NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ NHẬN THỨC VÀ HÀNH ĐỘNG MÔI TRƯỜNG
TẠI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA & NHỎ (SMEs)
TÓM TẮT
Gia tăng nhận thức về các vấn đề môi trường sẽ làm gia tăng nhu cầu các hành động kinh
doanh sao cho thân thiện với môi trường hơn. Các nghiên cứu trước đã chỉ ra rằng việc thực
hiện các hành động quản lý môi trường bị ảnh hưởng bởi các các bên liên quan hiện tại và tiềm
năng bằng cách gây áp lực từ phía ngoài từ các nhà làm luật, nhóm môi trường, các tổ chức tài
chính và các nhà cung cấp, cũng như từ thái độ và hiểu biết của người lao động và người sở
hữu/ quản lý. Tuy nhiên, báo cáo cho rằng mặc dù những người làm sở hữu/ quản lý có thái độ
tốt với môi trường nhưng mức độ thực hiện thì còn thấp. Để khám phá mối liên hệ giữa áp lực
thực hiện các hành động cải thiện với hành động quản lý được thực hiện, nghiên cứu này kiểm
tra mức độ ảnh hưởng từ các các bên liên quan khác nhau đến việc nhận thức các vấn đề môi
trường và làm thế nào mà các vấn đề nhận thức này được thực hiện trong các doanh nghiệp để
giảm tác động môi trường từ các hoạt động kinh doanh. Kết quả chỉ ra rằng luật pháp dẫn đến
nhận thức môi trường chung, đến lượt nó, các doanh nghiệp sẵn sàng thay đổi quá trình sản
xuất và chiến lược môi trường. Tuy nhiên, mặc dù hành động nhưng họ nhận thức rất ít về lợi
ích có thể gia tăng do việc cắt giảm chi phí từ các hành động thân thiện với môi trường. Các
hành động này bị chi phối bởi các nhà cung cấp trong việc giảm thải nhưng không đưa vào hệ
thống quản lý môi trường chính thức hoặc sử dụng các thông điệp môi trường để tiếp thị dịch
vụ và hàng hóa của họ. Tuy nhiên, cũng có những tranh cãi cho rằng vì họ có những vi phạm
các vấn đề môi trường nên họ mới sẵn sàng tự nguyện đóng góp cho các tổ chức môi trường.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tác động môi trường tại các doanh nghiệp đang trở thành một vấn đề thu hút sự quan tâm từ
sau những năm 1980 nhất là các nền kinh tế phương Tây kết quả là có sự gia tăng áp lực cho
các chủ sở hữu/ nhà quản lý của các SMEs để cải thiện các hành động quản lý môi trường của
họ.
SMEs là các tổ chức có phạm vi hoạt động rất giới hạn vì thế không có khả năng tác động đến
môi trường ở cùng mức độ như các doanh nghiệp rất lớn. Tuy nhiên, tranh cãi cho rằng tổng
tác động của chúng thì lớn. SMEs chiếm tỉ trọng cao trong khu vực tư và cung cấp việc làm
cho khu vực tư khoảng 50% ở các nước phát triển nên khả năng và sự sẵn sàng quản lý các tác
động môi trường của các chủ sở hữu là vấn đề cần quan tâm.
chức; giữa nhóm có mối quan hệ thực sự và nhóm có mối quan hệ tiềm tàng với hãng trong
phạm vi quyền lực, mối quan hệ phụ thuộc và giúp đỡ qua lại. Tuy nhiên, họ cũng khẳng định
rằng các nhà quản lý sau đó cần xác định lại các bên liên quan là ai bởi vì mỗi các bên liên
quan có tác động đến mối quan tâm của nhà quản lý thì cần phải được xem xét và quyền lợi
hợp pháp của họ lại bị tác động bởi sự quan tâm của từng nhà quản trị.
Bài viết này chú trọng vào hành vi quản lý môi trường của từng chủ sở hữu của các doanh
nghiệp SMEs. Xác định các các bên liên quan chính đang tồn tại và tiềm năng, ảnh hưởng của
họ vào nhận thức, thái độ, và hành vi môi trường của các chủ sở hữu SMEs. Nghiên cứu cũng
tập trung vào ba động lực chính cho hành động môi trường – cạnh tranh, hợp pháp hóa và quan
tâm cá nhân – phản ánh cả mối quan tâm đạo đức và quản lý của các chủ sở hữu SMEs.
