1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, xuất hiện khá nhiều các nghiên cứu về hành động
ngôn từ tiếng Hàn và tiếng Việt. Trong tiếng Hàn có các công trình nghiên cứu về
hành động thỉnh cầu và từ chối của tác giả Park Yong Ye [107], hành động từ chối
của tác giả Heo Sang Hee [90], hành động khen của các tác giả Lee Won Pyo [103],
Song Young Mi [117], hành động tiếp nhận và từ chối đối với hành động thỉnh cầu
của tác giả Jang Gyeung Hee [91], hành động giải thích của tác giả Je Hye Sook
[92], hành động xin lỗi của tác giả Kim In Gyu [93], hành động hỏi của tác giả Lee
Jang Deuk [99]…Trong tiếng Việt có hành động thỉnh cầu của tác giả Nguyễn Văn
Độ [17], hành động từ chối của các tác giả Nguyễn Phương Chi [12], Nguyễn Thị
Hai [24], hành động cam kết của tác giả Vũ Thị Tố Nga [49], hành động yêu cầu
của tác giả Tôn Nữ Mỹ Nhật [50], hành động cảm thán của tác giả Hà Thị Hải Yến
[80], hành động chê của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến [82], hành động hỏi của tác
giả Mai Thị Kiều Phượng [53], Nguyễn Việt Tiến [69]…
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ giao lưu văn hóa và
hợp tác quốc tế toàn diện giữa hai nước Việt-Hàn, các nghiên cứu về ngôn ngữ-văn
hóa Việt-Hàn ngày càng được quan tâm và đạt được những thành công đáng ghi
nhận. Về ngôn ngữ và văn hóa có các tác giả Nguyễn Thùy Dương [16], Hoàng Thị
Yến [83]…; ngôn ngữ và đối chiếu ngôn ngữ có các tác giả Lưu Tuấn Anh [1], Trần
Thị Hường [38], Lã Thị Thanh Mai [47], Park Ji Hoon [51]…; giảng dạy và thiết kế
chương trình có các tác giả Ahn Kyong Hwan [2], Hoàng Thị Yến [84], Nguyễn Lệ
Thu [118]…; Hàn Quốc học có các tác giả Cao Thị Hải Bắc [5], Nguyễn Thu Vân
[78], Trần Thị Bích Phượng [111]…
Kết quả khảo sát cho thấy: Nghiên cứu về câu hỏi và hành động ngôn từ được
thực hiện bởi câu hỏi trong tiếng Hàn, tiếng Việt đạt được nhiều thành tựu to lớn.
Tuy nhiên, chưa thấy xuất hiện các công trình nghiên cứu về hành động hỏi với tư
cách là hành động ngôn từ cũng như hành động hỏi tiếng Hàn (trong mối liên hệ với
tiếng Việt) một cách toàn diện và hệ thống. Điều này cho thấy: Nghiên cứu hành
2
Ryu Hyeon Mi [112, 113]…đề cập đến lí thuyết hội thoại, lí thuyết hành động ngôn
từ; tác giả Nguyễn Thị Lương [46]…đề cập đến lí thuyết hành động ngôn từ, tính
tình thái và lí thuyết lập luận; các tác giả Võ Đại Quang [54], Nguyễn Đăng Sửu
[57], Nguyễn Việt Tiến [69]…đề cập đến lí thuyết hành động ngôn từ, lí luận đối
chiếu ngôn ngữ…Tuy nhiên, cơ sở lí luận của một vài công trình mới chỉ dừng lại ở
mức độ tổng hợp, giới thiệu khái quát.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hành động hỏi tiếng Hàn với tư cách là hành
động ngôn từ yêu cầu cung cấp thông tin (trong liên hệ với tiếng Việt), kết quả
nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn dạy-học tiếng Hàn tại Việt Nam. Vì vậy, cơ
sở lí luận được xác định là lí thuyết hành động ngôn từ và lí thuyết hội thoại. Bên
cạnh đó, lí luận đối chiếu ngôn ngữ giúp tách ra các nét tương đồng và dị biệt về
ngôn ngữ-văn hóa trong thực hiện hành động hỏi. Lí luận dạy-học ngôn ngữ là căn
cứ giáo học pháp của việc thiết kế mô hình ứng dụng. Chúng tôi cố gắng vận dụng
các lí thuyết nêu trên vào việc xem xét hành động hỏi nhằm hoàn thành tốt các
nhiệm vụ nghiên cứu mà luận án đề ra.
