Giải pháp nâng cao chất lượng thẩm định trong hoạt động tín dụng doanh nghiệp tại VP Bank - Pdf 94

Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
Lời mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình hội nhập quốc tế hoá, khu vực hoá, sự tăng trởng nhanh
của nền kinh tế là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Để có sự
tăng trởng kinh tế ấy cần có sự nỗ lực của Nhà nớc, của các tổ chức kinh tế và
của toàn dân. Trong đó, ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự
nghiệp phát triển kinh tế của mỗi nớc. Với nhiệm vụ cơ bản là cấp tín dụng cho
nền kinh tế, ngân hàng đã cung ứng một khối lợng vốn lớn. Hơn nữa, tín dụng
cũng là nghiệp vụ cơ bản và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự tồn tại và
phát triển của mỗi ngân hàng. Đối với các NHTMVN thì nghiệp vụ tín dụng là
nghiệp vụ chủ yếu và nó chiếm tỉ trọng cao nhất trong các dịch vụ mà ngân
hàng cung cấp cho khách hàng. Tuy nhiên do đặc thù của tín dụng ngân hàng là
chứa đựng rất nhiều rủi ro nên công tác thẩm định trong hoạt động tín dụng, đặc
biệt là tín dụng doanh nghiệp cần phải đợc chú trọng.
Trong điều kiện nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ theo cơ chế thị tr-
ờng, môi trờng kinh tế có nhiều thay đổi đã ảnh hởng lớn đến các hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp. Hàng loạt các doanh nghiệp tiến hành mở
rộng sản xuất kinh doanh đã kéo theo các hoạt động quản lí kinh doanh tín
dụng của ngân hàng cũng thay đổi, hoàn thiện lại. VPBank có quan hệ tín dụng
với nhiều doanh nghiệp bao gồm cả doanh nghiệp lớn lẫn doanh nghiệp nhỏ và
vừa. Các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với ngân hàng có doanh số vay
chiếm tới gần 60% tổng doanh số cho vay của cả ngân hàng với tỉ lệ nợ quá hạn
trên tổng d nợ là không đáng kể. Tuy vậy, công tác thẩm định cũng cần xem
xét, nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ sao cho thích hợp với những điều
kiện thực tại chung của môi trờng kinh tế và điều kiện của ngân hàng.
Chính vì lẽ đó, đề tài Giải pháp nâng cao chất l ợng thẩm định trong
hoạt động tín dụng doanh nghiệp tại VPBank có tính cấp thiết cả về mặt lí
luận và thực tiễn.
Mục đích của chuyên đề
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011

Ch ơng 1
Một số vấn đề cơ bản về thẩm định
trong hoạt động tín dụng của các NHTM
1.1. Hoạt động tín dụng của NHTM trong cơ chế thị trờng
1.1.1. Khái niệm tín dụng doanh nghiệp
Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho
vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh
nghiệp và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên
đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách
nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh
toán. Nh vậy, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở có
hoàn trả.
Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng thì: Tín
dụng doanh nghiệp là một giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và doanh nghiệp,
trong đó ngân hàng sẽ chuyển giao vốn cho doanh nghiệp sử dụng trong một
thời hạn nhất định theo thoả thuận, doanh nghiệp có trách nhiệm hoàn trả vô
điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Một số chuyên
gia trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng phát biểu bằng một khái niệm ngắn gọn
hơn: Tín dụng doanh nghiệp là quan hệ giao dịch giữa ngân hàng và doanh
nghiệp, trong đó ngân hàng chuyển giao vốn bằng tiền cho doanh nghiệp sử
dụng với sự tin tởng rằng doanh nghiệp sẽ thực hiện nghĩa vụ hoàn trả khi hết thời
hạn thoả thuận.
Dựa theo nhu cầu cần tài trợ vốn của doanh nghiệp, ngân hàng phân tín
dụng theo tiêu thức thời hạn của khoản vay thành hai nhóm: tín dụng ngắn hạn
và tín dụng trung và dài hạn.
1.1.2. Hoạt động kinh doanh tín dụng của NHTM
Tín dụng là hoạt động cơ bản mang tính truyền thống của các NHTM.
Bản thân hoạt động tín dụng mang lại lợi nhuận cao song đây cũng là hoạt động
chứa đựng nhiều rủi ro tiềm tàng nhất trong toàn bộ các dịch vụ của ngân hàng
đặc biệt là tín dụng đối với doanh nghiệp. Rủi ro tín dụng là rủi ro về sự tổn thất

