LỰA CHỌN VÀ SỬ DỤNG TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN MƯỜNG ĐỂ GIÁO DỤC VĂN HÓA TRUYỀN THÔNG CHO TRẺ MẪU GIÁO LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC - Pdf 12

Lêi c¶m ¬n
Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Hòa Bình nhưng người khơi nguồn
giúp tôi tìm hiểu sâu hơn về con người và truyền thống văn hóa nơi đây để
thực hiện một việc làm có ý nghĩa với quê hương khi lựa chọn đề tài nghiên
cứu này là PGS.TS Lã Thị Bắc Lý.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn cô, người
đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành
luận văn.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Giáo dục Mầm non,
trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện cho em học
tập, nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Cao đẳng Sư phạm Hòa Bình
và bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện và giúp đỡ, động viên tôi vượt qua mọi
khó khăn trong học tập.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các học trò của tôi và lời tri ân đến
tập thể giáo viên, các cháu mẫu giáo trường Mầm non Thị trấn Cao Phong,
trường Mầm non xã Nhân Nghĩa và trường Mầm non Mường Bi đã hợp tác,
giúp đỡ tôi trong suốt quá trình khảo sát, thực hiện nhiệm vụ của đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc cùng các đồng chí quản lí các
phòng, ban Thư viện tỉnh Hòa Bình đã cung cấp cho tôi nguồn tài liệu quý
giá để tôi hoàn thiện đề tài NCKH này.
Chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp là bạn học đã chia sẻ kinh
nghiệm nghiên cứu khoa học, hỗ trợ tôi tìm kiếm tài liệu liên quan đến đề tài.
Cuối cùng, lời cảm ơn chân thành nhất tôi giành cho những người thân đã luôn
khích lệ, động viên tôi vững bước trên con đường học tập, nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 2 tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
Dương Bích Thúy
1
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CSGD : Chăm sóc giáo dục

Mường, sáng tác dân gian truyền miệng thể hiện lời ăn, tiếng nói, sinh hoạt,
tập quán… của nhân dân lao động, đó chính là bản sắc riêng, bản sắc trong
cộng đồng văn hóa Việt –Mường
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Văn học dân gian và văn học
bác học là di sản và truyền thống mà ngày nay chúng ta rất cần, là của quý
có thể góp phần làm cho đời sống xã hội của đất nước đang bị ô nhiễm
nghiêm trọng dần dần sẽ trở nên sạch sẽ và lành mạnh, dần dần tốt đẹp và
văn minh…Là nguyện vọng thiết tha và chính đáng của mọi người, mọi gia
đình, của mọi làng bản và phố phường’’(Dẫn theo Hoàng Tuấn Cư, “Tây Bắc
– Hòn ngọc văn hóa cần sớm khai thác và phát huy”[37;11]). Đối với lứa tuổi
MG, các TPVH, đặc biệt là VHDG luôn có sức hấp dẫn mạnh mẽ. Đến với
các sáng tác này chính là các em được làm quen với di sản VHTT của dân tộc,
được trở về nguồn cội, với cách đối nhân xử thế, lời ăn, tiếng nói, quan hệ
4
tình làng nghĩa xóm…Những giá trị văn hóa ấy làm phong phú thêm hành
trang cho các em bước vào cuộc sống sau này.
Mặt trái của sự phát triển kinh tế hiện nay là một vấn đề khiến dư luận
quan tâm, đặc biệt là những giá trị tinh thần của đời sống xã hội đã có phần “ô
nhiễm”. Mục tiêu của GDMN là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm,
trí tuệ, thẩm mĩ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị
cho trẻ vào học lớp 1. Cũng như một cây non, các em cần phải được vun trồng
và lớn lên trên một mảnh đất mầu mỡ, mảnh đất ấy chính là những tinh hoa
văn hóa mà cha ông ta đã dày công tạo thành truyền thống, các em chính là
những người tiếp tục gìn giữ, bảo tồn và phát huy truyền thống tốt đẹp của
dân tộc. Tuy nhiên, ở các trường MN hiện nay việc sử dụng VHDG để
GDVHTT cho trẻ chưa thực sự được quan tâm, đặc biệt là vấn đề lựa chọn và
sử dụng vốn VHDG của địa phương giúp các em hiểu thêm về mảnh đất địa
lí, truyền thống và phong tục tập quán của quê hương mình còn nhiều vấn đề
đáng bàn.
Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài “Lựa