2.2. Về khái niệm và dấu hiệu nhận biết hành động hỏi
Qua nghiên cứu tổng quan, chúng tôi thấy trong tiếng Hàn và tiếng Việt có ít nhất
hai cách hiểu về thuật ngữ “hành động hỏi”, cụ thể như sau:
Một là, “hành động hỏi” là hành động dùng kết cấu hỏi để yêu cầu cung cấp thông
tin hoặc thực hiện các mục đích giao tiếp khác như: yêu cầu thực hiện hành động
(cầu khiến), thể hiện tình cảm, thái độ (biểu cảm)… (trong công trình của các tác
giả Mai Thị Kiều Phượng [53], Đặng Thị Hảo Tâm [58], Lee Jang Duk [99]…).
Thực chất, đây là những nghiên cứu về ngữ nghĩa-ngữ dụng của câu hỏi theo hướng
nghiên cứu ngữ pháp chức năng.
Hai là, “hành động hỏi” là “hành động ngôn từ” (theo quan niệm của Austin)
hướng tới yêu cầu cung cấp thông tin chưa biết cần biết, thực hiện bởi các phương
tiện ngôn ngữ có hình thái là kết cấu hỏi và các kết cấu khác (trong nghiên cứu của
các tác giả Nguyễn Thị Lương [46], Nguyễn Việt Tiến [69], Choi Myung Ok [86]
4
Park Jong Gap [105], Seo Jung Mok [114]…). Luận án triển khai theo hướng ngữ
trong Park Young Soon [109]…Trong tiếng Việt là “câu hỏi chính danh” của tác
giả Lê Đông [19], Cao Xuân Hạo [26], Võ Đại Quang [54]…, “câu nghi vấn chân
chính” của tác giả Nguyễn Kim Thản [60], “câu hỏi thẳng” của tác giả Lê Cận,
Phan Thiều, Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung [9], “câu hỏi thực” của tác giả
Nguyễn Việt Tiến [69] Thuật ngữ chỉ câu hỏi dùng để hỏi xuất hiện đa dạng,
phong phú theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Hàn ngữ và Việt ngữ.
Phương tiện ngôn ngữ thực hiện hành động hỏi gián tiếp là các “cấu trúc ngôn
ngữ không mang hình thức hỏi nhưng cũng có hiệu lực tại ngôn như câu hỏi” [69,
tr.17]. Theo tác giả Lee Jang Deuk [99, tr.63-64], hành động hỏi được thực hiện bởi
3 loại phương tiện ngôn ngữ: i) các biểu thức chứa các động từ thể hiện thái độ/
trạng thái tường minh (
이것이
무엇인지
모르겠다
- Không biết cái này là cái gì?);
ii) biểu thức kết cấu hỏi thực hiện hành động hỏi trực tiếp (
이게
무엇인가
?- Cái này
là cái gì?); iii) sử dụng ngữ điệu hỏi lên cao ở cuối câu (
여기
?-Ở đây?). Ngoài ra,
còn có các biểu thức có động từ (대답하다-trả lời…), hay tổ hợp từ (알려주다-cho
biết, 말해 주다-nói cho ) yêu cầu cung cấp thông tin tường minh.
Hồi đáp ngôn ngữ giúp nhận diện rõ hơn lực ngôn trung của hành động ngôn từ.
Đây cũng chính là lí do các nghiên cứu về hành động hỏi và câu hỏi đều đề cập ít
nhiều đến mối quan hệ giữa hỏi-trả lời/ đáp. Trong Hàn ngữ có nghiên cứu của các
[87] chú ý đến khó khăn của học viên Trung Quốc khi học tiếng Hàn Trong tiếng
Việt, các tác giả Võ Đại Quang [54], Nguyễn Đăng Sửu [56] ứng dụng vào dạy-học
và dịch thuật tiếng Anh, Nguyễn Việt Tiến [69] ứng dụng vào dạy-học tiếng Pháp
cho sinh viên Việt Nam; tác giả Cao Thị Thu [67] ứng dụng vào dạy học tiếng Việt
cho sinh viên nước ngoài ; tác giả Phùng Thị Thanh [61], Nguyễn Thị Thìn, Phùng
7
Thị Thanh [66]…chú ý đến câu hỏi trong hội thoại dạy học ở phổ thông trung
học Có thể nói, nghiên cứu về hành động hỏi và câu hỏi trong tiếng Hàn và tiếng
Việt đã đạt được nhiều thành tựu, lĩnh vực có khả năng ứng dụng kết quả nghiên
cứu khá rộng. Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình đưa ra mô hình ứng dụng dựa
trên căn cứ lí luận và thực tiễn, nguyên lí thiết kế tin cậy; một số mô hình gợi ý ít
nhiều còn mang tính định hướng, chưa được thử nghiệm…
Trong luận án, chúng tôi thiết kế mô hình ứng dụng vào dạy-học tiếng Hàn, cụ thể
là rèn kĩ năng thực hiện hành động hỏi trong giờ học theo quan điểm giao tiếp. Mô
hình ứng dụng thiết kế dựa trên lí luận về giáo học pháp và cơ sở thực tiễn dạy và
học tiếng Hàn ở Việt Nam. Nguyên lí thiết kế được xác định dựa trên những căn cứ
lí luận và thực tế xác thực, có tính đến đặc điểm đối tượng người học và môi trường
giao tiếp tại Việt Nam.