hàng. Trong quá trình này, ngân hàng với những lí lẽ khoa học dựa trên cơ sở
nghiên cứu cẩn trọng các mặt mạnh và yếu của doanh nghiệp để đánh giá một
cách khách quan về doanh nghiệp. Vì vậy thẩm định doanh nghiệp vừa có vai
trò giúp ngân hàng có những biện pháp thích hợp để hạn chế rủi ro trong quá
trình cho vay đồng thời đây còn là cơ sở để ngân hàng ra các quyết định tín dụng.
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011
4
Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
Mặt khác, thẩm định giúp ngân hàng kiểm tra tính chính xác của các thông
tin do khách hàng cung cấp từ đó có nhận định đúng về thái độ của ngân hàng. Cụ
thể hơn, công tác thẩm định giúp ngân hàng biết đợc doanh nghiệp có đầy đủ năng
lực pháp lí theo quy định của pháp luật hay không, có sức mạnh tài chính đến đâu,
năng lực kinh doanh và điều kiện kinh doanh nh thế nào, phơng án xin vay vốn có
khả thi hay không và cuối cùng là các bảo đảm tín dụng của doanh nghiệp có thể
là nguồn trả nợ thứ hai chắc chắn cho ngân hàng? Từ việc đánh giá các yếu tố liên
quan đến việc hoàn trả món vay, ngân hàng sẽ xem xét món vay đó có phải có chất
lợng tốt không và sẽ đa ra quyết định có cấp khoản tín dụng cho khách hàng
không?
Vai trò to lớn nữa của công tác thẩm định trong hoạt động tín dụng là nó
cho thấy những lợi ích mà doanh nghiệp và ngân hàng có đợc trong việc thiết
lập mối quan hệ tín dụng giữa hai bên. Ngân hàng có thể cung ứng dịch vụ của
mình cho khách hàng nhằm thu đợc lợi nhuận, còn doanh nghiệp thì sử dụng
vốn của ngân hàng để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình theo
đúng tiến độ. Lợi ích của hai bên đạt đợc là những lợi ích về tài chính và về uy
tín, do đó nó sẽ ngày càng đem lại sức mạnh và lợi thế trong quá trình phát triển
của cả doanh nghiệp lẫn ngân hàng.
Vì thế có thể thấy rằng vai trò của công tác thẩm định doanh nghiệp
trong hoạt động tín dụng là hết sức cần thiết và cực kì quan trọng.
1.3. Nguồn thông tin cơ sở cho công tác thẩm định
Nguồn thông tin để thẩm định trong hoạt động tín dụng doanh nghiệp

chức chuyên cung cấp thông tin, từ các phơng tiện thông đại chúng, từ
các ấn phẩm của các cơ quan Chính phủ, thông tin từ các văn bản
pháp quy, từ các ngân hàng khác, từ bạn hàng của doanh nghiệp vay
vốn hoặc thậm chí là thông tin từ các chủ thể thờng xuyên có quan hệ
giao dịch với ngân hàng.
1.4. Nội dung công tác thẩm định doanh nghiệp
Hiện nay tất cả các NHTM đều thực hiện cho vay đối với tất cả các thành
phần kinh tế mà Nhà nớc công nhận: Nhà nớc, tập thể, t bản nhà nớc, t bản t
nhân, t nhân, nớc ngoài. Trong hoạt động tín dụng doanh nghiệp, các NHTM có
mối quan hệ tín dụng với các loại hình doanh nghiệp: DNNN, doanh nghiệp t
nhân, công ti cổ phần, công ti TNHH, công ti hợp danh, doanh nghiệp có vốn
đầu t nớc ngoài. Khi đánh giá doanh nghiệp để quyết định cho vay, các NHTM
đều đánh giá những nội dung sau:
1.4.1. Đánh giá năng lực pháp lý của doanh nghiệp
Năng lực pháp lí là cơ sở pháp lí cho mọi hoạt động của doanh nghiệp, là
khả năng chịu trách nhiệm trớc pháp luật của doanh nghiệp về nghĩa vụ phải
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011
6
Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
thực hiện. Đối với doanh nghiệp đi vay, năng lực pháp lí của doanh nghiệp
chính là khả năng chịu trách nhiệm trớc pháp luật về việc thực hiện đúng hợp
đồng đã ký kết và nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng. Năng lực pháp lí của
doanh nghiệp thể hiện ở t cách pháp nhân, nghĩa là:
Doanh nghiệp phải đợc thành lập hoặc đợc công nhận thành lập bởi các cơ
quan quản lí Nhà nớc có thẩm quyền. Đối với doanh nghiệp cấp trung ơng thì
phải do các bộ trởng hoặc chính phủ ra quyết định, còn đối với doanh nghiệp
cấp địa phơng phải do Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh hoặc ngời đợc uỷ quyền ra
quyết định.
Doanh nghiệp phải có tài sản riêng thuộc quyền quản lí hoặc sở hữu của chính
doanh nghiệp và doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm độc lập về tài sản đó.