phẩm phản ánh trọn vẹn đời sống văn hóa (vật chất, tinh thần) và dựng lại một
thời kì lịch sử hùng tráng trong cuộc vật lộn với thiên nhiên hình thành nên
bản, nên Mường như ngày nay.
Ngoài ra, tác giả Bùi Thiện còn sưu tầm và biên soạn 2 tập “Truyện dân
gian dân tộc Mường”. Có thể nói hai tập truyện này là tài sản quý để có thể
nghiên cứu, tìm hiểu vốn cổ văn học truyền miệng của người Mường.
Các tác giả: Nguyễn Thị Thanh Nga, Trần Thị Mai Lan, Khổng Thị
Kim Anh trên cơ sở tìm hiểu những nét khái quát về người Mường và tổ chức
6
xã hội truyền thống của họ, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu các giá trị văn
hóa vật chất (Ăn, uống, hút; trang phục; nhà ở; các sản phẩm từ nghề dệt…)
và văn hóa tinh thần của người Mường (Nghệ thuật dân gian; phong tục tập
quán; lễ hội…). Các tác giả đã nhận định: Tìm hiểu những nét VHTT của
người Mường, chúng ta có dịp làm quen với văn hóa của một dân tộc yêu tự
do, yêu đất nước, có nhân sinh quan trong sáng khi nhìn về vũ trụ và sức
mạnh của con người. Với những ý nghĩa nhân văn cao cả, họ luôn hướng tới
tương lai, chinh phục thiên nhiên, hòa cùng thiên nhiên để tồn tại và phát
triển. Những nghi lễ tộc người đầy lòng nhân ái, những lễ hội dân gian đầy
tính cộng đồng, những áng thơ văn trữ tình… sẽ sống mãi cùng dân tộc
Mường nơi núi rừng Tây Bắc.[34;158]
Nhà báo Nguyễn Hải với những chuyến đi thực tế và công tác ở khắp
các Mường lớn trên đất Hòa Bình là cơ duyên để ông nghiên cứu, chiêm
nghiệm thực tế về VHTT của người Mường trên đất Hòa Bình: Đã nói đến văn
hóa, cho dù văn hóa của một tộc người (cụ thể là người Mường) thì cũng là
vấn đề rất lớn, rất rộng. Vì văn hóa là xã hội, là sinh hoạt, là tất cả những gì
do con người tạo ra… Được sống, làm việc trên đất Mường Hòa Bình, qua
nhiều năm, tôi nghiệm ra rằng những phong tục tập quán của người Mường và
người Kinh giống như một cây mà có hai cành, cành la cành bổng. Cho nên,
việc tìm hiểu văn hóa Mường với tôi thực sự là một công việc lí thú. [17;5-6]
Các tác giả Pierre Grossin[60], Bùi Văn Kín[23], Vũ Ngọc Khánh[26],

vật chất và đời sống tinh thần của người Mường cổ. Việc khai thác TPVHDG
Mường nhằm GDVHTT của người Mường cho trẻ MG là việc làm rất có ý
nghĩa. Trong đề tài này, chúng tôi nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp sử
8
dụng TPVHDG Mường nhằm GD VHTT của người Mường cho trẻ MG thông
qua nhiều hoạt động giáo dục, trong đó trọng tâm là HĐ LQTPVH.
III. Mục đích nghiên cứu
Lựa chọn tác phẩm và đề xuất một số biện pháp sử dụng VHDG
Mường để GDVHTT của người Mường cho trẻ mẫu giáo
IV. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục VHTT cho trẻ mẫu giáo
2. Đối tượng nghiên cứu
Lựa chọn và sử dụng TPVHDG Mường để GDVHTT của người
Mường cho trẻ MG.
V. Giả thuyết khoa học
Nếu lựa chọn được các TPVHDG Mường phù hợp và có các biện pháp sử
dụng hợp lí sẽ nâng cao hiệu quả việc GDVHTT của người Mường cho trẻ MG.
VI. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc lựa chọn và sử dụng TPVHDG
Mường nhằm GDVHTT của người Mường cho trẻ MG.
2. Nghiên cứu thực trạng việc sử dụng TPVHDG Mường để giáo dục
VHTT của người Mường cho trẻ MG ở một số trường MN trên địa bàn tỉnh
Hòa Bình.
3. Lựa chọn những TPVHDG Mường phù hợp với việc GDVHTT của
người Mường cho trẻ MG
4. Đề xuất một số biện pháp sử dụng TPVHDG Mường để GDVHTT
của người Mường cho trẻ mẫu giáo.
5. Tổ chức TN nhằm đánh giá hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
9

