KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN-HÀ NỘI CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA52 - Pdf 30

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................4
CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁT VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI..................................................6
1.1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI..........................................................................................6
1.1.1. Khái niệm ngân hàng thương mại ( NHTM).................................6
1.1.2. Khái quát về hoạt động tín dụng ngân hàng..................................6
1.1.3. Tín dụng ngắn hạn trong ngân hàng thương mại..........................8
1.2. VẤN ĐỀ CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG
NGẮN HẠN CỦA NHTM......................................................................10
1.2.1. Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của NHTM..........................10
1.2.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá khả nàng cạnh tranh của NHTM trong
hoạt động tín dụng ngắn hạn.................................................................17
1.2.3. Các công cụ cạnh tranh của ngân hàng thương mại....................20
1.2.4. Nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của NHTM............28
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TẠI NGÂN HÀNG TMCP SÀI
GÒN-HÀ NỘI CHI NHÁNH ĐỐNG ĐA..........................................32
2.1 Khái quát về ngân hàng Sài Gòn-Hà Nội chi nhánh Đống Đa......32
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng Sài Gòn-Hà Nội
chi nhánh Đống Đa................................................................................32
2.1.2 Mục tiêu hoạt động.......................................................................33
2.1.3 Họat động kinh doanh của ngân hàng..........................................34
Phạm Thị Ánh Bích_505411009
1
2.2 Thực trạng khả năng cạnh tranh của ngân hang TMCP Sài Gòn-
Hà Nội chi nhánh Đống Đa trong hoạt động tín dụng ngắn hạn........40

3
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong một môi trường kinh doanh đầy biến động và khắc nghiệt như hiện nay,
bất kì thành viên nào cũng luôn phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển. Cạnh tranh
đã và đang trở thành một qui luật phổ biến và tất yếu của kinh tế thị trường và được
coi là động lực phát triển của nền kinh tế cũng như mỗi doanh nghiệp. Nó đòi hỏi
các doanh nghiệp luôn tự hoàn thiện mình, phát huy được các thế mạnh để có thể
vững vàng đối mặt với những nguy cơ tiềm ẩn của thị trường. Và cũng như các
doanh nghiệp khác, ngành ngân hàng cũng không nằm ngoài qui luật vận động đó.
Trong thời kì bao cấp, ngành ngân hàng Việt Nam nằm ngoài qui luật phát triển
này và đã chậm bước so với toàn thế giới. Cùng với quá trình đổi mới trong hệ thống
ngân hàng theo cơ chế thị trường, cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng ngày càng
quyết liệt. Hoạt động tín dụng ngắn hạn nhân được nhiều sự quan tâm chú ý do tầm
quan trọng của nó đối với sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự phát triển bền
vững của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại
trong hoạt động tín dụng ngắn hạn hiện nay là một vấn đề bức xúc cần có hướng giải
quyết đúng đắn.
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội nói chung và ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà
Nội chi nhánh Đống Đa nói riêng có những lợi thế đặc biệt trong hoạt động tín dụng
ngắn hạn nhưng bên cạnh đó có một số hạn chế ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh
của ngân hàng trong lĩnh vực này. Xuất phát từ thực tế đó, sau thời gian thực tập và
nghiên cứu tại ngân hàng, tôi đã chọn đề tài: “ Giải pháp nâng cao khả năng cạnh
tranh trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà
Nội” làm chuyên đề thực tập của mình.
Phạm Thị Ánh Bích_505411009
4
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Chuyên đề khái quái và thống nhất các vấn đề lí luận chung như khái niệm cạnh
tranh, cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại… Đồng thời, bài chuyên đề còn

