Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua các bài thơ cho trẻ 5 6 tuổi ở trường mầm non hoa ban mộc châu sơn la - Pdf 38

LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Vũ Tiến Dũng, người thầy
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu cho đến
khi khóa luận được Hội đồng khoa học nghiệm thu.
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu,Trung tân thông tin Thư viện, Ban
chủ nhiệm Khoa Tiểu học - Mầm non Trường Đại học Tây Bắc và các bạn sinh
viên lớp K53 Đại học giáo dục Mầm non C đã tạo điều kiện cho chúng tôi học
tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này.
Xin cảm ơn các cô giáo và các cháu mẫu giáo 5 - 6 tuổi Trường Mầm non
Hoa Ban - huyện Mộc Châu - Tỉnh Sơn La đã tạo điều kiện giúp đỡ để chúng tôi
hoàn thành khóa luận đúng thời gian.
Sơn La, tháng 5 năm 2016
Tác giả khóa luận

Vì Thị Dương


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1. Lí do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ................................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................... 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 4
5. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 4
6. Ý nghĩa của khóa luận ....................................................................................... 5
7. Cấu trúc khóa luận............................................................................................. 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ............................. 7
1.1. Cơ sở lí luận ................................................................................................... 7
1.1.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ 5 - 6 tuổi ................................................................ 7
1.1.2. Chức năng, vai trò, đặc điểm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5- 6 tuổi ........... 8
1.1.3. Đặc điểm các tác phẩm thơ dành cho thiếu nhi ........................................ 12

3.4. Phạm vi thể nghiệm ...................................................................................... 49
3.5. Mẫu thể nghiệm ............................................................................................ 49
3.6. Tiến trình thể nghiệm ................................................................................... 50
3.6.1. Các bước thể nghiệm................................................................................. 50
3.6.2. Tiêu chí đánh giá và phân loại mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ thông
qua hoạt động đọc thơ. ........................................................................................ 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................... 63
1. Kết luận ........................................................................................................... 63
2. Kiến nghị ......................................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................ 65


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Một quốc gia hùng mạnh là một quốc gia có nền giáo dục phát triển. Vì vậy
đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển bền vững, đảm bảo đào tạo một
thế hệ kế tiếp có đầy đủ phẩm chất và năng lực phục vụ cho đất nước. Đại hội
Đảng khóa IX đã khẳng định: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát
triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực của con người.
Hiện nay, giáo dục đã trở thành mối quan tâm của toàn xã hội, đặc biệt giáo
dục mầm non chiếm một vị trí quan trọng, là khâu đầu tiên trong hệ thống giáo
dục quốc dân, là bậc học đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách con người
mới xã hội chủ nghĩa.
Trẻ em hôm nay là thế giới ngày mai, trẻ em là nguồn hạnh húc của mỗi gia
đình, là tương lai của đất nước, lớp người sẽ tiếp tục sự nghiệp của ông cha để
lại, gánh vác mọi công việc xây dựng Tổ quốc. Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền
được giáo dục chăm sóc, được tồn tại và phát triển, được yêu thương trong gia
đình cộng đồng. Khi xã hội càng phát triển thì giá trị con người càng được nhận
thức và đánh giá đúng đắn, do vậy việc chăm sóc và giáo dục trẻ lại càng mang

thời dựa trên những tiếp thu, học hỏi những thành tựu nghiên cứu thành công
khác, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp phát
triển ngôn ngữ thông qua các bài thơ cho trẻ 5-6 tuổi ở trường Mầm non Hoa
Ban - Mộc Châu - Sơn La”.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ là tài sản quý báu của nhân loại. Nó tồn tại đi lên và phát triển
cùng với xã hội loài người. Nó luôn đồng hành với con người, là phương tiện
giao tiếp của con người, tồn tại bên trong xã hội loài người. Ngôn ngữ là kho
tàng trí tuệ của loài người, nó chứa đựng và làm sống lại những thành tựu to lớn
do xã hội loài người xây dựng lên, là tượng đài đầy giá trị của nền văn minh
nhân loại.
Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ được nghiên cứu rất kỹ lưỡng ở
Liên Xô (cũ) với nhiều nhà sư phạm cùng với những công trình có tính khoa
học, hiệu quả nổi tiếng, những công trình này đã vào Việt Nam khá sớm. Giáo
viên, sinh viên các trường đào tạo giáo viên mầm non đã biết đến Chikhieva.E.I
2


