PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài khóa luận
Đất nước Việt Nam ta đẹp vô cùng. Dân tộc ta từ ngàn năm xưa đã xây
dựng cho mình một nền văn hóa riêng đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó ngôn
ngữ đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người trong sự hình thành
và phát triển của loài người.
Một nhà văn người Pháp có nói rằng: “Ngôn ngữ là chiếc gương để ta soi
mình trong đó”. Ngôn ngữ chính là phương tiện để tư duy, là phương tiện của
mọi sự suy nghĩ. Nó đóng vai trò rất lớn trong việc phát triển trí tuệ và các quá
trình tâm lí khác, chính vì vậy mà trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ mầm
non cần hình thành và phát triển ngôn ngữ.
Đời sống của con người ngày càng phong phú và phát triển hơn, đó là nhờ
có ngôn ngữ. Con người có thể thông báo, trao đổi, truyền đạt, thông cảm, diễn
tả, trình bày tất cả những thông tin cần thiết cho nhau thông qua ngôn ngữ. Nhờ
ngôn ngữ mà người ta xích lại gần nhau hơn, trao đổi nhận thức, tư tưởng, tình
cảm và tâm sự với nhau những nỗi niềm thầm kín,…
Ngôn ngữ tồn tại và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài
người. Nhờ ngôn ngữ mà con người khác xa so với động vật. Nó có vai trò
quan trọng đối với con người, đối với những kho tàng văn hóa, những tri thức,
những kinh nghiệm lịch sử đều được chứa đựng trong ngôn ngữ. Đặc biệt đối
với trẻ sự phát triển ngôn ngữ trong những năm tháng đầu đời có vai trò rất
quan trọng với khả năng tư duy, nhận thức và giao tiếp cũng như toàn bộ quá
trình phát triển về sau của trẻ. Không chỉ vậy mà đối với trẻ, ngôn ngữ còn là
phương tiện để điều khiển, điều chỉnh hành vi giúp trẻ lĩnh hội các giá trị đạo
đức mang tính chuẩn mực. Vì vậy, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non là
rất quan trọng, đặc biệt ở độ tuổi trẻ MGN (4 - 5 tuổi) trẻ đang cần được học
ngôn ngữ một cách chính xác. Đây là giai đoạn trẻ rất thích học nói vì luôn mong
muốn mình được hòa nhập vào xã hội. Với tần số nói ngày một tăng đáng kể, trẻ
sử dụng chủ yếu là ngôn ngữ nói để làm phương tiện giao tiếp cho mình. Đôi khi
cũng chính vì điều đó mà trẻ dễ mắc phải một số lỗi sai về ngôn ngữ. Đây là thời
điểm tốt để rèn luyện phát âm chuẩn và phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhằm hoàn
cho các em. Chính vì vậy, trò chơi dân gian rất cần thiết được lựa chọn, giới
thiệu trong nhà trường tuỳ theo lứa tuổi của trẻ. Đúng như PGS. TS Nguyễn
Văn Huy, Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cũng đã nói về trò chơi
dân gian với trẻ em: “Trò chơi dân gian nó chứa đựng cả nền văn hoá dân tộc
Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc. Những tâm hồn được chắp thêm đôi cánh,
giúp trẻ phát triển tư duy và sáng tạo những cái mới và cho trẻ sự khéo léo.
Không chỉ có vậy mà trẻ còn hiểu thêm về tình bạn, tình yêu gia đình, quê hương
đất nước”,[10, tr. 98].
Với những lí do như đã trình bày ở trên, chúng tôi lựa chọn đề tài khóa
luận: “Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua một số trò chơi dân gian
cho trẻ MGN (4-5 tuổi) tại trường mầm non Sao Mai - huyện Mai Sơn - tỉnh
Sơn La”.
2
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Cho nên ngôn
ngữ là tải sản quý báu của nhân loại. Nó là cả kho tàng trí tuệ của con người. Cũng
chính vì lẽ đó mà có biết bao công trình nghiên cứu được tỏa sáng nhờ có ngôn ngữ.