2. Hành vi quản lý môi trường trong các SMEs
2
a. Lợi ích kinh tế của hành vi môi trường
Cạnh tranh được xem là một trong những hành động chính cho các phản ứng môi trường/ hệ
sinh thái. Điều này ám chỉ rằng hành động môi trường là do sở thích kinh tế riêng của nhà quản
lý. Tranh luận cho rằng sự tiến bộ trong các hành động quản lý môi trường là do vô số lợi ích
cho các SMEs bao gồm giảm chất thải, tiết kiệm chi phí, tăng thỏa mãn khách hàng, tăng trách
nhiệm người lao động, cải tiến sản phẩm, cải tiến mối quan hệ với công chúng và lợi thế cạnh
tranh. Nghiên cứu thực nghiệm cũng chứng minh sự tương quan giữa nỗ lực môi trường của
nhà quản lý SMEs và hiệu năng hoạt động của tổ chức, lợi nhuận và hình ảnh của doanh
nghiệp. Có thể minh họa rằng một tổ chức mà có trách nhiệm với môi trường có thể sử dụng
chiến lược marketing để duy trì và gia tăng thị phần và điều đó tạo nên sự khác biệt so với đối
thủ của nó. Hành động làm cải thiện kết quả môi trường là kết quả của sự nhận thức mà có thể
biến thành hành động thân thiện với môi trường từ đó làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Dựa vào các nghiên cứu trước, thì điều này không chắc là một nhận thức chung. Simpson và
cộng sự (2004) cho rằng phần lớn các nhà quản lý xem xét trách nhiệm và sự cải tiến môi
trường là chi phí tài chính. Nói chung, các nhà quản lý SMEs tin rằng giảm chất thải làm tiết
kiệm chi phí và hành động tốt đối với môi trường sẽ làm cho sản phẩm tốt hơn. Hầu hết một
nửa cho rằng sự thỏa mãn khách hàng chịu sự chi phối bởi hành vi môi trường trong tương lai.
Tuy nhiên, hầu hết những người trả lời từ các tổ chức dịch vụ không nhận thấy lợi ích từ việc
với người làm luật.
Các chủ sở hữu SMEs được cho là có ít kiến thức về sinh thái. Vì vậy, người ta kỳ vọng rằng,
quy định sẽ gia tăng nhận thức về các vấn đề môi trường cũng như chỉ ra hướng dẫn hành động
rõ ràng hơn. Tuy nhiên, có vẻ như các chủ sở hữu/ nhà quản lý không nhận thức được sự khác
biệt trong các quy định và tiêu chuẩn môi trường hiện tại, chính điều này giải thích tại sao các
SMEs có ít các hành động chính thức với môi trường.
c. Nhận thức, thái độ và hành động môi trường
Động lực thứ ba liên quan đến các phản ứng môi trường là sự quan tâm ở mức độ cá nhân. Các
chủ sở hữu có thể lựa chọn quy trình và thủ tục thân thiện với môi trường bất chấp có bị yêu
cầu bởi luật hay bởi tin rằng lợi nhuận sẽ tăng hay không. Hành vi cá nhân được tin rằng bị tác
động bởi niềm tin và thái độ của chính cá nhân đó. Vì thế, cư xử với môi trường là một vấn đề
quy tắc xử thế, người mà nhận thức được vấn đề môi trường và quan tâm đến tác động của
doanh nghiệp mình đến môi trường có nhiều khả năng hơn để hành động làm giảm tác động
đó, người nào xem quản lý môi trường như cách xử thế thì cũng ủng hộ cho các nhóm môi
trường. Số lớn doanh nghiệp có khả năng tham gia đóng góp hoạt động môi trường như tái chế,
quản lý thải hoặc bảo toàn năng lượng mà không liên quan đến chứng chỉ sản xuất chính thức
hoặc do vấn đề đạo đức hoặc do thấy được lợi ích kinh tế từ hành động này.
Nhiều nghiên cứu cho rằng các chủ sở hữu/ quản lý quan tâm đến tác động môi trường, tuy
nhiên, nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra mối liên hệ giữa thái độ tới hành động môi trường cho ra
kết quả lẫn lộn. Schaper (2002) không tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa nhận thức và hành
động trong khi Tilley (1999) cho thấy có một khoảng trống giữa chúng. Ngược lại, Naffziger
và cộng sự (2003) cho rằng khi quan tâm nhiều hơn thì các nhà quản lý bỏ ra nhiều thời gian và
nguồn lực hơn cho việc chủ động hành động hơn khi sự quan tâm ở mức ít hơn.
d. Biến ôn hòa
4
Các nhà nghiên cứu nhận ra một số các yếu tố giới hạn hành động môi trường của các chủ sở
hữu. Mức độ hành động thân thiện với môi trường có thể bị tác động bởi một số các yếu tố mà
có thể được phân loại ra thành biến ôn hòa.