Là một trong những tổ chức tài chính quan trọng nhất của hệ thống tài chính
nói riêng và nền kinh tế nói chung, ngân hàng thương mại thực hiện những nghiệp
vụ đặc trưng của mình tài trợ cho hoạt động diễn ra không ngừng của cuộc sống.
Theo luật của tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 (12/12/1997): NHTM là loại
hình tổ chức kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là
nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền này để cấp
tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán.
Trong cuốn Quản trị ngân hàng Perter Rose cũng khẳng định: “ Ngân hàng là
loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng
nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ hạch toán…”
Như vậy, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy
động vốn các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho vay, đầu tư và
thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác.
1.1.2. Khái quát về hoạt động tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một hoạt động đặc biệt quan trọng đối với một ngân hàng. Thông
qua các khoản mục tín dụng của mình, ngân hàng tài trợ cho hầu hết các hoạt
động sản xuất của các hãng kinh doanh hay là nguồn ứng cứu của các tổ chức tài
Phạm Thị Ánh Bích_505411009
6
chính khác, trợ giúp cho các hộ gia đình và cá nhân bằng các khỏan vay tiêu dùng
và đem lại một nguồn lợi vô cùng lớn cho bản thân ngân hàng. Hoạt động cho
vay của ngân hàng không phải là chuyển một tài sản của ngân hàng cho một
người nào đó mà chính là tạo ra tiền mới. Điều này hoàn toàn đúng khi đối tượng
cho vay là một cá nhân, một doanh nghiệp hay là Chính phủ. Hoạt động tín dụng
không những dựa trên chữ TÍN làm đầu mà còn phụ thuộc rất nhiều vào môi
trường kinh doanh, xu hướng phát triển của nền kinh tế cũng như vào khả năng
thẩm định độ tín nhiệm của khách hàng và nhiều yếu tố.
Hiện nay, cùng với sự phát triển của ngành ngân hàng, các sản phẩm dịch vụ,
đặc biệt là các loại hình tín dụng ngân hàng cũng được mở rộng, đổi mới và đa
dạng hóa nhằm đáp ứng đầy đủ được các nhu cầu ngày càng tăng của khách

Phổ biến và được ưa thích bởi nó có tính thanh khoản cao, độ an toàn và tính hiệu
quả lớn, đáp ứng nhu cầu đa dạng về vốn trong ngắn hạn của khách hàng một
cách nhanh chóng, chủ động và kịp thời.
1.1.3.2. Tín dụng ngắn hạn phân loại khách hàng như sau
a) Khách hàng là Nhà nước
Ngân hàng cho Nhà nước vay để tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của Nhà
nước. Hình thức phổ biến hiện nay là ngân hàng mua tín phiếu Kho bạc và
trái phiếi Chính phủ. Khả năng hoàn trả của Nhà nước rất cao, song cũng
không loại trừ có những trường hợp Nhà nước mất khả năng chi trả khi đến
hạn.
b) Khách hàng là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
Ngân hàng cho vay với các doanh nghiệp nhằm tài trợ nhu cầu vốn tăng
thêm cho sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp là khách hàng chiếm số lượng
Phạm Thị Ánh Bích_505411009
8
đông nhất của các ngân hàng thương mại. Phần lớn các khoản cho vay này có
thế chấp hoặc cầm cố tài sản.
+ Các doanh nghiệp bán lẻ, chế biến thực phẩm, sản xuất hàng theo thời
vụ là khách hàng chủ yếu của ngân hàng. Họ cần dự trữ cho thời vụ, hoặc tăng
chi phí sản xuất. Vào mùa xây dựng các công ty xây dựng là khách hàng vay
của ngân hàng. Họ cần có vốn để xây dựng trước công trình trước khi chủ đầu
tư thanh toán. Nguồn trả nợ chính là tiền thanh toán của chủ đầu tư.
+ Ngân hàng tài trợ cho các doanh nghiệp xuất, nhập khẩu, bao gồm cho
vay xuất, nhập khẩu và cho vay thanh toán. Xuất khẩu đang trở thành lĩnh vực
đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Chính phủ nhiều nước đang sử
dụng ngân hàng làm động lực thúc đẩy xuất khẩu. Cho vay xuất nhập khẩu có
rủi ro khá cao, liên quan tới quan hệ kinh doanh quốc tế.
c) Khách hàng là các cá nhân và hộ kinh doanh cá thể (cho vay tiêu dùng)
Ngân hàng cho vay đối với người tiêu dùng nhằm thỏa mãn nhu cầu mua
sắm hàng hóa tiêu dùng lâu bền như nhà cửa, phương tiện đi lại hoặc để phát