như một tác giả có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu về sự phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo. Ngoài ra, có nhiều tác giả chúng ta biết cũng đóng góp quan trọng
vào việc hình thành chuyên ngành phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở nước ta. Có thể kể
đến các tác giả như: Barodis.A.M với cuốn: “Phương pháp phát triển tiếng cho
trẻ”, (Nhà xuất bản Giáo dục Matxccova- 1974); Xukhin với tác phẩm: “Phát triển
lời nói cho trẻ em”,(Nhà xuất bản giáo dục Maxcova- 1974)…
Thời cổ đại có Platon, Aristote, hay như O.B.Enconhin, L.X.Vưgotxki,
V.L.Muakhina…
Những nghiên cứu tuy khác nhau nhưng luôn tìm hiểu chung về một vấn đề
đó là ngôn ngữ.
I.M.Xesênnốp, K.D.Usinxki, L.B.Vuwgotski, Piegiê… có những nghiên
cứu lý tưởng về tâm lý học ngôn ngữ, về sự phát triển ngôn ngữ của trẻ thơ.

3.1. Mục đích nghiên cứu
Qua tìm hiểu về đặc điểm của trò chơi cùng với sự phát triển của trẻ mẫu
giáo, đặc điểm tâm lí của trẻ 5- 6 tuổi, khóa luận sẽ đề xuất một số biện pháp
nâng cao việc phát triển ngôn ngữ thông qua các bài thơ cho trẻ từ 5- 6 tuổi ở
Trường Mầm non Hoa Ban.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Với mục đích nghiên cứu đã xác định như trên, khóa luận hướng tới một
số nhiệm vụ cụ thể sau:
- Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu và khảo sát thực trạng trẻ mẫu giáo ở trường mầm non;
- Đề xuất biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các bài thơ;
- Thiết kế thực nghiệm và đưa ra kết luận.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tìm hiểu sự phát triển ngôn ngữ của trẻ thông qua các bài thơ.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Trẻ từ 5 - 6 tuổi (30 trẻ)
- Giáo viên Trường Mầm non Hoa Ban
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu sách, tài liệu có liên quan đến khóa luận , đọc và hệ thống hóa các
4


tài liệu có liên quan đến cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu và các tài liệu có
liên quan đến việc nâng cao và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
5.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
5.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát ghi chép việc sử dụng các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 56 tuổi thông qua các bài thơ.
5.2.2 Phương pháp trò chuyện

gũi với trẻ nên tạo cho trẻ cảm thấy hấp dẫn và dễ hiểu, các bài có nội dung
phong phú, các tác giả đã đi tìm hiểu và tiếp nhận những sự hứng thú của trẻ.
Chương 2: Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 - 6 thông qua hoạt
động dạy thơ
Chương 2, tác giả nghiên cứu các bài thơ được đưa vào trong chương trình
giáo dục mầm non lứa tuổi 5 - 6 tuổi, đồng thời tiếp nhận về ngôn ngữ của thơ
trong chương trình chăm sóc giáo dục mầm non.
Chương 3: Thiết kế và thể nghiệm sư phạm
Ở chương này, chúng tôi đã xây dựng một số biện pháp, quy trình vận dụng
phương pháp giáo dục mầm non mới để tổ chức dạy thơ. Từ những cơ sở lí luận,
thực tiễn, chúng tôi tiễn hành thiết kế một số mẫu giáo án về thơ cho trẻ 5 - 6 tuổi.