1.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm của cán bộ quản lí và GV các trường MN trên
địa bàn tỉnh Hòa Bình về việc lựa chọn các TPVHDG Mường đưa vào
chương trình CSGD và các biện pháp nhằm GDVHTT của người Mường cho
trẻ MG thông qua việc sử dụng TPVHDG Mường trong các HĐ giáo dục ở
trường MN.
1.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp TN sư phạm được sử dụng nhằm kiểm chứng hiệu quả
của các biện pháp đã đề xuất và khẳng định sự phù hợp của kết quả đạt được
với giả thuyết khoa học đề ra.
1.6. Phương pháp xử lí số liệu bằng toán thống kê.
Sử dụng một số công thức toán học để xử lý các số liệu thu được trong
quá trình thực nghiệm.
IX. Đóng góp mới của đề tài
1. Về lí luận
- Xây dựng cơ sở lí luận của việc lựa chọn và sử dụng TPVHDG
Mường để giáo dục VHTT của người Mường cho trẻ mẫu giáo.
2. Về thực tiễn
- Làm rõ thực trạng việc lựa chọn và sử dụng TPVHDG Mường nhằm
GDVHTT của người Mường trong Chương trình CSGD ở trường mầm non.
- Lựa chọn những TPVHDG Mường phù hợp với việc GDVHTT của
người Mường cho trẻ MG.
11
- Đề xuất một số biện pháp sử dụng TPVHDG Mường nhằm GD
VHTT của người Mường cho trẻ mẫu giáo.
X. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba phần:
Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và kiến nghị. Phần nội dung gồm
ba chương:
Chương I: Cơ sở lí luận của việc lựa chọn và sử dụng TPVHDG

đối với chúng dường như đều rực rỡ hơn nhiều. Mặt trời chói lọi hơn, tiếng
sấm vang rền hơn, mưa to hơn và cỏ mọc cao hơn. Cả lòng người cũng rộng
mở hơn, nỗi đau thương cũng sâu sắc hơn và mảnh đất quê hương cũng chứa
13
nhiều bí ẩn hơn gấp hàng nghìn lần”. Chính bởi trẻ thơ nhìn đời bằng cặp
mắt trong trẻo, nên chúng luôn ngạc nhiên và xúc động hay nói như nữ thi sĩ
Xuân Quỳnh: Tấm lòng ấy (trẻ em) là tình thương, là lòng tốt, sự nhạy cảm
phong phú. Khi có được tấm lòng ấy ta có thể nghe được sự giận dữ của cỏ
cây trong cơn bão, nụ cười của những bông hoa mùa xuân, niềm vui của con
chim mẹ khi bay đùa vớ đàn con, sự gắng sức đầy can đảm của chú ngựa kéo
chiếc xe nặng nề lên dốc … Như vậy, trong việc tiếp nhận văn học của trẻ
MG, vấn đề tri thức và kinh nghiệm rất cần, nhưng quan trọng hơn vẫn là cảm
xúc. Đó là năng lực hóa thân của các em với cái nhìn ngây thơ, giản đơn về sự
giống nhau giữa tác phẩm và cuộc sống. Trẻ luôn cho rằng thế giới nghệ thuật
trong TPVH cũng là hiện thực ngoài đời nên dễ dàng đồng cảm và thực lòng
muốn chia sẻ.
Đặc điểm tưởng tượng của trẻ MG.
Trí tưởng tượng của trẻ MG phát triển mạnh mẽ, nhất là lứa tuổi MG
lớn. Trí tưởng tượng bay bổng giúp các em khám phá thế giới và thỏa mãn
nhu cầu nhận thức của bản thân, đặc biệt tâm hồn các em có mối giao cảm kì
lạ với truyện cổ dân gian và tưởng tượng trở thành cầu nối giữa hai thế giới
hiện thực và hư ảo. Các em tin vào thế giới huyền bí, với bao phép lạ và
ngược trở lại, những yếu tố hoang đường ấy làm cho tư duy tưởng tượng phát
triển. Nhà tâm lí học M.Arnauđôp trong cuốn “Tâm lí học sáng tạo văn học”
(1978) đã nhận định “Sáng tác hoang đường thích hợp với tư duy trẻ em -
những người chưa quen với chuyện tầm phào của cuộc sống, chưa được
những kinh nghiệm cay đắng làm cho khôn ngoan…Đối với trẻ em, những gì
làm xúc động mạnh mẽ là phương tiện duy nhất để làm cho trí tưởng tượng
và tính nhạy cảm hoạt động”
Trí tưởng tượng là một phần quan trọng của các quá trình tâm lí, nó góp