NGẮN HẠN CỦA NHTM
1.2.1. Cạnh tranh và khả năng cạnh tranh của NHTM
1.2.1.1. Lý luận chung về cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh
Theo cuốn Longman “Cạnh tranh là hành động của một cá nhân hay một
tổ chức cố gắng để chiến thắng hoặc giành được công việc kinh doanh từ các
đối thủ của mình”. Theo Kinh tế học, cạnh tranh là sự tranh giành thị trường
(khách hàng) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp. Như vậy, một nền
kinh tế thị trường luôn đòi hỏi phải có cạnh tranh và ngược lại cạnh tranh theo
nghĩa tranh giành thị phần chỉ có trong khuôn khổ của của kinh tế thị trường.
Phạm Thị Ánh Bích_505411009
10
Cạnh tranh có chia thành hai loại: cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không
hoàn hảo. Thị trường có cạnh tranh hoàn hảo là thị trường có nhiều người bán
và người mua cùng một hàng hóa đồng nhất đến mức không ai có thể ảnh
hưởng đến giá cả thị trường. Nếu có ít nhất một người bán lớn đến mức có thể
ảnh hưởng tới giá cả thị trường thì xảy ra cạnh tranh không hoàn hảo (tình trạng
độc quyền).
Trong cạnh tranh, mỗi cá nhân cố gắng vì lợi ích của riêng mình đã vô tình
đem lại lợi ích lớn nhất cho xã hội. Một thị trường tự do là một đòi hỏi cho sự
tăng trưởng chung của toàn xã hội. Tuy nhiên theo Paul A. Samuelson lại cho
rằng trong cạnh tranh sự can tiệp của Chính phủ là cần thiết với vai trò là người
điều tiết. Trên thực tế không có một thị trường nào là cạnh tranh hoàn hảo hay
hoàn toàn độc quyền. Mọi nền kinh tế thị trường đều ở trạng thái cạnh tranh
không hoàn hảo. Cho nên đánh giá một thị trường là cạnh tranh hoàn hảo hay
độc quyền chỉ là tương đối. Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh một mặt
tạo động lực của sự phát triển kinh tế, mặt khác là tối đa hóa lợi nhuận và lợi
ích của cả người cung cấp và người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ.
Theo qui luật chung, cạnh tranh luôn có xu hướng dẫn đến độc quyền một
mặt do tác động của qui luật hiệu quả kinh tế theo quy mô, mặt khác độc quyền
là hình thức đem lại cho các nhà cung cấp lợi nhuận siêu ngạch. Vì thế cạnh

hàng là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt nên ngân hàng cũng gặp phải
những khó khăn trên thị trờng với vô số những đối thủ cạnh tranh đang ngày
càng phát triển cả về số lợng và chất lợng. Vì vậy vấn đề cạnh tranh đối với
ngân hàng cũng vô cùng cấp thiết. Để làm rõ vấn đề này chúng ta hãy cùng
tìm hiểu cạnh tranh trong ngân hàng thì có gì khác biệt với các ngành kinh tế
khác .
Phm Th nh Bớch_505411009
12
1.2.1.2 . Cnh tranh gia cỏc ngõn hng thng mi
Môi trờng kinh tế của một ngân hàng chịu sự tác động của một số yếu
tố trong đó không thể không kể đến môi trờng hoạt động của bản thân các
ngân hàng. Ngành ngân hàng các nớc phát triển theo những phơng thức không
hoàn toàn giống nhau, tuy nhiên luôn tồn tại một lực lợng quan trọng là ngân
hàng Nhà nớc hay ngân hàng Trung ơng điều hành mọi hoạt động về mặt
chính sách của khối ngân hàng nói chung. Các ngân hàng thơng mại có thể
thuộc Nhà nớc hay do t nhân lãnh đạo dới hình thức hội đồng quản trị nhng
đều liên quan mật thiết đến mọi hoạt động của nền kinh tế và không chỉ một
ngân hàng có thể tạo nên thị trờng mà cần có sự tham gia hoạt động của các
ngân hàng khác. Nơi đâu có dân c và sản xuất kinh doanh, nơi đó có ngân
hàng. Ngoài ra, các tổ chức tín dụng và tổ chức tài chính phi ngân hàng ngày
càng phát triển ang đặt các ngân hàng vào một tình thế khó khăn: những
nghiệp vụ trớc kia do ngân hàng đảm nhận nay đợc các tổ chức khác thực hiện
dới những hình thức ngày càng đa dạng và phong phú hơn, hớng tới những thị
trờng mà ngân hàng đã và đang bỏ ngỏ. Rõ ràng ngân hàng đang phải cùng lúc
cạnh tranh vơi nhiều lực lợng: các ngân hàng trong cùng khối và các tổ chức
tài chính phi ngân hàng có những thế mạnh riêng.
Có thể nói, cạnh tranh giữa các ngân hàng là sự nỗ lực một cách toàn
diện và đồng bộ của một ngân hàng trong một lĩnh vực khi cung ứng cho
khách hàng những sản phẩm dịch vụ có chất lợng cao nhằm khẳng định vị trí
của ngân hàng vợt lên khỏi các ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động