6


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Đặc điểm tâm lí của trẻ 5 - 6 tuổi
Sự hồn nhiên vô tư, trong sáng là nét tâm lí nổi bật của trẻ, đặc biệt là trẻ
lứa tuổi mầm non. Nhìn chung ở lứa tuổi này tình cảm thống trị tất cả các mặt
hoạt động tâm lí của trẻ, chính vì vậy nhận thức của trẻ mang đậm màu sắc cảm
xúc, trẻ luôn có nhu cầu được người khác quan tâm và cũng luôn bày tỏ tình
cảm cuả mình đối với mọi người xung quanh và ngỡ ngàng trước những điều
tưởng chừng như rất đơn giản. Một bông hoa, một chiếc lá rơi, một con kiến tha
mồi hay một đêm trăng sáng cũng có thể làm trẻ xúc động một cách sâu sắc.
Chính đặc điểm dễ nhạy cảm này làm cho trẻ khi nghe kể chuyện, đọc thơ có thể
dễ dàng hóa thân vào các nhân vật trong các tác phẩm, trẻ thường có những
phản ứng trực tiếp ngay lập tức thì khi tiếp xúc với tác phẩm trẻ có thể cười hoặc
khóc, có thể sung sướng hay tức giận trước những chi tiết sự kiện của tác phẩm,

nói, trẻ em có lợi thế trong tiếp nhận cái đẹp trong văn học nghệ thuật. Chỉ cần
một cái chồi non hé mở, một chiếc mầm xinh sắn cũng có thể cho trẻ niềm vui
và sự hứng thú:
Mầm non mắt lim dim
Cố nhìn qua kẽ lá
Thấy máy bay hối hả
Thấy lất phất mưa phùn
(Võ Quảng)
Chính bởi trẻ thơ nhìn đời bằng cặp mắt trong trẻo, với tâm hồn trong sáng
nên trẻ ngạc nhiên và xúc động. ngạc nhiên và xúc động ngay cả khi nhìn thấy
một chiếc rơi, một con kiến tha mồi, một con voi nặng nề kéo gỗ nên dốc. Ta thấy
trong việc tiếp nhận tác phẩm văn học của trẻ ở lứa tuổi mầm non vấn đề tri thức
và kinh nghiệm là rất cần, nhưng quan trọng hơn là vẫn là cảm xúc, đó là năng lực
hóa thân của các nhân vật với cái gây thơ, đơn giản về sự giống nhau giữa các tác
phẩm văn học cũng là hiện thực ngoài đời nên dễ dàng muốn chia sẻ.
1.1.2. Chức năng, vai trò, đặc điểm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5- 6 tuổi
Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống của con người. Nhờ có
ngôn ngữ mà con người có thể thay đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho
8


nhau những kinh nghiệm… Lê - nin đã từng nói: con người muốn tồn tại thì phải
gắn bó với cộng đồng, giao tiếp là một đặc trưng quan trọng của con người,
ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất.
I.J.Gebb đã từng nói rằng: hệt như ngôn ngữ đã làm các việc tách con người
ra khỏi thế giới động vật, ngôn ngữ và lao động là hai yếu tố quyết định, ra đời,
tồn tại và phát triển của con người trong xã hôi.
Bác Hồ của chúng ta đã dạy: “tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô
cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng nó làm cho nó
ngày càng phổ biến rộng khắp”. (dẫn theo[13,tr.15])

