, gắn với đặc điểm tâm sinh lý để trẻ dễ dàng tiếp nhận và làm quen
một cách tốt nhất.
- Yếu tố truyện trong thơ và yếu tố thơ trong truyện: Đây cũng là
một đặc điểm khá nổi bật của các TPVH thiếu nhi. Khác với thơ viết cho
người lớn, hầu hết thơ là thơ tâm trạng bào gồm hệ thống những cảm xúc, nỗi
niềm, suy tưởng... các tác phẩm thơ ở đây còn có thể "kể" lại được. Ngoài
những truyện thơ ngắn như: Mèo đi câu cá, Nàng tiên ốc, Bồ câu và ngan...
những bài thơ ngắn cũng đều kể lại một sự việc, hiện tượng: Dán hoa tặng
mẹ, Chiếc cầu mới, Chú bò tìm bạn, Xe chữa cháy, Bướm em hỏi chị...
Nếu yếu tố truyện trong thơ giúp các em có thể nhanh chóng nắm bắt
được tác phẩm để từ đó liên hệ, phát hiện và cảm nhận được những vẻ đẹp
của thiên nhiên, cuộc sống thì yếu tố thơ trong truyện lại như một chất xúc tác
làm cho câu truyện có thêm sức lôi cuốn, hấp dẫn mạnh mẽ. Mỗi câu chuyện
viết cho các em là những bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc. Chất thơ của truyện
sẽ làm cho những bài học ấy không bị khô khan, cứng nhắc. Những truyện
như Giọng hót chim Sơn Ca, Hoa mào gà, Giọt nước Tí Xíu, Chú Đỗ con, Bồ
Nông có hiếu, Cây gạo... chẳng khác nào những bài thơ bằng văn xuôi.Cùng
với chất thơ bay bổng, ý nghĩa của câu chuyện có thể sẽ còn theo các em mãi
trong cuộc đời.
17
1.1.2. Ý nghĩa của tác phẩm văn học với giáo dục tình yêu biển đảo
cho trẻ mẫu giáo
1.1.2.1. Tác phẩm văn học giúp trẻ nhận biết về những miền quê có
biển và giáo dục trẻ tình yêu với biển đảo
TPVH viết về biển đảo là sự song hành của bề dày truyền thống với
tính thời sự, qua đó giáo dục trẻ tình yêu với biển đảo quê hương, mà trước
hết là biển rộng bao la của đất nước:
Biển rộng trùng trùng xanh đất nước
rất đỗi thân quen. Ngay cả những con sóng cũng khiến bé ngơ ngác, giật mình:
Bãi cát dài như lụa
Ngỡ nắng vàng ngủ quên
Hàng dừa nghiêng tay múa
Gọi gió lành thổi lên
(Mùa hè ở Cù Lao Chàm - Nguyễn Lãm Thắng)
Cũng rừng cây bãi cát
Cũng giếng nước cửa nhà
Đảo như làng của bé
Từ đất liền trôi ra
(Đảo - Vũ Duy Thông)
Lần đầu tiên gặp sóng
Bé sợ...chạy giật lùi
Bây giờ, bé đuổi sóng
Sóng nhẹ nhàng rút lui
(Sóng và bé - Phạm Hổ)
Hình ảnh những miền quê có biển, nơi có sóng vỗ rì rào, sóng biển lấp
lánh và thuyền đầy ắp cá mỗi chiều về:
Quê em trên bãi biển
Khuất sau rừng phi lao
Quanh năm nghe rì rào
Lá reo và sóng vỗ...
(Quê em ở vùng biển - Nhược Thủy)
Lấp lóe lửa chài sao hiện ra
May bay lóng lánh cánh buồm xa
19
Em mang sắc biển về quê đó
Sắc biển xanh trên những mái nhà
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
(Quê hương - Tế Hanh)
Bên cạnh đó là thấm thía sức mạnh, vẻ đẹp của tình đoàn kết, sắt son
nghĩa tình của mỗi người dân Việt Nam nói chung thông qua hình ảnh giọt
nước và biển lớn:
Góp lại bao ngày
Thành dòng suối nhỏ
20