Tại một số nớc, chính sách tiền tệ cũng gắn liền với quan điểm cạnh
tranh là xấu. Công cụ chủ yếu để quản lý tiền tệ là trần lãi suất, quy định một
lãi suất cao nhất đợc phép cho hoạt động tín dụng. Hơn nữa, lãi suất trao đổi đ-
ợc cố định không phải với ý nghĩa là có một lãi suất trung tâm cố định mà trên
thực tế đợc quyết định bởi ngân hàng Trung ơng trong từng ngày.
Phm Th nh Bớch_505411009
14
Tuy nhiên những quan niệm trên đã dần bị thay đổi theo thời gian. Giữa
hệ t tởng cũ và mới đang ngày có nhiều xung đột và có những khác biệt quan
trọng. Những chính sách mới đang ngày càng đợc áp dụng nhằm nâng cao khả
năng cạnh tranh của mỗi ngân hàng. Chính sự phân biệt giữa cái cũ "cạnh
tranh trong ngân hàng là xấu' và cái mới "cạnh tranh là tụt" đã chứng tỏ một
tất yếu khách quan: cạnh tranh giúp cho các ngân hàng tồn tại và phát triển.
Ngoài lí do tồn tại khiến các ngân hàng phải cạnh tranh, các ngân hàng
dù đã có những thoả thuận để tránh cạnh tranh lẫn nhau nhng trong một nền
kinh tế vận động không ngừng, không ai kinh doanh không vì mục tiêu tăng
thêm giá trị tài sản của mình, ngành ngân hàng cũng không nằm ngoài vòng
xoáy đó. Đây là một tất yếu của nền kinh tế. Không ngân hàng nào lại có thể
bỏ qua các cơ hội đem lại cho mình nhiều lợi ích hơn và hoạt động chỉ dựa
theo nguyên tắc đạo đức thuần tuý. Có thể nói rằng, các ngân hàng cạnh tranh
không phải để xoá bỏ sự có mặt của đối phơng trên thị trờng mà trớc hết là
khẳng định đợc mình, để vợt lên đối phơng. Thực chất ngân hàng cần thiết
phải tồn tại theo một hệ thống để tạo cơ sở giúp đỡ lẫn nhau. Khi đã có ngân
hàng này tận dụng cơ hội thì ngân hàng kia cũng không thể làm ngơ trớc
những điều kiện mà với sức mạnh riêng của mình họ có thể thu lợi nhiều hơn.
Xu thế phát triển không ngừng để tồn tại không cho phép bất cứ ngân hàng
nào có thể đứng ngoài cuộc cạnh tranh.
Ngoài ra, sự ổn định về vị trí trên thị trờng cũng làm cho các ngân hàng
rơi vào tình trạng chây ỳ trớc sự phát triển đầy tính biến động của nền kinh tế.
Không lờng trớc đợc sự phát triển của các tổ chức khác; bộ máy lãnh đạo hoạt