Lý thuyết chỉ ra rằng các yếu tố khác xác định phạm vi nhận thức môi trường bao gồm việc tiếp
cận thông tin, yếu tố thời gian, chi phí và đặc điểm cá nhân của chủ sở hữu/ nhà quản lý như
Hành động môi trường:
Hệ thồng
Bào toàn
Ủng hộ
Biến ôn hòa:
Đặc tính cá nhân của người quản
lý/ chủ sở hữu
Thông tin môi trường
Thời gian
Nguồn lực tài chính
Hình 1: Mô hình các ảnh hưởng bên ngoài tới nhận thức và thái độ môi trường
Nhận thức môi trường bao gồm nhận thức chung và nhận thức lợi ích, chi phí liên quan
đến các vấn đề môi trường.
Thái độ đối với môi trường lại liên quan đến nhận thức của các chủ sở hữu/ người quản
lý về các vấn đề chung liên quan đến môi trường.
Mức độ hành động môi trường bao gồm đo lường hệ thống môi trường, bảo toàn và ủng
hộ đóng vai trò là biến phụ thuộc.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Khung phân tích
Các ảnh hưởng bên ngoài có liên quan ngụ ý đến khách hàng, cộng đồng địa phương, có quan
thẩm quyền nhà nước. Nhà cung cấp, định chế tài chính và những nhóm có liên quan khác. Vì
tính đa dạng của các bên liên quan nên nghiên cứu chỉ kiểm tra những ảnh hưởng bên ngoài
chung nhất được nhấn mạnh trong phần lý thuyết, đó là các nhà cung cấp, khách hàng và luật
pháp. Mỗi nhóm này đều tác động đến cả nhận thức và thái độ. Vì thế, có 6 vấn đề cần giải
quyết:
P1: Công ty có chủ sở hữu/ quản lý tin rằng các vấn đề môi trường là quan trọng với nhà cung
cấp có khả năng nhận thức môi trường ở mức cao hơn tương ứng.
P2: Công ty có chủ sở hữu/ quản lý tin rằng các vấn đề môi trường tác động đến quyết định
mua hàng của khách hàng có khả năng nhận thức môi trường ở mức cao hơn tương ứng.
P3: Công ty có chủ sở hữu/ quản lý tin rằng luật môi trường liên quan đến việc kinh doanh có
Bước thứ hai trong thiết kế nghiên cứu là để nghiên cứu ảnh hưởng của nhận thức và thái độ
vào hành động môi trường. Những hành động này có thể được phân loại thành hệ thống môi
trường, bảo toàn và ủng hộ. Vì vậy, 6 vấn đề cần giải quyết tiếp theo là:
P17: chủ sở hữu/ quản lý công ty có mức độ nhận thức môi trường cao hơn có khả năng có
hành động hệ thống môi trường tích cực hơn tương ứng.
P18: chủ sở hữu/ quản lý công ty có mức độ nhận thức môi trường cao hơn có khả năng có
hành động bảo toàn môi trường tích cực hơn tương ứng.
P19: chủ sở hữu/ quản lý công ty có mức độ nhận thức môi trường cao hơn có khả năng có
hành động ủng hộ môi trường tích cực hơn tương ứng.
P20: chủ sở hữu/ quản lý công ty có thái độ tích cực với môi trường có khả năng có hành động
hệ thống môi trường tích cực hơn tương ứng.
P21: chủ sở hữu/ quản lý công ty có thái độ tích cực với môi trường có khả năng có hành động
bảo toàn môi trường tích cực hơn tương ứng.
P22: chủ sở hữu/ quản lý công ty có thái độ tích cực với môi trường có khả năng ủng hộ môi
trường tích cực hơn tương ứng.
2. Mô hình phân tích
Khái niệm chính được chỉ ra trong hình 1 là ảnh hưởng bên ngoài, biến ôn hòa, nhận thức, thái
độ và hành động môi trừơng.
Ảnh hưởng bên ngoài bao gồm nhóm liên quan như nhà cung cấp, khách hàng và nhà làm
luật.