Có thể thấy rằng, trong thực tế, vẫn thiếu vắng các nghiên cứu về hành động hỏi
yêu cầu cung cấp thông tin tiếng Hàn (trong liên hệ với tiếng Việt) một cách hệ
thống. Theo tổng quan nghiên cứu, hành động hỏi thường được xem xét với tư cách
là một trong nhiều nghĩa ngữ dụng của kết cấu hỏi và theo hướng ngữ pháp chức
năng chứ chưa được các tác giả tiếp cận như một hành động ngôn từ độc lập. Vì
vậy, luận án “Hành động hỏi (trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt)” mang tính thời
sự và góp phần lấp bớt các ô trống trong nghiên cứu hành động hỏi tiếng Hàn, tiếng
Việt.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là “hành động hỏi” tiếng Hàn (trong mối liên hệ
với tiếng Việt) với tư cách là: “Hành động ngôn từ hướng tới yêu cầu cung cấp
nhiều có đóng góp về lí luận và chuẩn bị cơ sở lí luận cho nghiên cứu.
Thứ hai, phân tích đặc điểm hành động hỏi. Hành động hỏi được xem xét trong
mối quan hệ gắn kết với hồi đáp và các yếu tố ngữ dụng-tình thái ảnh hưởng đến
việc thực hiện hành động hỏi. Luận án cũng tiến hành tổng hợp các nét tương đồng
9
và dị biệt về ngôn ngữ-văn hóa trong thực hiện hành động hỏi tiếng Hàn và tiếng
Việt. Đây là nhiệm vụ trọng tâm giúp dựng lên một bức tranh đa diện về đặc điểm
của hành động hỏi tiếng Hàn trong mối liên hệ với tiếng Việt.
Thứ ba, thiết kế mô hình ứng dụng. Luận án xác định căn cứ lí luận và thực tiễn,
nguyên lí thiết kế, trên cơ sở đó, đề xuất mô hình gợi ý ứng dụng kết quả nghiên
cứu vào dạy-học tiếng Hàn theo quan điểm giao tiếp, với triết lí sư phạm lấy người
học làm trung tâm của quá trình đào tạo. Đây là nhiệm vụ cần thiết nhằm ứng dụng
kết quả nghiên cứu của luận án vào đời sống xã hội, góp phần nâng cao chất lượng
dạy-học tiếng Hàn tại Việt Nam.
Việc hoàn thành tốt các nhiệm vụ nghiên cứu trên đồng nghĩa với việc luận án đạt
được các mục tiêu cụ thể tương ứng và mục đích nghiên cứu đã đề ra.
5. Tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5. 1. Đặc điểm của tư liệu và các bước làm việc với tư liệu
Tư liệu chính của luận án là kịch bản và bản dịch tiếng Việt của phim truyền hình
Hàn Quốc. Đây là nguồn tư liệu hội thoại tương tác, được con người sáng tác theo ý
tưởng nghệ thuật và điển hình hóa từ cuộc sống hàng ngày nên khá gần gũi, chân
thực. Tuy nhiên, kịch bản phim truyền hình không phải là ngôn ngữ tự nhiên, lại
được văn tự hóa nên ít nhiều tồn tại những hạn chế nhất định. Để khắc phục nhược
điểm này, chúng tôi bổ sung thêm tư liệu hội thoại được chọn và rút ra từ các tác
phẩm văn học, giáo trình dạy tiếng, nguồn tư liệu ghi chép/ thu âm các tình huống
hội thoại mà người viết trực tiếp trải nghiệm hoặc chứng kiến trong giao tiếp thực
tế.