mình cung cấp cho khách hàng dịch vụ gì mà còn phải chú ý mình cung cấp
dịch vụ đó theo cách nào, cho ai và vì mục đích gì. Chỉ có nh vậy khách hàng
mới thực sự cảm nhận đợc nỗ lực của ngân hàng trong mối quan hệ hai bên
Phm Th nh Bớch_505411009
16
cùng có lợi này. Không chỉ khách hàng cần ngân hàng mà ngân hàng còn cõn
có khách hàng để tồn tại. Trong môi trờng cạnh tranh khốc liệt nh hiện nay thì
điều này lại cần đợc các ngân hàng nhận thức một cách triệt để hơn bao giờ
hết.
1.2.2. H thng ch tiờu ỏnh giỏ kh nng cnh tranh ca NHTM trong
hot ng tớn dng ngn hn
Tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của NHTM. Do đó, đánh giá
khả năng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng là một nội dung quan trọng
trong việc phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Tuỳ theo mục
đích phân tích mà ngời ta đa ra nhiều chỉ tiêu khác nhau, tuy mỗi chỉ tiêu có
nội dung khác nhau nhng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau.
Trong phạm vi bảng báo cáo tổng hợp kết quả hoạt động kinh doanh, ta có thể
áp dụng các chỉ tiêu sau để đánh giá khả năng cạnh tranh trong hoạt động tín
dụng ngắn hạn của ngân hàng:
1.2.2.1 . Tng d n cho vay ngn hn (DNNH):
% DNNH = D n ngn han/ Tụng d n
Đây là Chỉ tiêu cho biết rõ nét nhất về kết quả cho vay ngắn hạn của
ngân hàng. Giá trị của các khoản cho vay phản ánh phần nào khả năng thu hút
khách hàng của ngân hàng cũng nh cho biết ngân hàng có khoản vốn huy
động mạnh đến thế nào mới có thể cung ứng một cách đầy đủ cho những
khoản vay trên. Nó là một chỉ tiêu định lợng, xác định cơ cấu tín dụng trong
trờng hợp d nợ đợc phân theo thời hạn cho vay (ngắn, trung, dài hạn). Chỉ tiêu
này còn cho thấy biến động của tỷ trọng giữa các loại d nợ tín dụng của một
ngân hàng qua các thời kỳ khác nhau. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ mức độ
phát triển của nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn càng lớn, mối quan hệ với khách

tăm trên thị trờng, vì cũng giống nh ngân hàng, uy tín của doanh nghiệp cũng
Phm Th nh Bớch_505411009
18
do những thành quả đạt đợc trong quá khứ gây dựng nên. Không một ngân
hàng nào muốn mạo hiểm cho một doanh nghiệp không có tên tuổi và chỗ
đứng trên thị trờng hay một doanh nghiệp đã có tiếng xấu trong hoạt động trớc
đây vay vốn, với lí do một trong những mục tiêu hoạt động của ngân hàng là
an toàn. Tình hình tài chính của khách hàng có ổn định mới bảo đảm khách
hàng hoạt động có hiệu quả và do đó có khả năng trả nợ cho khách hàng khi
có một dự án khả thi và một phơng án trả nợ vay hợp lý.
1.2.2.4. Trỡnh ca cỏn b tớn dng
Chỉ tiêu này đợc biểu hiện thông qua trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín
dụng. Cán bộ tín dụng có trình độ cao bảo đảm cho quá trình xét duyệt cho
vay không sai sót và có độ tin cậy cao. Trình độ của cán bộ tín dụng còn thể
hiện chính sách đào tạo và đãi ngộ cũng nh khả năng thu hút nhân tài của
ngân hàng, tạo thành một lực lợng làm nên một nửa thành công của ngân
hàng: đó chính là nguồn nhân lực có chất lợng cao.
1.2.2.5. Kh nng gii quyt n xu
Trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, tín dụng ngắn hạn luôn chiếm
một tỷ trọng lớn, và tạo ra phần lớn lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, trong
hoạt động tín dụng yếu tố rủi ro luôn thờng trực và ở mức tỷ lệ khá cao, do đó
mà tại các ngân hàng ngời ta luôn dành sự chú ý đặc biệt đến việc kiểm soát
cũng nh những biện pháp để chống đỡ, hạn chế rủi ro tín dụng, đặc biệt là tín
dụng ngắn hạn. Chỉ tiêu này đợc thể hiện thông qua các biện pháp mà ngân
hàng đã sử dụng từ xa tới nay trong quá khứ để giải quyết nợ xấu, chống đỡ
một cách linh hoạt các thay đổi về lãi suất, về tỷ giá cùng những rủi ro khác có
thể xảy ra (cớp ngân hàng, nhầm lẫn trong thanh toán, hoả hoạn. . .), góp
phần nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng, đem lại lợi thế cạnh tranh
cho ngân hàng. Khi một ngân hàng có thể làm tốt công tác này chứng tỏ ngân
Phm Th nh Bớch_505411009