nhằm góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị VHTT tốt đẹp của
dân tộc.
Trẻ MG tư duy một cách cụ thể, gắn liền với những hình ảnh, màu sắc
và âm thanh, do đó tính cụ thể của ngôn ngữ trong tác phẩm có liên quan mật
thiết tới sự tiếp nhận văn học của trẻ. TPVHDG Mường chủ yếu do nhân dân
lao động sáng tác với lối trình diễn giản dị, mộc mạc, ngôn từ cụ thể, dễ hiểu,
các sự kiện diễn ra trong mang mầu sắc li kì, với thời gian xa vời vợi, cái
“ngày xưa” huyền bí nhưng lại hợp với tư duy “vật ngã đồng nhất” ở trẻ em:
ngày xưa các loài vật biết nói tiếng người hay lúa ngô lúc chín tự biết đi về
nhà; Mường trời với Mường đất sát nhau và xa dần là do người dân Mường
dùng chày giã gạo, mỗi lần nâng chày lên để giã thì trời nâng lên một chút và
do người mường ăn ba bữa nên càng giã gạo nhiều hơn kết quả làm cho trời
ngày càng xa đất như ngày nay…
Tóm lại, lứa tuổi MG là lứa tuổi nhạy cảm với cái đẹp và luôn khao
khát được tiếp xúc, khám phá cái đẹp. Vì vậy khi trẻ làm quen với TPVH trẻ
thường bộc lộ cảm xúc một cách trực tiếp, khao khát được nghe kể các câu
truyện cổ dân gian, được chìm đắm vào không gian lộng lẫy, kì ảo, vạn vật là
bầu bạn…. Tuy nhiên, khác với người lớn, trẻ em lứa tuổi MN chỉ có thể đọc
tác phẩm một cách gián tiếp và sự tiếp nhận TPVH của trẻ bị chi phối bởi các
quá trình tâm lí. Chính vì vậy, GV cần phải hiểu những đặc điểm tâm lí rất cơ
bản của trẻ để có thể phát huy được sức mạnh của văn học trong việc giáo dục
trẻ MG nói chung và giáo dục một số giá trị nổi bật trong VHTT của người
Mường nói riêng.
1.2. Cơ sở giáo dục học
Giáo dục VHTT cho trẻ MG cũng giống như các nội dung giáo dục
khác ở trường mầm non, cần phải được tổ chức như một quá trình sư phạm và
tuân theo hệ thống các nguyên tắc, các phương pháp dạy học.
16
Xuyên suốt trong quá trình tổ chức các hoạt động CSGD mầm non hiện
nay là quan điểm dạy học lấy trẻ em làm trung tâm, phát huy tối đa tính tích