Luận án xác định lấy tiếng Hàn là ngôn ngữ cơ sở để nghiên cứu hành động hỏi,
tiếng Việt chỉ được đề cập ở mức độ nhất định khi tách ra những điểm tương đồng
hay dị biệt về ngôn ngữ-văn hóa trong thực hiện hành động hỏi. Vì vậy, phạm vi
5.2. Phương pháp nghiên cứu được chọn ứng dụng
Luận án “Hành động hỏi (trên tư liệu tiếng Hàn và tiếng Việt)” phân tích đặc
điểm hành động hỏi tiếng Hàn trong mối liên hệ với tiếng Việt (ở những nét tương
đồng và dị biệt về ngôn ngữ-văn hóa dân tộc) dựa trên nguồn tư liệu tiếng Hàn,
11
tiếng Việt hiện đại. Tham khảo các chuyên khảo về phương pháp nghiên cứu, đặc
biệt là công trình của tác giả Nguyễn Thiện Giáp [22], vận dụng vào luận án với
mục đích và tính chất của nhiệm vụ nghiên cứu đã được xác định, chúng tôi lựa
chọn và sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau:
(1) Phương pháp miêu tả kết hợp định lượng và định tính;
(2) Phương pháp phân tích dụng học (ngữ cảnh hội thoại);
(3) Phương pháp so sánh-đối chiếu;
Các thao tác thống kê, phân loại; thủ pháp tổng hợp, khái quát hóa, mô hình
hóa…cũng được sử dụng kết hợp linh hoạt để thực hiện 3 nhiệm vụ nghiên cứu.
Với nhiệm vụ xác định cơ sở lí luận
Luận án kế thừa thành tựu nghiên cứu về hành động ngôn từ, vận dụng vào việc
xác định khái niệm hành động hỏi; phân tích mối quan hệ giữa tính nghi vấn và
hành động ngôn từ trong biểu thức kết cấu hỏi. Trên cơ sở đó, hệ thống và xác định
các thuật ngữ sử dụng trong luận án; xác định các tiêu chí, qui trình nhận diện hành
động hỏi. Vận dụng lí thuyết hội thoại vào phân tích cấu trúc và đơn vị hội thoại;
ảnh hưởng của các qui tắc hội thoại đến thực hiện hành động hỏi; xét mối quan hệ
của độ tường minh tiền giả định với vận động hội thoại; ảnh hưởng của các yếu tố
ngữ dụng…Lí luận về dạy-học theo quan điểm giao tiếp là căn cứ lí luận của thiết
kế mô hình ứng dụng ở chương 4. Lí luận về đối chiếu ngữ dụng được đề cập trong
phương pháp nghiên cứu đặc điểm hành động hỏi dưới đây.
Với nhiệm vụ nghiên cứu đặc điểm hành động hỏi
Tác giả Nguyễn Văn Chiến [13, tr.108-109] gọi đối chiếu ngữ dụng-ngôn ngữ học
là “ngữ dụng học tương phản ngôn ngữ” và xác định hai nhiệm vụ: i) xác lập các giá
trị giao tiếp của các đơn vị ngôn ngữ ở phương diện cấu trúc-ngữ nghĩa (ứng với
nghiên cứu ngữ nghĩa-ngữ dụng của các loại câu phân theo mục đích phát ngôn); ii)
6. Đóng góp của luận án
Với việc hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra, chúng tôi hi vọng luận án
ít nhiều có những đóng góp về lí luận và ứng dụng thực tiễn như sau:
13
6.1. Về mặt lí luận
Lí luận về tính nghi vấn trong lí thuyết hành động ngôn từ được vận dụng vào việc
hệ thống và xác định các thuật ngữ về câu hỏi và hành động hỏi để sử dụng trong
luận án; xác lập các tiêu chí và các thao tác, qui trình nhận diện hành động hỏi.
Luận án phân tích ảnh hưởng của độ tường minh của tiền giả định đến diễn tiến
của vận động hội thoại trong đoạn thoại chứa cặp trao đáp hỏi-trả lời tiếng Hàn và
tiếng Việt. Tiền giả định thiếu rõ ràng, tường minh sẽ cần đến biểu thức tường minh
hóa tiền giả định sau phản ứng (bằng lời hay phi lời) của người nghe. Chỉ khi hai
bên giao tiếp có nhận thức và sở hữu chung về thông tin tiền giả định, vận động hội
thoại mới diễn tiến bình thường, thông tin chưa biết cần biết mới được cung cấp.