Và ngôn ngữ cũng chính là vấn đề mà có rất nhiều các nhà khoa học từ các lĩnh vực
khác nhau như: Tâm lí học, triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, giáo dục học,… đi
sâu, tìm tòi, nghiên cứu của những nhà nghiên cứu có tên tuổi như:
- V.X. Mukhina với Tâm lí học mẫu giáo đã nghiên cứu về tâm lí của trẻ
em trong độ tuổi Mẫu giáo.
- Winhem Preyer với Trí óc của trẻ em đã miêu tả chi tiết về sự phát triển
của trẻ em, phát triển về vận động, hình thành ngôn ngữ và trí nhớ cụ thể thông
qua cậu bé Alex.
- Erik Erickson với Trẻ em và xã hội nghiên cứu về sự phát triển của trẻ
em, cách đối xử và giáo dục trẻ.
nghiên cứu tâm lí của trẻ em có chứa năng khiếu cảm thụ các tác phẩm thơ ca.
- Nguyễn Xuân Khoa với công trình: Phương pháp phát triển ngôn ngữ
cho trẻ mẫu giáo từ 0 - 6 tuổi nghiên cứu về sự phát triển vốn từ ngữ của trẻ ở
các độ tuổi và đưa ra các phương pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ em ở
độ tuổi mầm non.
- Luận án Tiến sĩ Nguyễn Thị Oanh với đề tài: Cơ sở của việc tác động sư
phạm đến sự phát triển ngôn ngữ tuổi Mầm non đã nghiên cứu tới sự phát triển
ngôn ngữ của trẻ em mầm non.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua một số trò chơi dân gian cho trẻ
MGN (4 - 5 tuổi).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài khóa luận tiến hành điều tra trẻ MGN (4 - 5 tuổi), giáo viên dạy
MGN (4-5 tuổi) ở ba điểm trường mầm non Sao Mai, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn
La.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
Qua những hiểu biết về đặc điểm trò chơi dân gian với sự phát triển ở trẻ
MGN (4 - 5 tuổi), về đặc điểm tâm lí của trẻ mầm non chúng tôi đã mạnh dạn
đưa ra một số biện pháp, quy trình tổ chức các trò chơi dân gian nhằm nâng cao
hiệu quả việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ MGN (4 - 5 tuổi).
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu và khảo sát thực trạng trẻ MGN (4 - 5 tuổi) ở trường mầm non.
4
- Xây dựng một số biện pháp phát triển ngôn ngữ thông qua một số trò
sự nghiệp đổi mới Giáo dục.
5
7. Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, cấu trúc
của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu
Chương này chúng tôi đề cập tới những cơ sở lí luận về ngôn ngữ của trẻ
mẫu giáo, cụ thể là trẻ MGN (4 - 5 tuổi), đặc biệt phát triển ngôn ngữ cho trẻ
thông qua trò chơi dân gian.
Chương 2: Một số biện pháp nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ MGN
(4 - 5 tuổi) thông qua trò chơi dân gian.
Chương này, khóa luận đã xây dựng một số biện pháp, quy trình vận
dụng phương pháp giáo dục mầm non mới để tổ chức các trò chơi dân gian và
thiết kế một số mẫu giáo án theo phương pháp mới về trò chơi dân gian.
Chương 3: Thiết kế thể nghiệm một số trò chơi dân gian cho trẻ MGN
(4 - 5 tuổi)
Khóa luận thiết kế một số biện pháp để ứng dụng nhằm phát triển ngôn
ngữ cho trẻ thông qua một số trò chơi dân gian nhằm để chứng minh tính khả
thi của các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Cơ sở ngôn ngữ học
7
Ví dụ: Trẻ nhận xét về xe đạp:
+ Trẻ nhìn thì biết được màu đỏ (xanh).
+ Trẻ quay bàn đạp thì bánh xe quay.
+ Trẻ sờ vào sườn xe thì biết nó láng, bóng.
Trẻ nhận biết các sự vật hiện tượng xung quanh gần gũi, tìm hiểu những sự
vật hiện tượng không xuất hiện trực tiếp trước mắt trẻ, những sự vật xảy ra trong
quá khứ, tương lai. Như vậy, ngôn ngữ không chỉ giúp cho trẻ củng cố kiến thức
mà còn mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh.
Ngôn ngữ giúp trẻ tìm hiểu về chính mình, về con người và khám phá các
sự vật xung quanh cũng như những biến cố đang xảy ra trong đời sống, hay các
hiện tượng xung quanh như nắng, mưa, nóng, lạnh,… qua đó trẻ có thể nhận
thức về môi trường xung quanh.