những đặc thù rất riêng của ngành ngân hàng. Sản phẩm của các ngân hàng
hầu nh là giống nhau tạo nên sự đn điệu chung trên thị trờng sản phẩm nhng
những ngân hàng có ý định hạ giá để tạo sự khác biệt cho sản phẩm của mình
sẽ không thành công. Ngân hàng nào cũng có tiềm năng cạnh tranh về giá nên
giá cho vay chung trên thị trờng chính là giá thấp nhất đảm bảo cho ngân hàng
vẫn còn có thể có lãi từ hoạt động cho vay. Bất cứ ngân hàng nào muốn phá vỡ
thế ổn định đó sẽ kéo theo sự chuyển động của cả một hệ thống và tính suy
yếu cũng mang tính hệ thống sâu sắc. Vợt qua giới hạn cuối cùng, ngân hàng
phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ trong hoạt động kinh doanh và tiếp đó là khả
năng tài chính giảm sút, làm mất đi khả năng cạnh tranh trong tơng lai do
không thể đáp ứng đợc các nhu cầu của khách hàng.
Tuy nhiên, ta cũng có thể dễ dàng nhận thấy là các ngân hàng có thể sử
dụng những lãi suất khác nhau cho những khách hàng khác nhau trong những
khoản vay tởng nh là cùng loại và cùng quy mô. Điều này một phần là do các
nhân tố rủi ro khác nhau và các điều khoản khác nhau của khoản vay: tài sản
báo đảm, thời điểm trả nợ. . . Khách hàng có nhiều sự lựa chọn, bao gồm cả
lựa chọn không cần vay vì có khả năng tài chính vững mạnh, thờng nhận đợc
lãi suất thấp hơn so với những khách hàng có ít hơn hay không có lựa chọn
nào. Những sự lựa chọn trên cho phép khách hàng "mua hàng" giữa các ngân
hàng và các tổ chức tài chính khác để có đợc những điều kiện tết nhất. Nếu
điều này xảy ra ở quy mô lớn, sự khác biệt về lãi suất của mỗi ngân hàng đối
với các khoản cho vay sẽ có xu hờng thu hẹp lại và sẽ chỉ có một sự khác biệt
không đáng kể về lãi suất giữa các ngân hàng trên cùng một thị trờng. Nói
cách khác, quyền lực của độc quyền bán quan hệ nghịch đảo với khả năng lựa
chọn của khách hàng.
Tóm lại, đối với ngành ngân hàng, cạnh tranh bằng lãi suất không phải
là một công cụ đem lại lợi ích mong muốn. Một minh chứng dễ thấy nhất là
Phm Th nh Bớch_505411009
21
tại các nớc phát triển, lãi suất không phải là một công cụ đợc a thích và trên thị