Đặc điểm của hành động hỏi được làm rõ: i) Qua việc miêu tả chi tiết đặc điểm
các biểu thức hỏi (với các khuôn/ dạng thức hỏi) và các mô hình kết hợp nội tại đơn
biểu thức, mô hình kết hợp ngoại vi đa biểu thức; ii) Trong liên hệ với hồi đáp và
ảnh hưởng của các biến tố ngữ dụng đa dạng. Bên cạnh đó, các nét tương đồng và
dị biệt về ngôn ngữ-văn hóa trong thực hiện hành động hỏi tiếng Hàn, tiếng Việt
được phân tích, tổng hợp và lí giải. Luận án đưa ra một bức tranh đa diện về đặc
điểm hành động hỏi yêu cầu cung cấp thông tin chưa biết cần biết trong tiếng Hàn
(có liên hệ với tiếng Việt). Đây là căn cứ cần thiết để thiết kế các mô hình ứng dụng
vào dạy-học, rèn kĩ năng thực hiện hành động hỏi tiếng Hàn cho sinh viên Việt
Nam.
6.2. Về ứng dụng thực tiễn
Luận án đưa ra mô hình rèn kĩ năng thực hiện hành động hỏi dựa trên cơ sở lí luận
giáo học pháp và thực tiễn dạy và học tiếng Hàn, có tính đến đặc điểm người học và
môi trường giao tiếp ở Việt Nam. Mô hình ứng dụng được thử nghiệm trong hoạt
động dạy và học cho sinh viên ngành tiếng Hàn và có kết quả ban đầu tương đối
khả quan. Qua đó, tác giả luận án mong muốn có đóng góp thiết thực vào việc
1.2. Lí thuyết hành động ngôn từ
Luận án vận dụng lí thuyết về HĐNT để xác định nội hàm khái niệm HĐH, phân
tích mối quan hệ giữa TNV và HĐNT, xác định các thuật ngữ liên quan đến HĐH
để sử dụng trong luận án, xác lập tiêu chí và qui trình nhận diện HĐH.
1.2.1. Lí thuyết hành động ngôn từ và hành động hỏi
1.2.1.1. Nội hàm khái niệm hành động hỏi
Các hành động được thực hiện bằng các phát ngôn được gọi chung là “hành động
ngôn từ” (speech acts-발화행위). Thuật ngữ “speech acts” trong các ấn phẩm tiếng
16
Việt có các tên gọi khác nhau, ví dụ (vd): “hành động ngôn từ” của tác giả Cao
Xuân Hạo [26], Nguyễn Thị Thanh Bình [6, 8], Nguyễn Văn Hiệp [31, 33], Đỗ Việt
Hùng [40]…; “hành động nói” của tác giả Diệp Quang Ban [4], “hành động nói
(năng)” trong George Yule, Diệp Quang Ban hiệu đính [23]…, “hành vi ngôn ngữ”
của tác giả Đỗ Hữu Châu [10, 11], Nguyễn Văn Hiệp [28, 29, 32], Đặng Thị Hảo
Tâm [58]…; “hành vi ngôn từ” của tác giả Vũ Thị Thanh Hương [36]…
Austin trong “How to do things with words” [1962] quan niệm: Khi nói, ta thực
hiện đồng thời ba hành động: “hành động tạo lời”, “hành động tại lời” và “hành
động mượn lời” [11, tr.446-447]. Searle xếp “hỏi” vào nhóm “điều khiển-
directive”
1
- có nội dung mệnh đề là yêu cầu hành động tương lai của người nghe.
Theo khảo sát của chúng tôi, trong Từ điển tiếng Việt [79, tr. 454] không xuất
hiện mục từ “câu hỏi” hoặc “câu nghi vấn” Ngoài mục từ “hỏi 1” với nghĩa là
“dấu hỏi”, mục từ “hỏi 2” với tư cách là động từ (V) được giải thích như sau:
“Hỏi 2.đg. 1. Nói ra điều mình muốn người ta cho mình biết với yêu cầu được trả lời. Xin
hỏi một câu. Hỏi đường. Hỏi ý kiến. Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ (tng.). 2. Nói ra điều mình
đòi hỏi hoặc mong muốn ở người ta với yêu cầu được đáp ứng. Hỏi mượn quyển sách. Hỏi
mua. Hỏi giấy tờ …”.
HĐNT (1) hướng tới yêu cầu CCTT. HĐNT (2) yêu cầu đối tượng giao tiếp thực
hiện hành động. Theo Lee Jang Deuk [99, tr.51-52]: Những nghi vấn nảy sinh trong
(hearer) không chắc rằng thế nào H cũng CCTT lúc trò chuyện nếu S không hỏi,
Ba là, điều kiện chân thành: S mong muốn có được thông tin đó,
Bốn là, điều kiện căn bản: S nhằm cố gắng nhận được thông tin từ H.
b. Hành động hỏi gián tiếp
Thuật ngữ “indirect speech act” do Searle đặt ra: “Một HVTL (hành vi tại lời)
được thực hiện gián tiếp qua một HVTL khác sẽ được gọi là HVGT-(hành vi gián
tiếp) (dẫn theo Nguyễn Đức Dân [14, tr.59-60])
3
. Như vậy, HĐH gián tiếp yêu cầu
CCTT thực hiện bởi các BTH không mang hình thức kết cấu hỏi.