Thật vậy, hầu hết trẻ thơ đều có một tâm hồn nhạy cảm. Đối với các em,
thế giới xung quanh chứa đựng biết bao nhiêu điều mới lạ, hấp dẫn. Ngay trong
những cái tưởng chừng như bình thường và giản dị thì các em cũng phát hiện ra
những điều lí thú. Chẳng vậy mà Pauxtopxky có nhận xét rằng: “Thời thơ ấu
không còn mãi,… Trong thời thơ ấu tất cả đều khác. Trẻ em đã nhìn thế giới
bằng đôi mắt trong sáng và đối với tất cả với chúng đều rực rỡ hơn nhiều. Mặt
trời chói lọi hơn, đồng ruộng được cày sâu hơn, tiếng sấm vang rền hơn, mưa
to hơn, cỏ mọc cao hơn và cả lòng người cũng mở rộng hơn. Nỗi đau thương
cũng sâu sắc hơn và mảnh đất quê hương cũng chứa đầy bí ẩn, nhiều hơn gấp
hàng nghìn lần”. [12, tr. 68].
Khi người lớn đưa ra các câu hỏi, câu trả lời hay khi đàm thoại trực tiếp
với trẻ thì cũng đồng thời ngay lúc đó trẻ làm quen được với các sự vật, hiện
tượng có ở môi trường xung quanh, và trẻ hiểu được những đặc điểm, tính chất,
công dụng của các sự vật cùng với các từ tương ứng với nó thông qua các từ
ngữ đó. Trẻ thường nhìn sự vật trong tính toàn vẹn của nó mà chưa hề bị chia
thuận này không thể thiếu vai trò của ngôn ngữ. Trẻ bộc lộ những suy nghĩ của
mình với các bạn và nghe ý kiến của các bạn để đi đến thỏa thuận trong khi
chơi,… Sử dụng ngôn ngữ để suy nghĩ thực hiện hành động chơi, giao lưu với
các bạn trong nhóm và các bạn chơi khác nhóm, đánh giá, nhận xét, tuyên
dương,.. Không chỉ khi tham gia hoạt động vui chơi cùng với các bạn mà ngay
cả khi trẻ chơi tưởng tượng với một đồ vật thì ngôn ngữ vẫn đóng vai trò quan
trọng trong quá trình chơi của trẻ. Qua đó, ngôn ngữ của trẻ được phát triển, trẻ
giao lưu tình cảm trong lúc chơi, phát triển khả năng tư duy và trí tưởng tượng của
trẻ.
b. Ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ
Ngay cả những bộ lạc lạc hậu nhất mà người ta mới phát hiện ra, họ cũng
dùng ngôn ngữ để nói chuyện với nhau. Đặc biệt đối với trẻ nhỏ, đó là phương
tiện giúp trẻ giao lưu cảm xúc với những người xung quanh, hình thành những
cảm xúc tích cực. Ngôn ngữ dùng để diễn đạt, để trình bày ý tưởng, nguyện vọng
của mình cho người khác biết.
9
Đặc biệt, ngôn ngữ đóng vai trò rất lớn trong việc điều chỉnh những hành
vi và việc làm của trẻ. Trong giao tiếp hàng ngày, thông qua truyện kể, ca dao,
đồng dao, nhất là trong các trò chơi dân gian,… trẻ cảm nhận được cái hay cái
đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi, trong cuộc sống.
Đặc biệt là qua lời ru, mẹ đã dạy cho con nghệ thuật âm nhạc, thơ ca dân
tộc để con biết yêu vẻ đẹp của thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, yêu bà con
làng xóm, truyền cho con những ý niệm cơ bản về thiện ác để hun đúc ở đứa
con lòng nhân ái. Ngay cả những lúc nựng con thì đây là cuộc trò chuyện đằm
thắm nhất, đầy tình yêu thương và lòng tin cậy, trong đó người mẹ đã nói với
con bằng cả tấm lòng và đứa con đã nghe mẹ với tất cả sự sung sướng và niềm
say mê. Dù có ý thức hay chưa có ý thức rõ ràng, người mẹ cũng đã dạy con
đem lại cho tuổi thơ niềm hạnh phúc mà còn cần cho mỗi người sau này lớn
lên, dù đó là người lao động chân tay, nhà khoa học hay người nghệ sĩ,…
phương tiện có hiệu quả nhất để nuôi dưỡng sự tưởng tượng đó là trò chơi.