a) Quy mô nguồn vốn (capital adequacy)
Vốn chủ sở hữu (vốn tự có - VTC) của ngân hàng thơng mại đóng vai
trò sống còn trong việc duy trì hoạt động và đảm bảo cho ngân hàng khả năng
phát triển lâu dài. Nếu một ngân hàng có mức vốn tự có càng lớn thì mức chịu
đựng rủi ro càng cao, phạm vi hoạt động càng rộng. Hay nói một cách khác,
một ngân hàng để có đợc giấy phép tổ chức và hoạt động trớc khi có thể huy
động đợc những khoản tiền gửi đầu tiên, buộc phải có một lợng vốn tối thiểu
theo quy định của pháp luật. Nhằm để: (i) bù đắp những khoản thua lỗ trong
kinh doanh; (ii) dùng để tăng trởng và mở rộng hoạt động kinh doanh của
ngân hàng trong tơng lai; (iii) bảo vệ ngời gửi tiền và các nhà đầu t, tức là
bằng mức VTC các cổ đông của ngân hàng cam kết với các khách hàng có
tiền gửi rằng: nếu gặp rủi ro trong kinh doanh, ngân hàng sẽ thờng xuyên có
đủ mức vốn tự có để ứng phó và (iv) VTC là nguồn thích hợp nhất để chi cho
hạ tầng cơ sở của ngân hàng nh xây dựng trụ sở, mua sắm TSCĐ . . . Nhng
quy mô nguồn vốn nh thế nào là hợp lý?
Theo thông lệ quốc tế, để đảm bảo an toàn trong hoạt động của một
ngân hàng thơng mại thì tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản có tối thiểu phải đạt 8
% , nợ quá hạn dới 5 % .
Qua những điều đã trình bày ở trên, chúng ta thấy vai trò của vốn chủ sở
hữu trong việc tăng năng lực cạnh tranh giữa các ngân hàng bằng cách tạo nên
sự khác biệt nh thế nào. Các ngân hàng trong quá trình cạnh tranh cần cân
đối nguồn vốn này một cách hợp lý nhất tuỳ từng thời kỳ, nhằm hoạt động một
cách hiệu quả nhất, đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh của ngân hàng trong toàn
hệ thống.
Phm Th nh Bớch_505411009
23
b) .Chất lợng tài sản (Asset Quality)
Chỉ tiêu này nhằm mục đích phân tích chất lợng tài sản có và danh mục
cho vay bao gồm việc thẩm định vừa mang tính định lợng vừa mang tính định
tính đối với các khoản cho vay và các mức độ rủi ro đầu t khác của ngân hàng.

vốn tự có. . . để có thể phát huy thành một lợi thế cạnh tranh của mình. Vậy
trong trờng hợp này, các ngân hàng trên làm thế nào để có thể tiếp tục tồn tại
và phát triển giữa những lực lợng hùng hậu khác? Một trong những chiếc chìa
khoá của sự thành công chính là năng lực sáng tạo và điều hành của bộ máy
lãnh đạo ngân hàng. Sức mạnh của bộ máy này là biết đánh giá, kết hợp một
cách tài tình tất cả mọi nguồn lực có trong tổ chức và phát huy tối đa khả năng
của từng bộ phận vào kết quả tổng hợp chung của ngân hàng. Để có thể thành
công trong môi trờng cạnh tranh hiện nay, các nhà quản trị ngân hàng cần có
những tố chất sau đây:
Khả năng chuyên môn.
Khả năng phán đoán chiến lợc dể dành và giữ vững vị trí trên thị
trờng
Khả năng, nghệ thuật đối nhân xử thế đối với cán bộ công nhân
viên của ngân hàng cũng nh với khách hàng.
d) Kết quả kinh doanh (Earmning record):
Kết quả kinh doanh của ngân hàng thơng mại phản ánh nỗ lực của ngân
hàng dới tác động của nhiều nhân tố. NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền
tệ, phân tích kết quả kinh doanh là một công tác có tầm quan trọng đặc biệt
giúp cho các nhà quản lý đánh giá hoạt động của ngân hàng, xây dựng các
mục tiêu và tìm biện pháp nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động. Phân tích kết
quả kinh doanh nhằm:
Phm Th nh Bớch_505411009
25

Trích đoạn Tăng cường thực hiện Marketing Ngõn hàng: Đổi mới cơ cấu vốn huy động theo hướng cú lợi và hợp lý Những kiến nghị đối với Nhà nước:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status