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp [21, tr.207], HĐNT gián tiếp “được thực hiện ở
những phát ngôn có quan hệ gián tiếp giữa một chức năng và một cấu trúc”. Tác giả
Đỗ Hữu Châu [11, tr.495-497] cho rằng: HĐH gián tiếp có đặc điểm như các HĐNT
gián tiếp khác: i) Lệ thuộc mạnh vào ngữ cảnh; ii) Có một (hoặc một số) BTH đặc
trưng; iii) Dấu hiệu hình thức là phát ngôn ngôn hành của HĐNT trực tiếp; iv) Bị
qui định bởi thuyết lập luận, phương châm hội thoại, phép lịch sự
Trong thực tế, việc nhận diện HĐH trực tiếp hay HĐH gián tiếp đều không dễ
dàng, ngay cả đối với người bản ngữ. Xét ví dụ sau: ‘Em có bút đỏ không?’. Phát
3
Hoàng Thị Yến chú giải nghĩa cụm từ viết tắt (HVTL, HVGT).
18
ngôn hỏi này có thể là HĐNT trực tiếp nếu dùng để hỏi. Phát ngôn tiếp theo lời đáp
‘Có ạ’ của học sinh có thể là: ‘Em hãy dùng bút đỏ gạch chân phần ghi nhớ’. Phát
ngôn này cũng có thể là HĐNT gián tiếp nếu nó được dùng để yêu cầu. Phát ngôn
hồi đáp ở đây có thể là: ‘Em có mang đây ạ. Cô cứ giữ lấy mà chấm bài. Em có
những hai chiếc cơ’. Như vậy, để xác định một phát ngôn hỏi thực hiện một HĐH
trực tiếp hay một HĐNT gián tiếp nào khác phải căn cứ vào ngữ cảnh, hoặc ít nhất
là trong quan hệ với lời hồi đáp. Chúng tôi vận dụng thành tựu nghiên cứu về TNV
của các nhà Hàn ngữ vào thực tiễn nghiên cứu HĐH tiếng Hàn (trong liên hệ với
tiếng Việt) để xác định các tiêu chí, qui trình nhận diện HĐH.
chưa biết, xác nhận điều chưa chắc chắn, iii) Người nói sử dụng kết cấu hỏi. Mục
đích của sử dụng phát ngôn hỏi trong giao tiếp là: i) Yêu cầu CCTT đáp ứng nhu
cầu nhận thức và ii) Thực hiện lực ngôn trung khác.
Kết quả khảo sát cho thấy: Các tiểu loại câu hỏi trong tiếng Việt xuất hiện khá đa
dạng và tồn tại các quan niệm về câu hỏi chính danh/ phi chính danh, câu hỏi đích
thực/ không đích thực như sau: i) Câu hỏi chính danh là câu hỏi dùng để thực hiện
HĐH, yêu cầu CCTT về cái chưa biết, muốn biết (Lê Đông [19], Cao Xuân Hạo
[26]…); ii) Câu hỏi chính danh là câu hỏi đích thực dùng để hỏi, câu hỏi phi chính
danh là câu hỏi không đích thực không dùng để hỏi (Nguyễn Đăng Sửu [57]; iii)
Câu hỏi chính danh (hay chân thực) là câu hỏi nhằm mục đích để hỏi, câu hỏi không
chính danh là dạng câu có hình thức của câu hỏi nhưng không thực hiện HĐH (Bùi
Minh Toán [71] ). Tuy nhiên, với các thuật ngữ này, chúng tôi gặp khó khăn khi
định danh các PTNN thực hiện HĐH gián tiếp yêu cầu CCTT. Thiết nghĩ, cần xác
định rõ mối quan hệ giữa hình thái kết cấu của PTNN và tên gọi với HĐNT được
thực hiện. Chúng tôi hiểu các thuật ngữ trên như sau:
Thứ nhất, câu hỏi chính danh có kết cấu hỏi, nếu có TNV cao, nó mang giá trị
ngôn trung là thực hiện HĐH; nếu mức độ TNV của kết cấu hỏi không cao, nó sẽ
hướng tới đích ngôn trung là thực hiện HĐNT gián tiếp khác;
Thứ hai, câu hỏi phi chính danh có hình thức là kết cấu trần thuật/ cầu khiến/ cảm
thán nhưng lại thực hiện HĐH yêu cầu CCTT một cách gián tiếp;
Thứ ba, câu hỏi đích thực hướng tới đích ngôn trung là thực hiện HĐH dù mang
hình thái cấu trúc của kết cấu hỏi hay kết cấu khác;
20
Thứ tư, câu hỏi không đích thực có kết cấu hỏi nhưng hướng tới các đích ngôn
trung khác, thực hiện các HĐNT gián tiếp của câu hỏi.