Điều đó giúp trẻ có nhiều ấn tượng đẹp và tâm hồn trẻ sẽ càng thêm phong phú.
Từ đó, trẻ sẽ biết yêu quý và có ý thức giữ gìn những cái hay cái đẹp trong cuộc
sống.
Khi trẻ được tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ văn học như thơ, truyện,
ca dao, đồng dao,… trẻ sẽ được chìm vào với thế giới đa dạng màu sắc. Bao
nhiêu loại người khác nhau, loại người tốt sao gần gũi, mến thương; loại người
xấu sao vừa ghét lại vừa sợ… Những phong cảnh xa lạ từ những khu rừng rậm
rạp bí hiểm, đến biển cả mênh mông, những lâu đài tráng lệ, những con thú
chưa hề thấy,… tất cả đã nhập vào tâm hồn của các em bé với những màu sắc
lung linh kì ảo. Tâm hồn các em được rộng mở, trí tưởng được kích thích mạnh
mẽ, thôi thúc các em muốn khám phá những điều kì lạ và lí thú trong các câu
chuyện hết sức hấp dẫn. Những câu thơ giàu hình ảnh, nhạc điệu, những bài
đồng dao ngộ nghĩnh có đoạn điệp khúc nhắc đi nhắc lại dễ nhớ… khiến trẻ
muốn đọc theo và sẽ nhớ rất lâu. Đây chính là thời cơ thuận lợi để trẻ tiếp xúc
với ngôn ngữ văn học, đặc biệt là văn học dân gian. Điều đó giúp trẻ phát triển
trí tưởng tượng, nó giúp trẻ sáng tạo ra những cái mới, hình thành những ước mơ
táo bạo, những hoài bão về cuộc sống tương lai.
c. Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ hòa nhập với cộng đồng và trở thành
thành viên của cộng đồng
Những kinh nghiệm lịch sử xã hội được chứa đựng trong các công cụ lao
động, đối tượng lao động, trong các chuẩn mực hành vi các mối quan hệ qua lại
giữa con người với nhau,… nhưng hầu hết được ghi lại để truyền bá cho thế hệ
sau nhờ ngôn ngữ. Ngay từ lúc mới đầu, đứa trẻ không thể nhận thức được
những gì đang tồn tại xung quanh nó. Để thỏa mãn sự hiểu biết đó mà nó
thường đặt ra hàng vạn câu hỏi cho bố mẹ và người xung quanh chúng. Vì thế,
người lớn trở thành chiếc cầu nối trẻ với cộng đồng, với thế giới thông qua
ngôn ngữ. Người lớn đã dẫn dắt trẻ hình thành tình cảm, thái độ, nhận thức về
thế giới xung quanh, với con người, với đồ vật và thiên nhiên. Việc mở rộng
phạm vi tiếp xúc và các mối quan hệ xã hội giúp cho khả năng tri giác của trẻ
nhanh nhạy hơn. Khả năng nhận thức và ngôn ngữ của trẻ ở giai đoạn MGN (4
- 5 tuổi) này có những bước tiến mới đáng kể. Ở thời kì này, trẻ hoàn thiện dần
về mặt ngữ âm, các phụ âm đầu, âm cuối, âm đệm, thanh điệu dần được định
vị. Trẻ phát âm tốt hơn, ít ê, a, ậm ừ hơn so với thời kì trước. Đặc biệt, đã xuất
hiện ở lời nói của trẻ những khái quát, kết luận đơn giản một cách mạch lạc,
song một số trẻ vẫn phát âm sai thanh ngã, âm đệm và âm cuối.
Trẻ từ 4 - 5, tuổi khả năng nhận thức vốn từ tăng lên một cách đáng kể.