thể khám phá các giá trị VHTT được phản ánh trong hệ thống TPVH, thì cần
xây dựng được một môi trường lớp học chứa đựng các giá trị VHTT của
người Mường hấp dẫn, kích thích hứng thú của trẻ và đồng thời tạo ra các tình
huống, đặt nhiều câu hỏi khuyến khích trẻ phải suy nghĩ để trả lời.
Quan điểm giáo dục tích hợp nhìn nhận thế giới tự nhiên, xã hội và con
người như một chỉnh thể thống nhất, các nội dung CSGD được tích hợp xoay
quanh các chủ đề gần gũi, xuất phát từ chính cuộc sống thực tế của trẻ. Đây
cũng chính là điều kiện thuận lợi để đưa các nội dung giáo dục VHTT của
người Mường vào trong chương trình CSGD trẻ ở các trường MN trong tỉnh
Hòa Bình. Trong đó, hoạt động LQTPVH là một trong những hoạt động
chiếm ưu thế, bởi VHDG Mường chính là lời ăn tiếng nói, nếp nghĩ và phản
ánh chân thực đời sống văn hóa của người Mường với các giá trị đặc sắc về
phong tục tập quán, về văn hóa ứng xử, về những lễ hội mang đậm tính nhân
văn cần được gìn giữ và phát huy.
Thực tiễn đã chứng minh, với trẻ mầm non các TPVHDG đặc biệt là
truyện cổ luôn có sức hấp dẫn kì lạ. Các em dễ tin tưởng vào những điều thần
kì, bay bổng, chân lí đơn giản về sự chiến thắng của cái thiện… Truyện kể
dân gian, âm nhạc và trò chơi dân gian là những món ăn tinh thần không thể
thiếu được với các em. Bởi vậy việc sử dụng TPVHDG Mường làm phương
tiện để giới thiệu và giáo dục VHTT của người Mường là một trong những
con đường giáo dục phù hợp.
Tóm lại, việc sử dụng TPVHDG Mường nhằm giáo dục VHTT của
người Mường cho trẻ MG để đạt được hiệu quả cần phải được tổ chức như
18
một quá trình sư phạm. Trước tiên mỗi nhà trường cần xây dựng được một
môi trường chứa đựng các giá trị VHTT để trẻ có thể HĐ, môi trường này cần
có sự chung tay xây dựng giữa phụ huynh, GV và các cấp quản lí. Bên cạnh
đó, việc tổ chức HĐ cần tuân theo những nguyên tắc và quan điểm giáo dục
hiện đại, trong đó các nội dung giáo dục VHTT phải được lựa chọn phù hợp
với độ tuổi, xuất phát từ chính cuộc sống thực tế của trẻ, thu hút được sự quan

truyền thống, một góc nhìn [16;9])
Có rất nhiều cách hiểu về khái niệm “văn hóa”, trong phạm vi nghiên
cứu của đề tài, chúng tôi lựa chọn khái niệm “văn hóa” hiểu theo nghĩa chung
và nghĩa riêng của tác giả Nguyễn Thừa Hỷ.
Theo nghĩa chung, văn hóa là toàn bộ phức hợp những mô thức ứng
xử, hệ giá trị và thành tựu của con người – xã hội trong các mối quan hệ với
môi trường thiên nhiên, quần thể cộng đồng và thế giới tâm linh
Theo nghĩa riêng, văn hóa là những nét đặc trưng của đời sống mang
tính phổ biến cho một cộng đồng người, đồng thời là bản sắc khu biệt khi đối
sánh với những cộng đồng người khác. [16;9]
1.3.2. Khái niệm “truyền thống”
Theo từ điển Tiếng Việt, từ “truyền thống” có nghĩa:
+ Danh từ: Thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ,
được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác: truyền thống yêu nước; gia đình
có truyền thống hiếu học.
+ Tính từ: có tính chất quen thuộc từ lâu đời, được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác: trang phục truyền thống; nghề thủ công truyền thống; nghi
lễ truyền thống. [40;1637]
20
Theo tác giả Hà Nhật Thăng, “truyền thống” có một số đặc trưng cơ
bản sau:
+ Đó là những giá trị tinh thần, tư tưởng, tâm lí, đạo đức… tốt đẹp, có tác
dụng củng cố, phát triển quan hệ xã hội, tạo ra sức mạnh cho con người vượt qua
khó khăn trong cuộc sống để phát triển xã hội và hoàn thiện nhân cách.
+ Truyền thống được hình thành một cách tự nhiên, trải qua một thời
gian nhất định của cuộc sống, giao lưu xã hội, hoạt động thực tế… Ví dụ như
truyền thống yêu nước nảy sinh trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, giữ
gìn giang sơn của Tổ quốc…
+ Truyền thống là những giá trị được nhiều người thừa nhận là những
giá trị tốt đẹp, cần giữ gìn, phát triển, được mọi người thực hiện như một nhu