Ảnh hưởng của nhà cung cấp được đo lường câu trả lời tổng hợp cho các câu hỏi xây
dựng bằng thang do Likert về tác động và tầm quan trọng của việc các nhà cung cấp
quan tâm đến các vấn đề môi trường.
7
Ảnh hưởng của khách hàng được đo lường thông qua câu trả lời tổng hợp các câu hỏi
xây dựng bằng thang đo Likert về phạm vi mà các vấn đề môi trường có tác động đến
quyết định mua hàng của khách hàng hoặc liệu khách hàng có thường quan tâm đến các
vấn đề môi trường khi đưa ra quyết định lựa chọn hay không.
Ảnh hưởng của luật môi trường được đo bằng câu trả lời tổng hợp các câu hỏi xây dựng
bằng thang đo Likert về phạm vi mà luật môi trường yêu cầu mà luật đó có liên quan và
8
Nhà cung cấp: 0.75
Khách hàng: 0.75
Luật: 0.76
Nhận thức môi trường chung: 0.74
Nhận thức lợi ích – chi phí: 0.79
Thái độ môi trường: 0.76
Hệ thống môi trường: 0.84
Bảo toàn: 0.69
Ủng hộ: 0.87
3. Dữ liệu và phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Queensland nước Úc
1000 phiếu điều tra được gửi tới cho các nhà quản lý/chủ ở hữu các doanh nghiệp SMEs, số
câu trả lời là 166 chiếm 16.6%. Trong đó:
Nam chiếm 74.8%, nữ chiếm 25.2%
Tuổi từ 41-50 chiếm 32.1%, 51-60 chiếm 28.5%, 31-40 chiếm 21.8%, trên 61 chiếm
15.2%, dưới 30 chiếm 2.4%.
Giáo dục cấp 2 chiếm 35.9%, sau cấp 2 chiếm 30.1%, đại học chiếm 25.6% và khác là
8.3%.
Các công ty có từ 0-4 người lao động chiếm 53.4%
Ngành dịch vụ chiếm 47.9%, sản xuất 21.2%, bán lẻ 18.2% và khác 12.7%.
Tỉ lệ trả lời thấp là bình thường khi nghiên cứu về các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Để giải quyết
vấn đề này, kiểm định 2 đuôi được thực hiện cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa
của bất kỳ thuộc tính liên quan giữa người trả lời trước và sau. Tương tự, kiểm định Chi bình
phương được tiến hành để xem liệu có sự khác biệt về tỉ lệ người trả lời theo kích cỡ của hãng,
đặc tính của người quản lý/ chủ sở hữu, danh mục ngành và các câu trả lời về các đóng góp
môi trường của lần nghiên cứu này so với trước đây hay không. Kết quả cho thấy không có sự
khác biệt có ý nghĩa.
Để giải quyết vấn đề độ chệch xã hội tức là người trả lời có khuynh hướng trả lời theo hướng
xã hội mong muốn thì các câu hỏi được lặp lại theo hình thức phủ định và không được xếp nối
nghĩa đối với nhận thức chung trong khi điều này ngược lại đối với luật môi trường. Các
nghiên cứu trước cũng nhận thấy nhà cung cấp và luật pháp có ảnh hưởng chủ yếu nhưng mối
quan hệ chính xác giữa chúng và các bên có liên quan cũng như với hai mức độ nhận thức môi
trường chưa được kết hợp và kiểm nghiệm lại trong mô hình. Bỏ qua các ảnh hưởng này và họ
chỉ quan tâm đến việc hành động và thỏa mãn của nhà quản lý/chủ sở hữu đối với mức độ hành
động hiện tại và điều này khuyến khích họ hành động thân thiện với môi trường và cải thiện
môi trường (Hillary, 1999). Trong nhiều trường hợp, luật pháp được kỳ vọng nhiều hơn khi họ
xem luật pháp là yêu cầu bắt buộc của các nhà quản lý/chủ sở hữu nên họ hành động theo hơn
là thay đổi luật.
Đối với mức độ nhận thức môi trường, các khoản được xếp hạng cao nhất là hành động vừa đủ
để đáp ứng yêu cầu luật pháp, tiết kiệm chi phí qua việc giảm tác động môi trường, cải tiến
hiệu năng sản xuất thông qua hành động môi trường. Nói chung, nó cho thấy các nhà quản ly
10
́/chủ sở hữu không chỉ nhận thức được việc làm đúng quy định và nhận thức được ảnh hưởng
của nhà cung cấp mà còn nhận thức được hành động môi trường có thể đem lại lợi ích trong
tương lai. Gia tăng nhận thức chỉ ra rằng ngành đó tin rằng cải tiến hệ thống quản lý môi
trường làm giảm tác động tới môi trường.