Theo nghiên cứu của yy. Y pratuxevich: 4 tuổi trẻ có 1900 từ và 5 tuổi là 2.500
từ. Với sự nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về ngôn ngữ của trẻ nội thành
thì vốn từ của trẻ là: 4 tuổi từ 1900 từ đến 2000 từ và 5 tuổi trẻ có từ 2500 từ
đến 2600 từ. Trẻ học từ mới nhanh hơn, phát âm các từ tốt hơn so với các giai
đoạn lứa tuổi trước. Chính vì lẽ đó mà vốn từ của trẻ ở giai đoạn này phong
12
phú, bao gồm nhiều từ loại. Số lượng các từ loại: danh từ, tính từ, đại từ, trạng
từ được tăng lên một cách đáng kể, trẻ hiểu được ý nghĩa của nhiều từ loại khác
nhau và biết sử dụng chúng để thể hiện mối liên hệ đa dạng giữa các sự vật và
hiện tượng về thơi gian, định hướng không gian, số lượng, nguyên nhân và kết
quả. Trẻ có khả năng tri giác âm thanh nhanh nhạy và khả năng phát âm mềm dẻo
tự nhiên. Trẻ ham học hỏi, thích tìm hiểu về xã hội và tự nhiên. Trẻ chủ động giao
tiếp ngôn ngữ với những người xung quanh và hay đặt các câu hỏi như: “như thế
nào?”; “làm gì?”; “bao giờ?”; “tại sao?”…
Những câu hỏi, câu trả lời hay những câu nói của trẻ ngày càng được hoàn
thiện hơn. Số lượng các câu nói đúng ngữ pháp cũng được tăng lên một cách rõ
rệt, các thành phần trong câu nói được phát triển. Bởi trẻ biết lắng nghe các câu
trả lời, câu nói của người khác.
Đặc biệt, ở lứa tuổi này trẻ thích tham gia, hòa nhập với tập thể. Trẻ hứng
lá hay những mẩu gỗ,… chúng có thể nhặt trong vườn, dưới ruộng.
Song, hầu hết các trò chơi dân gian của trẻ em đều gắn liền với những bài
đồng dao với đặc điểm ngôn ngữ của đồng dao mang tính giản dị, mộc mạc, vô tư,
hồn nhiên, vui tươi và ngộ nghĩnh. Có thể đó là những câu vè ngắn gọn, có nhịp
điệu, âm thanh dễ thuộc, dễ nhớ thường được sử dụng trong khi chơi các trò chơi
như là: “dung dăng dung dẻ”, “thả đỉa ba ba”, “chi chi chành chành”, hay “rồng
rắn lên mây” là trò chơi gắn với đồng dao nhằm rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo
léo, phát huy tinh thần đoàn kết, tôn trọng kỷ luật và khả năng đối đáp:
“Rồng rắn lên mây
Có cây lúc lắc
Có nhà khiển binh
Hỏi thăm thầy thuốc có nhà hay không?...”
Logic của đồng dao chính là logic của trò chơi, nhưng cũng không thể bắt
nó phải theo cái logic của hiện thực mà mang tính nhảy cóc. Ta có thể hiểu
rằng không ai có thể giải thích được:
“Chi chi chành chành
Cái đanh thổi lửa”
Là cái gì? Tại sao lại:
“Cái cống nằm trong
Con ong nằm ngoài
Củ khoai chấm mật
Phật ngồi phật khóc
Con cóc nhảy ra….”
Cũng bởi cái lối nhảy cóc đó lại là yếu tố gắn bó với trò chơi để đưa các
em vào với thế giới của trò chơi, khác với thế giới ở bên ngoài lại tạo nên tính
hấp dẫn cho đứa trẻ. Ta dễ nhận thấy một biện pháp tu từ học rất tiêu biểu cho
đòng dao là biện pháp nói ngược, trái hẳn với cái logic thực tế, logic của cuộc
đời, chính vì nó đảo như vậy mới tạo sự hấp dẫn. Chẳng hạn như:
14
điều hay lẽ phải một cách tinh tế, nhẹ nhàng, thoải mái.
Trò chơi dân gian gắn bó chặt chẽ với thiên nhiên. Trong trò chơi, con
người (đặc biệt là trẻ) và thiên nhiên hòa quyện vào với nhau, thiên nhiên trở
nên có hồn và gần gũi với trẻ từ lúc nào. “cây mốt, cây mai, lá trai, lá hến, con
nhện chăng tơ, quả mơ có hạt...” là bài đồng dao thường hát để chơi chuyền
15
dụng cụ là một quả bóng (có thể được thay bằng một hòn đá hoặc quả ổi xanh)
và 10 que tre được vót tròn.