Thứ nhất là tính giá trị (là tính chất cốt yếu của VHTT): Giống như văn
hóa nói chung, VHTT mang tính giá trị. VHTT trở thành một bộ phận thiết
yếu của cuộc sống và góp phần phát triển cuộc sống. VHTT mang tính giá trị
vì nó là chuẩn mực, là thước đo cho hành vi đạo đức, cho những quan hệ ứng
xử giữa người và người trong một cộng đồng, một giai cấp, một quốc gia, một
dân tộc nhất định.
Thứ hai là tính lưu truyền. Văn hóa nảy sinh, phát triển trong suốt chiều
dài lịch sử của dân tộc. Những giá trị của nó được chuyển giao, tiếp nối qua
nhiều thế hệ, được giữ gìn và không ngừng phát huy lên một tầm cao mới.
Thực tiễn lịch sử văn hóa Việt Nam đã chứng minh: qua hàng nghìn năm lịch
sử, các giá trị VHTT Việt Nam như chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân văn,
ý thức cộng đồng được lưu truyền, phát triển tạo thành một hệ giá trị mới của
dân tộc.
22
Thứ ba là tính ổn định, là một trong những tính chất đặc trưng của
VHTT. Những giá trị của VHTT được gạn lọc, khẳng định qua nhiều thế hệ,
nó trở thành các giá trị chân, thiện, mỹ được lịch sử thừa nhận. Nó là một
trong những hệ giá trị của văn hóa dân tộc, một thành tố ổn định của ý thức xã
hội. VHTT trở thành những khuôn mẫu được cố định hóa dưới dạng nghệ
thuật, phong tục tập quán, nghi lễ, dư luận xã hội, pháp luật. Ở nước ta, truyền
thống “tương thân, tương ái”, “lá lành đùm lá rách”… trở thành những giá trị
ổn định. Nó là những thước đo, khuôn mẫu đánh giá nhân cách con người,
hành vi của mỗi cá nhân và cả cộng đồng xã hội. (Dẫn theo các tác giả Lê
Hữu Ái, Trần Quang Ánh, “Vấn đề giáo dục giá trị VHTT cho sinh viên trong
bối cảnh hiện nay ở nước ta”, tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà
Nẵng, số 5.2008, tr 119 - 120)
Giữa truyền thống và truyền thống văn hóa có mối quan hệ thống nhất
nhưng không đồng nhất. Truyền thống mang trong nó tính hai mặt. Một mặt,
truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những gì quý giá, là cốt cách, là nền
tảng cho sự phát triển của cộng đồng dân tộc. Ở góc độ này, truyền thống

được hình thành thái độ yêu mến, biết trân trọng những thành quả lao động
của cha anh. Các em cũng chính là những nhân tố tiếp tục bổ sung những tri
thức, kinh nghiệm, tạo nên những giá trị mới để tạo thành những giá trị VHTT
truyền lại cho thế hệ sau.
Tóm lại, việc GDVHTT cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là việc làm
cần thiết, góp phần quan trọng trong việc hình thành và phát triển toàn diện
nhân cách trẻ. Và “GD hành vi văn hóa cho trẻ cần kế thừa những nét tinh
hóa đậm đà bản sắc dân tộc, đó là cốt cách ứng xử của người Việt Nam cần
được hun đúc vào lối sống của thế hệ trẻ.[47;129]
24
1.3.5. Văn hóa truyền thống của người Mường tỉnh Hòa Bình
Tỉnh Hòa Bình được thành lập cách đây không lâu (1972) nhưng “văn
hóa Hòa Bình” có một bề dày truyền thống đáng tự hào, được khẳng định là
“những giá trị to lớn để lại cho Việt Nam và thế giới”. J.Cuisinier, tiến sĩ văn
học người Pháp, người có công trình “Người Mường địa lí nhân văn và xã hội
học” nổi tiếng đã viết trong lời tựa của cuốn sách trên như sau: “Việc nghiên
cứu người Mường là cần thiết, giống như việc nghiên cứu tỉ mỉ tất cả các dân
tộc khác ở Đông Dương”[58;17]
Theo dòng chảy của lịch sử, người Mường là chủ nhân lâu đời nhất của
mảnh đất Hòa Bình (chiếm trên 60% dân số toàn tỉnh). Từ thời xa xưa, người
Mường đã cư trú ở khắp các huyện thị trên địa bàn tỉnh, nhưng mức độ phân bố
không đồng đều cả về số lượng dân và mật độ phân bố. Các trung tâm trù phú
nhất của người Mường ở Hòa Bình với những cái tên như: Mường Bi, Mường
Vang, Mường Thàng, Mường Động.(Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động)
Nói đến văn hóa Hòa Bình là nhắc đến văn hóa của người Mường trên
đất Hòa Bình. Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, dân tộc học, ngôn ngữ học và
văn hóa học… người Mường và người Việt cùng một gốc, tộc Việt – Mường
hình thành từ lâu trong lịch sử Việt Nam. Người Mường ở Hòa Bình không
chỉ gần gũi với người Việt về chủng tộc, tiếng nói và địa lí (kế cận với vùng
đồng bằng Bắc Bộ, nơi cư trú của người Việt), mà các yếu tố văn hóa cũng có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status