và ở các lớp mẫu giáo. Việc rèn luyện diễn đạt cho trẻ qua việc đọc và kể lại tác
phẩm văn học có nội dung thông báo đầy đủ rõ ràng, dễ hiểu, ngắt nghỉ giọng
đúng chỗ, giọng nói có sắc thái biểu cảm đó là sự rèn luyện của con người nói
chung của trẻ mẫu giáo nói riêng.
Các Mác và Ăng Ghen cũng đã khẳng định: Ngôn ngữ và tư duy ra đời
cùng một lúc. Ngay từ đầu chúng đã quyện vào nhau không tách rời nhau. Ngôn
ngữ là hiện thực trực tiếp của tư duy. Nếu ngôn ngữ chỉ là những tổ hợp của âm
thanh đơn giản thì không thể trở thành phương tiện giao tiếp được, mặc dù chức
năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy, nhưng
chúng lại tồn tại độc lập với nhau.
Ngôn ngữ của con người không chỉ tồn tại ở dạng thành tiếng mà còn tồn
tại dưới dạng biểu tượng âm thanh trong não bộ, chữ viết như viết ra. Chức năng
của ngôn ngữ với tư duy không chỉ nhận ra lời nói mà cả khi con người ta suy
nghĩ thầm bên trong - ngôn ngữ cũng vẫn là phương tiện biểu hiện. Bởi vậy, con
người không thể tư duy mà không có ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là cơ sở của suy nghĩ và là công cụ của tư duy. Ngôn ngữ là thành
tố của tình cảm, tri thức, trí tuệ, đạo đức... của con người như F.De.Saussure từng
nói là toàn bộ lôgic của cuộc sống chứa đựng trong một giọt của ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là vật chất, tư duy là tinh thần. Tư duy có tính chất nhân loại còn
ngôn ngữ có tính chất dân tộc. Ngôn ngữ và tư duy ra đời cùng một lúc và
không tách rời nhau, trong một chừng mực nào đó chúng xuất hiện cùng nhau và
bổ sung cho nhau.

10


Đối với trẻ em, ngôn ngữ có vai trò quyết định đến sự phát triển tâm lý của
các em, ngôn ngữ làm phát triển tư duy. Ngược lại, tư duy càng phát triển càng
đẩy nhanh sự phát triển của ngôn ngữ.
Khi đứa trẻ đã lớn, nhận thức của trẻ phát triển. Trẻ không chỉ dừng lại ở

thuần mà phải có ngôn ngữ. Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ thể hiện được đầy đủ
những nhu cầu, nguyện vọng và tình cảm của mình. Cũng nhờ có ngôn ngữ mà
nhà giáo dục và các bậc cha mẹ có điều kiện hiểu con cháu mình hơn, để từ đó
có thể uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho trẻ những tình cảm, hành vi đạo đức
trong sáng nhất.
Thứ tư, ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mỹ
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong quá trình tác động có mục đích, có hệ
thống nhằm phát triển ở trẻ năng lực cảm thụ cái đẹp và hiểu cho đúng cái đẹp
trong tự nhiên, trong đời sống xã hội, trong nghệ thuật, giáo dục cho trẻ lòng yêu
cái đẹp và năng lực tạo ra cái đẹp.
Thật vậy, trong cuộc sống hằng ngày, khi giao tiếp với người lớn , trẻ nhận
thức được cái đẹp ở xung quanh, từ đó trẻ có thái độ tôn trọng cái đẹp và tạo ra
cái đẹp. Đặc biệt khi tiếp xúc với bộ môn nghệ thuật như: Âm nhạc, tạo hình, trẻ
có thể cảm nhận được những cái đẹp tuyệt vời của cuộc sống qua âm thanh,
đường nét,… Từ đó, giúp trẻ hiểu sâu hơn về giá trị thẩm mỹ, tâm hồn trẻ sẽ
nhạy cảm hơn với cái đẹp và khi cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học trẻ có
thể tìm thấy ở đó những hình tượng, nhân vật điển hình, mỗi nhân vật mang một
sắc thái riêng, một vẻ đẹp riêng, từ đó trẻ tự biết phải sống như thế nào.
Thứ năm, ngôn ngữ đối với việc giáo dục thể lực
Trong chế độ sinh hoạt hằng ngày giáo viên và người lớn đã dùng ngôn ngữ
để hướng dẫn trẻ thực hiện tốt những yêu cầu mà mình đề ra. Ví dụ: trong giờ
thể dục giáo viên đã dùng ngôn ngữ tạo điều kiện giúp trẻ thực hiện động tác thể
dục nhằm giúp cơ thể phát triển cân đối về chất dinh dưỡng, ngoài chế độ sinh
hoạt hằng ngày trẻ còn cần phải ăn no, ăn đủ chất dinh dưỡng, trong khi ăn
người lớn cần dùng ngôn ngữ của mình để động viên khích lệ trẻ.
1.1.3. Đặc điểm các tác phẩm thơ dành cho thiếu nhi
Là những sáng tác phù hợp với tâm lí lứa tuổi khác nhau của trẻ em, được
“nhìn đôi mắt trẻ thơ”và xuất phát từ cảm xúc hồn nhiên, trong trẻo, tự nhiên
“như trẻ thơ”. Mỗi lần sáng tác cho các em là một lần người viết được “sống lại”
12