Trò chơi dân gian được sáng tác dựa trên mô phỏng bắt chước hoạt động
của người lớn trong xã hội nhưng không phụ thuộc vào nghiêm ngặt vào sự
thay đổi của cuộc sống đang diễn ra hằng ngày mà phát triển theo những quy
luật riêng, ít nhiều mang tính chất ổn định. Chúng vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả
khi cuộc sống đã thay đổi. Ví dụ: Trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay
ngày một phát triển cao, những trò chơi: “bịt mắt bắt dê”, “kéo co”, “trốn tìm”,
“ô ăn quan”, “thả diều”,… vẫn còn tồn tại và được trẻ em đón nhận một cách
thích thú say mê.
Nhưng chính nó vì được sáng tác dựa trên hiện thực cuộc sống lao động
và sinh hoạt của con người, nên khó có thể tìm ra được ai là tác giả của những
trò chơi này, và cũng khó xác định được ngày, tháng, năm ra đời của chúng.
Trò chơi dân gian của trẻ em được chia thành bốn loại:
a. Loại trò chơi vận động: Gồm các trò chơi cho trẻ em vận động chân tay,
chạy nhảy, lộn vòng, gây không khí vui nhộn và sinh động như “tập tầm vông”;
“dung dăng dung dẻ”; “lộn cầu vồng”; “lò cò”; “bịt mắt bắt dê”;… Những trò chơi
này thường được chơi ở ngoài trời để tiếp xúc với thiên nhiên, với cảnh vật xung
quanh, nhằm tăng cường sức khoẻ và các tố chất về thể lực cho trẻ em.
b. Loại trò chơi học tập: Đó là trò chơi nhằm phát huy trí tuệ của trẻ em,
dạy cho các em biết quan sát, tính toán. Có khi chỉ là một bài đồng dao, trẻ em
chơi, trẻ tiếp thu được những điều hay lẽ phải, biết yêu cái đẹp và nhìn nhận
cuộc sống một cách phong phú hơn, hơn nữa trẻ còn rèn luyện được những thói
quen cần thiết cho cuộc sống hiện thực.
Khi trẻ hòa mình vào thế giới trò chơi, trẻ sẽ được trải nghiệm với các mối
quan hệ giữa con người và con người, giữa con người với thiên nhiên. Vai trò
giáo dục nhân cách văn hoá cho trẻ em của trò chơi dân gian là rất có hiệu quả.
Khôi phục và tổ chức trò chơi dân gian, một di sản văn hoá dân tộc cho trẻ em
chúng ta ngày hôm nay nhằm để lại một “nét hoa văn” mang bản sắc dân tộc Việt
Nam trong tâm hồn của thế hệ mầm non đang trong thế kỷ XXI.
Thật vậy, trò chơi dân gian rất giàu yếu tố tưởng tượng, phù hợp với đặc
điểm phát triển tâm lí của các em. Đối với trẻ em mọi vật đều như có hồn.
Chúng có thể trò chuyện với cỏ cây, hoa lá, các loài vật, đồ vật xung quanh và
hình dung rất hồn nhiên, chân thực rằng đó là những cuộc đối thoại hết sức thú
vị như được trò chuyện với những người bạn thân thiết của mình. Trong khi
chơi, trẻ biết sử dụng vật này để thay thế cho vật kia, biết đóng các vai khác
nhau khi thì vai người mẹ, khi thì vai người bác sĩ, học sinh, người bán hàng, có
thể trẻ sẽ tưởng tượng ra các điều khác nhau mà đối với trẻ cũng trở nên thú vị
hơn,… Với đầu óc giàu sức tưởng tượng, trẻ thấy được con sên biết lên công chúa,
con cua biết cắp giỏ theo hầu và ông trăng biết xuống chơi cho có bầu, có bạn…
Hơn nữa, trò chơi dân gian còn là phương tiện để phát triển ngôn ngữ
mạch lạc, chính xác và có hiệu quả. Bởi khi tham gia vào trò chơi, trẻ được ca
hát, nhảy múa, đối đáp, hay phải sáng tạo từ ngữ,… Qua đó, vốn từ của trẻ trở
nên phong phú, ngôn ngữ mạch lạc hơn.