Tóm lại, về hình thức, câu hỏi chính danh và câu hỏi không đích thực mang kết
cấu hỏi, câu hỏi phi chính danh không mang hình thức câu hỏi, câu hỏi đích thực có
thể là câu hỏi hay các loại câu khác. Về nội dung, câu hỏi phi chính danh và câu hỏi
đích thực đều thực hiện HĐH, một bộ phận câu hỏi chính danh là câu hỏi không
đích thực hướng tới thực hiện HĐNT gián tiếp. Quan điểm này được chúng tôi quán
Các nhà Hàn ngữ vận dụng điều kiện thỏa mãn HĐH của Searle để xác lập các
tiêu chí kiểm định TNV của câu hỏi. Dưới đây là mức độ nghi vấn của các HĐNT ở
các nhóm và tiểu loại câu hỏi thực hiện HĐH trong các nghiên cứu tiếng Hàn.
a. Mức độ nghi vấn của hành động ngôn từ ở các nhóm câu hỏi
Tác giả Seo Soon Hee [115, tr.164] dựa trên 12 tiêu chí, tác giả Park Young Soon
[109, tr.89] dựa trên 7 tiêu chí để kiểm định TNV của các nhóm câu hỏi. Mười hai
21
tiêu chí của Seo Soon Hee [115] có: Về hình thức: i) Mang cả 3 hoặc 1 trong 3 dấu
hiệu hình thức câu hỏi: đuôi câu hỏi, từ hỏi, ngữ điệu hỏi, ii) Tùy theo mức độ tôn
trọng, đuôi câu hỏi có hình thái khác nhau, iii) Hình thái đuôi kết thúc không thể
thay thế bằng hình thái kết thúc câu của các loại câu khác, iv) Trong cùng một tình
huống, có thể sử dụng khẳng định hoặc phủ định; về nội dung: i) Người nói không
biết hoặc chưa rõ về một sự việc, sự tình nào đó, ii) Người nói tin là người nghe biết
câu trả lời, iii) Người nói muốn tìm câu trả lời thông qua người nghe, iv) Người nói
yêu cầu sự hồi đáp bằng ngôn ngữ từ người nghe; về phạm trù: ý nghĩa của câu hỏi
được biểu đạt trong 1 câu [115, tr.40-41].
Bẩy tiêu chí kiểm định TNV-7 điều kiện tạo lập câu hỏi của tác giả Park Young
Soon [109, tr.89] có: i) Sự chưa biết/ chưa chắc chắn của người nói về một vấn đề
nào đó, ii) Ý định giải quyết vấn đề thông qua người nghe, iii) Thực hiện bằng ngôn
ngữ, iv) Hình thức của câu nghi vấn/ câu hỏi, v) Không có khả năng thay bằng loại
câu khác, vi) Cần hồi đáp bằng ngôn ngữ của người nghe, vii) Tuân thủ qui tắc lịch
sự. Mức độ TNV của các nhóm câu hỏi xác định như sau:
Bảng 1.1. Mức độ tính nghi vấn của các nhóm câu hỏi
Tác giả Mức TNV cao Mức TNV trung bình Mức TNV thấp
Seo Soon Hee
[115]
<10,6/12> Câu hỏi ý
nghĩa cơ bản-기본적 의
미
<6,12/12> Câu hỏi ý
trù
Tổng Xếp
loại
Mức
độ
Ý
nghĩa
cơ
bản
Câu hỏi đơn thuần
(단순의문문)
4 4 4 12 1
Tính
nghi
vấn cao
Câu hỏi ý hướng
(의향의문문)
4 3.8 4 11.8 2
Câu hỏi phỏng đoán
(추측의문문)
4 3.47 4 11.47 3
Câu hỏi xác nhận
(확인의문문)
3 3.27 4 10.27 4
Câu hỏi lặp (반복의
문문)
2.5 2.94 2 7.44 7
Mức độ TNV của các tiểu loại câu hỏi trong nhóm ý nghĩa cơ bản của Seo Soon
Hee [115] có độ chênh khá lớn
4
Dựa trên thành tựu nghiên cứu có trước, căn cứ vào nội hàm TNV của HĐH,
chúng tôi xác định nhóm câu hỏi thực hiện HĐH gồm 3 tiểu loại có mức TNV cao
nhất (7/7) trong Park Young Soon [109, tr.89], đó là: i) 가부 의문문-câu hỏi có-