phong phú nên khi gặp những yếu tố kì ảo, đẹp đẽ trong các tác phẩm văn học

13


thì trí tưởng tượng ở trẻ càng được thăng hoa, giúp các em phát triển trí tuệ và
thưởng thức cái đẹp, tâm hồn nhạy cảm, tinh tế hơn…
Phải phù hợp với thị hiếu, tâm lí các em và hướng dẫn tới cái đẹp chân thiện - mĩ. Trẻ em ở lứa tuổi mầm non là những “bạn đọc đặc biệt”(chưa biết
đọc, biết viết, được tiếp xúc với văn học thiếu nhi chủ yếu là qua lời đọc, lời kể
của ông bà, cha mẹ, thầy cô,…), cho nên văn học thiếu nhi viết cho các em phải
đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm lí lứa tuổi và những sở thích của trẻ nhỏ. Các
em vốn rất yêu cái cái đẹp, cái tốt, cái thực; vì vậy các nhà văn cần nắm được
những đặc điểm tâm lí của trẻ để thỏa mãn những nhu cầu ấy một cách tự nhiên.
Những hình tượng nghệ thuật, giàu giá trị nhân văn kết hợp vần điệu, nhạc điệu do
các nhà văn dày công sáng tạo trong tác phẩm sẽ gây được những ấn tượng sâu sắc
trong tâm hồn trẻ thơ, tác động nhẹ nhàng đến nhận thức, tư tưởng tình cảm ở trẻ.
Các tác phẩm thơ có vai trò quan trọng trong việc phát triển ngôn ngữ cho
trẻ. Văn học thiếu nhi như một người bạn đồng hành cùng trẻ thơ, cung cấp cho
trẻ thơ một vốn từ ngữ khổng lồ, đặc biệt là những từ ngữ nghệ thuật. Khi trẻ
thường xuyên tiếp xúc với các tác phẩm văn học thiếu nhi, vốn từ ngữ của các
em phong phú và sống động hơn. Các em tự hình thành cho mình khả năng diễn
đạt một vấn đề một cách mạch lạc, giàu hình ảnh và biểu cảm bởi đã được học
cách diễn đạt sinh động ấy trong tác phẩm. Đối với trẻ mầm non, sự phát triển
ngôn ngữ ấy qua hoạt động bắt chước lời nói, việc làm của các nhân vật hoặc
những cách diễn đạt trong tác phẩm. Chính quá trình trẻ được nghe, được kể
diễn cảm truyện, thơ và được trực tiếp tham gia vào hoạt động đọc, kể lại truyện
thơ sẽ giúp trẻ tích lũy và phát triển thêm nhiều từ mới. Điều này giúp giáo viên
có thể dễ dàng hơn trong việc rèn luyện khả năng biểu cảm trong ngôn ngữ nói,
ngôn ngữ miêu tả, ngôn ngữ đối thoại với trẻ.
Những tác phẩm thơ, truyện của trẻ tự viết cho mình hay của người lớn

cảm xúc trong thơ. Mỗi bài thơ viết cho trẻ thơ gần như là một trong yếu tố tạo
nên hình tượng cảm xúc trong thơ. Mỗi bài thơ viết cho trẻ gần như một mẩu
truyện hoặc chứa đầy yếu tố truyện. Điều đó khiến cho các em dễ hiểu, dễ cảm
nhận và thuộc lòng những vần thơ. Trong bài “Chú bò tìm bạn”(Phạm Hổ), các
vần thơ, vần thơ được tác giả viết ra bằng những từ ngữ hết sức đời thường để
kể cho các em nghe một câu chuyện về tình bạn đầy xúc động và tinh tế:

15


“Mặt trời rúc bụi tre
Buổi chiều về nghe mát
Bò ra sông uống nước
Thấy bóng mình ngỡ ai
Bò chào: “Kìa anh bạn
Lại gặp anh ở đây”
Nước đang nằm nhìn mây
Nghe bò cười toét miệng…”
* Hài hước, dí dỏm. Mỗi một tác phẩm viết cho các em đều chứa đựng
những tiếng cười hóm hỉnh và tinh nghịch, hồn nhiên và trong sáng. Có thể nói
trong kí ức về một làng quê bình dị, ở đó chứa đựng biết bao điều lí thú nảy sinh
từ những kỷ niệm ấu thơ của mình và bật lên những tiếng cười thật sảng khoái.
Khác với những tác phẩm của trẻ tự viết cho mình, thơ hay truyện của người lớn
viết cho các em phải tiến tới sự kết hợp hài hòa giữa chất thơ và chất trẻ thơ,
phải hồn nhiên, vui tươi, ngộ nghĩnh. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy đặc
trưng ấy trong bài thơ “Ngủ rồi”(Phạm Hổ):
“Gà mẹ hỏi gà con Đã ngủ chưa đấy hả?
Cả đàn gà nhao nhao
Ngủ cả rồi đấy ạ!”…
* Ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu. Nếu như thơ, văn viết cho người lớn

sâu đậm về con người, hun đúc ở trẻ một tâm hồn nhạy cảm, dễ xúc động khi
tiếp xúc với con người và cảnh vật xung quanh bồi bổ lòng nhân ái, lòng yêu
quê hương gia đình.
Sự phản ảnh thực hiện của thơ ca vừa thực lại vừa hư, điều đó giúp trẻ phát
triển mãnh liệt trí tưởng tượng. Hơn nữa nghệ thuật nhân cách hóa trong thơ ca
là sự kết hợp hài hòa giữa tình yêu thương với trí tưởng tượng và đó chính là đặc
điểm tâm lý nổi bật của trẻ nhỏ. Sự vật xung quanh trong mắt của trẻ thơ bao giờ
cũng có hồn, nhuốm màu xúc cảm và bay bổng đến kì diệu. Sức tưởng tượng thơ
ca còn giúp trẻ có một tâm hồn giàu ước mơ, sớm hình thành tiền đề của hoạt
động sáng tạo, hình dung ra những cái sẽ có và mong muốn làm nên những điều
tốt đẹp.
1.1.4.2. Thơ mộng và lãng mạn
Trẻ em nào cũng thơ mộng và lãng mạn. Ngây thơ ngộ nghĩnh dễ yêu thương
17


dễ hờn dỗi hay mộng mị buồn vui là thơ mộng. Đôi mắt trẻ thơ là khoảng trời
xanh áng mây trắng đi vào mắt chúng là cả một ảo giác về tương lai. Trăm năm
của một đời người khoảnh khắc tuổi thơ là cái lãng mạn mênh mông nhất.
Phương diện tâm lý này trở thành đặc điểm thẩm mỹ quan trọng của văn học cho
thiếu nhi.
Đặc điểm này ít được nói đến hay nói một cách sơ sài trong nghiên cứu văn
học cho thiếu nhi. Trong khi đó lãng mạn và thơ mộng là thiên tính rõ nét nhất
của lứa tuổi từ ấu thơ cho đến lúc thành niên. Hiện thực đối với trẻ em là những
gì đang có rất nghèo nàn chỉ là những gì trẻ nhìn thấy xung quanh góc sân hay
khoảng trời con đường hay mái trường trẻ đang học tập. Quan hệ xã hội có khi
chỉ là những cấm đoán làm cho trẻ thấy luôn bị tù túng. Đó là lý do trẻ em cần
một thế giới khác lãng mạn hơn thơ mộng hơn thế giới của những ảo tưởng.
Văn học nói chung dù là tác phẩm đi theo chủ nghĩa hiện thực nghiêm ngặt
nhất cũng phải có một chất lãng mạn mộng mơ. Bởi đó là niềm tin khát vọng