17
Trò chơi vui - khỏe - khéo léo là những trò chơi dân gian tổng hợp vì mỗi
trò chơi kết hợp nhiều kỹ năng vận động thể lực. Trẻ trở nên nhanh nhẹn, tháo
vát, khéo léo trong các hoạt động và phản xạ nhạy bén hơn khi tự mình nhập
1.2.1.2. Định hướng chơi để phát triển ngôn ngữ cho trẻ
18
Một đặc điểm đặc trưng của trò chơi dân gian đó là trẻ vừa chơi vừa hát hay
đọc các bài đồng dao đi kèm với trò chơi. Chính vì thế mà chúng ta nên sử dụng
các các bài hát, các bài đồng dao đó để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
Với sự phát triển về trí tuệ của trẻ, nhận thức của trẻ đã nhanh hơn trước.
Do đó, ta nên cho trẻ đọc và thuộc những bài hát và những bài đồng dao để trẻ
củng cố vốn từ, khả năng diễn đạt và phát âm chính xác của trẻ. Hơn nữa, việc
cho trẻ giao tiếp trong khi chơi là rất quan trọng, bởi như vậy phát triển khả
năng nói mạch lạc của trẻ.
1.2.2. Khảo sát thực trạng tổ chức các trò chơi dân gian cho trẻ MGN
(4 - 5 tuổi) ở trường mầm non
1.2.2.1. Mục đích khảo sát
Quá trình khảo sát nhằm tìm hiểu:
- Thực trạng về trình độ giáo viên đang trực tiếp giảng dạy trẻ MGN (4 - 5 tuổi).
- Thực trạng của giáo viên về việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ MGN (4 - 5
tuổi) thông qua trò chơi dân gian.
- Thực trạng mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ MGN (4 - 5 tuổi) thông
qua trò chơi dân gian.
1.2.2.2. Nội dung khảo sát
- Tìm hiểu nhận thức của giáo viên về việc dạy trẻ MGN (4 - 5 tuổi) qua
trò chơi dân gian nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ.
- Dự giờ quan sát giáo viên tổ chức dạy trẻ MGN (4 - 5 tuổi) chơi trò chơi
dân gian, ghi chép các biện pháp giáo viên sử dụng.
- Nghiên cứu giáo án (kế hoạch) hướng dẫn trẻ MGN (4 - 5 tuổi)
chơi trò chơi dân gian.
- Đánh giá thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ MGN (4 - 5 tuổi) thông
đánh giá như sau:
Bảng 1.1. Các tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ
thông qua một số trò chơi dân gian.
T
T
1 năng phát âm
Khả
1
2 năng hiểu từ
Khả
2
3
Mức độ
Các tiêu chí
3 năng hiểu nội dung
Khả
trò chơi
Xếp loại
+ Diễn đạt dễ dàng
+ Diễn đạt bình thường
+ Diễn đạt khó khăn
+ Không diễn đạt được
điểm Trung tâm trường mầm non Sao Mai - huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La
Khả năng
ngôn ngữ
Số lƣợng trẻ
Tỉ lệ %
T
K
TB
Y
Khả năng phát âm
5
7
8
0
Khả năng hiểu từ
4
55%
0%
0
30% 35%
35%
0%
Bảng 1.3. Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ của 20 trẻ MGN (4-5 tuổi)
điểm Tiểu khu 6 trường mầm non Sao Mai - huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn la
Khả năng
Ngôn ngữ
Số lƣợng trẻ
T
K
TB
Tỉ lệ %
Y
0
15%
35% 50% 0 %
Khả năng hiểu nội
dung trò chơi
5
7
8
0
25%
35%
40% 0 %
Bảng 1.4. Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ của 20 trẻ MGN (4-5 tuổi)
điểm Tiểu khu 9 trường mầm non Sao Mai - huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn la.
Khả năng
Ngôn ngữ
Số lƣợng trẻ
Khả năng hiểu từ
4
7
9
0
20%
35%
45% 0 %
Khả năng hiểu nội
dung trò chơi
5
7
8
0
25%
Tôi điều tra 8 giáo viên của trường mầm non Sao Mai, huyện Mai Sơn,
tỉnh Sơn La. Sau khi điều tra, tôi thấy nhận thức của giáo viên về việc nâng cao
chất lượng hoạt động cho trẻ như sau:
- Khi hỏi về: “Tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ có tác động như thế nào
đối với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ?” Tất cả các giáo viên được điều tra
đều cho rằng trò chơi dân gian tác động mạnh đến sự phát triển vốn từ, khả
năng phát âm, hiểu nghĩa của từ và khả năng nói mạch lạc của trẻ.