Khám phá này cũng cho thấy nhà quản lý/chủ sở hữu nào mà tin rằng nhà cung cấp quan tâm
đến tác động môi trường thì cũng thấy được lợi ích – chi phí liên quan đến vấn đề môi trường
thông qua nhà cung cấp. Nhà cung cấp cũng gặp phải các vấn đề tương tự khi họ hoạt động
trong các ngành có liên quan và vì thế thông tin từ các nguồn lực này cũng có liên quan đến
doanh nghiệp. Vì họ phụ thuộc vào các yêu cầu bắt buộc nên khi có thông tin họ nhận thức
được vấn đề nhưng điều này không trực tiếp dẫn tới lợi ích kinh tế tiềm năng cho doanh
nghiệp. Tuy nhiên, như đã biết, nhận thức chung và nhận thức lợi ích chi phí có tương quan cao
vì thế luật pháp có thể bắt các chủ sở hữu SMEs phải thay đổi để nhận thức được lợi ích và chi
phí có được từ hành động. Nhận thức làm giảm tác động môi trường có ý nghĩa với lợi ích –
chi phí và có tác động tích cực đến hành động bảo toàn như giảm hoặc tái chế số lượng giấy
đóng hàng bán và thay đổi quy trình sản xuất để giảm tiêu hao nguyên vật liệu và rác thải. Đây
là một khám phá mang tính khuyến khích vì nó cho thấy nếu càng nhiều nhà quản lý/chủ sở
hữu nhận thức được lợi ích từ hành động (ví dụ thông qua chiến dịch của chính phủ hay quảng
mô hình.
Nói chung, nghiên cứu đã khám phá ra nhận thức và thái độ bị tác động bởi các bên liên quan
và sau đó ảnh hưởng đến hành động. Kết quả này làm nổi bật tầm quan trọng của việc xem xét
mức độ nhận thức vấn đề môi trường và thái độ đối với môi trường. Các giả thuyết được ủng
hộ đưa ra ba quá trình độc lập ảnh hưởng đến hành động: luật pháp, bằng việc gia tăng nhận
thức tác động đến hành động hệ thống và bảo toàn; nhà cung cấp gia tăng nhận thức lợi ích –
chi phí ảnh hưởng đến hàng động bảo toàn; nhà quản lý/chủ sở hữu quan tâm đến môi trường
sẽ ủng hộ cho các tổ chức môi trường. Tuy nhiên, cũng có những bằng chứng cho thấy đó
không phải là quá trình độc lập và một mô hình năng động hơn có thể cho thấy được mối liên
hệ giữa chúng. Việc chỉ sử dụng thái độ trong mô hình cũng là giới hạn của mô hình nên vấn đề
này nên được giải quyết ở các nghiên cứu sau này. Hành động môi trường có thể bị ảnh hưởng
bởi thái độ của nhà quản lý/chủ sở hữu đối với quy định pháp luật và tích lũy của cải.
Giới hạn
Dùng bảng câu hỏi qua mail cho nghiên cứu dẫn đến thiếu thông tin sâu, chệch theo mong ước
xã hội và chệnh không trả lời. Những yếu tố này kết hợp với cỡ mẫu nhỏ giới hạn việc tổng
quát hóa các khám phá với những các nghiên cứu khác. Ngoài ra việc thiếu định nghĩa chung
về một doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng gây khó khăn cho việc so sánh.
Tỉ lệ trả lời thấp khi nghiên cứu các SMEs là khó khăn chung. Các nhà quản lý/chủ sở hữu khi
tham gia nghiên cứu có thể chủ động hơn trong việc quản lý môi trường hàm ý rằng việc sẵn
sàng tham gia cho thấy nhận thức ngầm của các nhà quản lý/chủ sở hữu của các vấn đề này.
Ngoài ra, các nhà quản lý/chủ sở hữu có nhiều khả năng xem xét lợi ích tiềm tàng khi tham gia
vào các vấn đề công cộng có liên quan. Kết quả là có vẻ thái độ và hành động của các nhà quản
lý/chủ sở hữu bị nói quá lên. Ngoài ra, việc xem các SMEs là đồng nhất và bỏ qua các nhóm
nhỏ cũng là một giới hạn. Tuy nhiên, nỗ lực để tách các hiệu ứng ngành có thể tác động đến kết
quả nghiên cứu.
12