không; ii) 의문사 의문문-câu hỏi chứa từ nghi vấn; iii) 선택 의문문-câu hỏi lựa
chọn. Chúng tôi đưa thêm câu hỏi xác nhận vào nhóm với hai căn cứ sau:
Thứ nhất, tồn tại cái chưa biết rõ (cần được xác nhận cho rõ), sự chưa chắc chắn
(cần đảm bảo xác thực), thể hiện ở điều kiện tạo lập câu hỏi và tiêu chí kiểm định
TNV của tác giả Park Young Soon [109], tiêu chí kiểm định TNV của tác giả Seo
Soon Hee [115] hay định nghĩa câu hỏi chính danh của tác giả Lê Đông [19]…);
Thứ hai, câu hỏi xác nhận được một số nhà nghiên cứu xếp vào nhóm có TNV
cao, ví như: Tác giả Seo Soon Hee [115] xếp xác nhận vào nhóm có TNV cao; tác
giả Lee Jang Deuk [99] coi xác nhận là một tiểu loại của câu hỏi phán định; tác giả
Nguyễn Việt Tiến [69] xếp xác nhận vào nhóm câu hỏi thực; tác giả Cao Xuân Hạo
[26] xếp i) “câu hỏi siêu NN”: Có phải…không? (Có phải anh Nam đến đây không?
Đáp: Phải-không phải); ii) câu được ghép bởi “tiểu cú” …phải không?,…đúng
không? sau mệnh đề được đưa ra hỏi, (Anh đỗ rồi phải không?/ đúng không?) vào
nhóm câu hỏi chính danh) Như vậy, sự chưa chắc chắn về thông tin của người nói
khiến TNV ở mức cao và đòi hỏi có hồi đáp xác nhận thông tin.
24
Ngoài ra, câu hỏi lặp với mức TNV trung bình, có khả năng thực hiện nhiều
HĐNT khác nhau. Khi khảo sát tư liệu, chúng tôi tách được một nhóm thực hiện
yêu cầu xác nhận thông tin chưa rõ cần làm rõ. Vì thế, chúng tôi coi lặp là một trong
những phương thức xác nhận thông tin.
Trong nghiên cứu của tác giả Seo Soon Hee [115], câu hỏi phỏng đoán (추측의문
문) có mức độ nghi vấn cao. Trong tình huống dưới đây, người nói phỏng đoán và
cũng yêu cầu người nghe dự đoán về điều gì đó. Vd: Sp1: 영이가 집에 잘 갔을까?
Chắc Youngi (sẽ) về nhà an toàn chứ? - Sp2: 잘 갔겠지/ Chắc là an toàn thôi. [115,
tr.94-95]. Yêu cầu phỏng đoán của Sp1 không hướng tới mục đích nhằm thỏa mãn
nhu cầu nhận thức qua hồi đáp của Sp2 vì SP1 cũng biết rõ Sp2 không phải là người
có thể CCTT chính xác về Youngi. Vì thế, chúng tôi theo tác giả Park Young Soon
-câu hỏi cầu khiến…). Trong tiếng Việt, tồn tại sự thiếu nhất quán trong sử dụng
thuật ngữ “câu hỏi chính danh” và “câu hỏi đích thực”. Chúng tôi nhận thấy: Nội
hàm ý nghĩa “câu hỏi yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhận thức” phản ánh khá chân thực
tính chất của câu hỏi thực hiện HĐH. Vì vậy, chúng tôi đề xuất sử dụng thuật ngữ “
인식
의문문
-câu hỏi nhận thức” bên cạnh thuật ngữ “
질문의문문
-câu nghi vấn hỏi”
trong tiếng Hàn và tiếng Việt.
2) Thuật ngữ định danh các tiểu loại câu nghi vấn hỏi
Các tiểu loại trong nhóm câu hỏi nhận thức được xác lập dựa trên cách thức yêu
cầu CCTT, tương ứng với cách thức hồi đáp CCTT, bao gồm:
a) Câu hỏi phán định-판정의문문: thực hiện HĐH yêu cầu phán định về thông
tin cần biết (
카폐에
가본
적이
있으세요
? Anh đến quán cà phê bao giờ chưa?).
b) Câu hỏi giải thích-설명의문문: thực hiện HĐH yêu cầu CCTT với tiêu điểm
hỏi là từ hỏi (
한국의
봄