- Khi hỏi về: “Vận dụng quan điểm tích hợp vào trò chơi dân gian hay
không?” 100% các giáo viên đều trả lời có và giải thích về tác dụng của việc
tích hợp vào trò chơi dân gian và cách lựa chọn nội dung phù hợp để tích hợp.
Bởi vì chỉ có vận dụng quan điểm tích hợp vào trò chơi mới đem lại sự nhận
thức đầy đủ cho trẻ. Trẻ được trải nghiệm, khám phá trên thực tế cũng như trên
lý thuyết của bài dạy. Kiến thức được gắn kết với nhau và tạo một thể thống
nhất trong quá trình nhận thức của trẻ.
22
Kết quả trên cho thấy, phần lớn các giáo viên đã xác định được tác động
lớn của trò chơi dân gian đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ và cách tích
hợp các nội dung phù hợp vào trò chơi.
- Khi được hỏi về: “Xin chị hãy cho biết những phương pháp và biện pháp
khác nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi dân gian?” thì có:
100% sử dụng phương pháp đàm thoại, giảng giải; 80% sử dụng phương pháp
bằng hình ảnh.
Tiểu kết chƣơng 1
Trong chương này, tôi đã đề cập đến những cơ sở lý luận và thực tiễn về
ngôn ngữ của trẻ MGN (4- 5 tuổi) và khả năng tiếp nhận trò chơi dân gian của
trẻ. Đặc biệt, khóa luận đi nghiên cứu về đặc điểm và vai trò của trò chơi dân
gian; bởi trò chơi dân gian là một loại hoạt động văn hóa dân gian đặc sắc của
đem lại. Hơn nữa vừa tiện lợi lại tiết kiệm được nhiều thời gian hơn.
Mục tiêu của việc trình chiếu video trong trò chơi dân gian không chỉ
dừng lại ở việc ghi nhớ được tên trò chơi, cách chơi mà trẻ còn phải biết lựa
chọn, sử dụng những từ ngữ để áp dụng vào trò chơi. Qua đó trẻ sẽ biết bộc lộ,
thể hiện những suy nghĩ, cảm nhận của mình về cái hay của trò chơi.
2.2.1.2. Yêu cầu
Video được trình chiếu phải đảm bảo tính thẩm mỹ, màu sắc, kích cỡ.
Video phải thích hợp với góc nhìn của trẻ và tạo được sức hấp dẫn cho trẻ, âm
thanh phù hợp và thu hút trẻ.
Trong video phải có đầy đủ quy trình của trò chơi, đảm bảo chính xác về
nội dung của trò chơi. Ngôn ngữ trong sáng, mang màu sắc dân gian và phù
hợp với lứa tuổi mầm non.
Sử dụng video để truyền đạt tới trẻ, sẽ giúp trẻ bắt chước cách chơi một
cách nhanh hơn. Hình ảnh kết hợp với âm thanh tạo sự hứng thú cuốn hút đối với
trẻ. Tuy nhiên, ngôn ngữ trong các video cho trẻ xem có tác động tới trẻ rất lớn
khiến cho trẻ nhập tâm hơn, từ đó hình thành thái độ, tình cảm cho trẻ một cách
sâu sắc.
24
2.2.1.3. Cách tiến hành
Dùng các video để cho trẻ học và nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ là
biện pháp rất hiệu quả để kích thích sự khám phá tò mò của trẻ.
Sử dụng video như là phương tiện trực quan để giúp trẻ trực tiếp quan sát
được những cái hay cái mới mẻ, độc đáo thông qua sự mô tả của công nghệ
hiện đại. Đây cũng là con đường để truyền thụ những tri thức, hoàn thiện các
kỹ năng, kỹ xảo và năng lực nhận thức, năng lực chơi của trẻ.
2.2.1.4. Điều kiện vận dụng
Giáo viên chuẩn bị các video và máy dạy trẻ vào một giờ học cho trẻ