giản dị cũng như “muốn góp thêm cho các em một thứ đồ chơi như một viên bi
như một cánh diều hay thậm chí như một thứ đồ chơi điện tử nào đó. Còn chức
năng giáo dục? Nếu có giáo dục theo tôi thơ ca cũng như văn chương nghệ
thuật nói chung chỉ nên giáo dục cho các em về mặt thẩm mỹ mà thôi!”[7 tr38].
Người lớn chúng ta hay bị cái thành kiến rằng vui chơi là hư hỏng vì thế thường
buộc trẻ em phải toan lo như chính mình. Vô tình chúng ta đã cướp mất đi giai
đoạn hạnh phúc nhất của một đời người. Khi đọc mấy câu thơ trong sách học
vần cũ thời bao cấp:
“Mèo con bé tí
Đã có râu ria
Mèo cứ ngồi kia
Meo meo kêu mẹ
Ăn thì ăn khoẻ
Mà lại ham chơi
Bạn nhỏ ta ơi
Chớ theo mèo nhé”
Xuân Quỳnh đã nói bằng nước mắt của người mẹ: “Thực ra việc: “Kêu mẹ
ăn khoẻ ham chơi…”của trẻ con là hoàn toàn không có lỗi. Tại sao lại bắt con
trẻ không được làm nũng mẹ không được ăn khoẻ không được ham chơi. Nếu
19


như ta chưa có hoàn cảnh đáp ứng cho các em được gần mẹ nhiều được ăn và
chơi đầy đủ thì đó là lỗi ở chúng ta. Còn các nhu cầu kia của các em là cần thiết
và chính đáng. Đọc những câu thơ trên tôi thấy thương các em quá!”[10 tr15].
Khi được làm người lớn đôi khi chúng ta nhẫn tâm đánh mất quá khứ của
mình. Chúng ta giáo dục con trẻ toàn những răn đe cấm kỵ điều mà xưa kia trong
chúng ta chẳng mấy ai thích thú. Chúng ta quên rằng chơi đùa đúng nghĩa tích
cực của nó sẽ mang lại bao nhiêu điều bổ ích. Không cần nói đến việc giải toả bao
nhiêu căng thẳng của đời sống thường nhật với trẻ con những khi giải trí như thế

Ong và Bướm
Con bướm trắng
Lượn vườn hồng
Gặp con ong
Đang bay vội
Bướm liền gọi
Rủ đi chơi
Ong trả lời
Tôi còn bận
Mẹ tôi dặn
Việc chưa xong
Đi chơi rong
Mẹ không thích
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tác phẩm thơ trong chương trình “Chăm sóc - và giáo dục”trẻ em
Với tuổi mầm non, tuổi học nói, một cách tự nhiên các bé rất thích và có
nhu cầu muốn được nghe đọc thơ và học đọc thơ. Thơ ca mang đến cho bé một
kho từ vựng mới, hay, đẹp và phù hợp với lứa tuổi, đặc điểm tiếp nhận của các
bé. Đồng thời, thơ khơi gợi nơi bé niềm hứng thú khám phá thế giới, khuyến
khích bé tự tin giao tiếp. Ngôn ngữ thơ ca súc tích, giàu hình ảnh và nhạc điệu
giúp bé dễ cảm, dễ thuộc và dễ nhớ. Và không một người lớn nào không cảm
động khi được lắng nghe và ngắm nhìn một em bé tuổi mầm non đọc bài thơ yêu
thích của mình.
Điểm đặc biệt, bộ sách Thơ hay cho bé mầm non đã tuyển chọn và tập hợp
các bài thơ theo 12 chủ đề chuẩn chương trình giáo dục mầm non hiện hành. Đó
21


là: Động vật; Thực vật; Tết; Thiên nhiên bốn mùa; Lễ hội; Trường mầm non;
Gia đình; Quê hương-Đất nước; Bác Hồ; Giao thông; Nghề nghiệp; Bản thân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status