thờng đánh giá những vấn đề sau:
Tìm hiểu xem các thông tin doanh nghiệp trình bày có gì không nhất quán
về với những thông tin trong bộ hồ sơ mà doanh nghiệp đã cung cấp: về
mục đích vay vốn, tài sản đảm bảo, về phơng án và dự án xin vay, các vấn
đề liên quan đến tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Những thông tin trong quá khứ của doanh nghiệp có tốt không? Những
thông tin này thể hiện quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
trong những năm trớc và những thông tin về những lần vay nợ trớc nh thế
nào? Các hoạt động trong quá khứ của doanh nghiệp chính là tiểu sử cho
thấy cách thức kinh doanh, phẩm chất đạo đức và văn hoá trong kinh
doanh của doanh nghiệp, từ đó phản ánh chính xác t cách cũng nh uy tín
của doanh nghiệp. Đây chính là cơ sở quan trọng cho các cán bộ tín dụng
làm công tác đánh giá doanh nghiệp.
Những lí lẽ mà doanh nghiệp thuyết phục ngân hàng để vay vốn có quá c-
ờng điệu và phi lí không trong điều kiện hiện tại? Ngân hàng cần phải so
sánh thực tế với những vấn đề mà khách hàng trình bày. Nếu quả thực
doanh nghiệp đã phóng đại những khả năng hiện có của mình và biến
những điều bất lợi thành những tiềm năng to lớn và cơ hội mang tính khả
thi cao thì chứng tỏ t cách của doanh nghiệp không tốt và ngân hàng càng
phải chú ý xem xét kỹ hơn.
Uy tín của doanh nghiệp thể hiện ở lòng tin của các chủ thể kinh tế có
quan hệ với doanh nghiệp trong kinh doanh: các bạn hàng, các tổ chức tài chính
và các cơ quan nhà nớc. Khi đánh giá uy tín của doanh nghiệp, ngân hàng phải
xem xét mối quan hệ của doanh nghiệp với bạn hàng: các hợp đồng mua bán có
đợc thực hiện theo đúng hợp đồng hay không, việc mua bán chịu của doanh
nghiệp nh thế nào Ngân hàng xem tình hình doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ
thuế ra sao và quan hệ vay nợ các tổ chức tín dụng, có vay trả sòng phẳng
không?
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011
8

hạn ngắnt ầuđ và TSLĐ
= hạn ngắn nợtoán thanh số Hệ
hạn ngắnNợ
thu iphả n khoảCác + hạn ngắnTTCĐ + Tiền
= nhanhtoán thanh số Hệ
9
Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
Thông thờng, các ngân hàng tính toán và thấy rằng đối với các doanh
nghiệp có chu kì kinh doanh ngắn thì chỉ tiêu này có thể bằng hoặc nhỏ hơn 1
(khoảng 0,7 là tốt), còn đối với các doanh nghiệp có chu kì kinh doanh dài thì
chỉ tiêu này bằng 1 là lí tởng.
Khả năng trả nợ của doanh nghiệp (khả năng thanh toán nợ dài hạn).
Tỉ lệ này phản ánh (tơng đối) quy mô của khoản nợ dài hạn so với nguồn
vốn chủ sở hữu. Tỉ số này càng cao thì khả năng trả nợ càng thấp và ngợc lại.
Theo kinh nghiệm của một số ngân hàng thì tỉ lệ không đợc vợt quá 1.
Hệ số thanh toán lãi tiền vay (hay còn gọi là khả năng trả lãi):
dùng để đo lờng mức độ an toàn của thu nhập có thể trả lãi cho
các chủ nợ.
Chỉ tiêu lí tởng đợc nhiều ngân hàng áp dụng đó là khả năng thanh toán
lãi tiền vay phải lớn hơn hoặc ít nhất phải bằng 2, có nh vậy thì khả năng thanh
toán lãi của doanh nghiệp cho ngân hàng mới đợc đảm bảo.
Nhóm các hệ số về cơ cấu vốn (còn gọi là cơ cấu tài chính): Ngân
hàng đặc biệt quan tâm đến hệ số nợ bởi hệ số này cho biết có bao
nhiêu phần trăm nguồn vốn của doanh nghiệp đợc huy động từ bên
ngoài.
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011
nNợ ngắn hạ
n hạn chính ngắ khoản tàiTiền + Các
tức thời =h toán nợ Hệ số than
uữ hsở chủ vốnNguồn

vốnNguồn
=
trợ

tài

tựsuất

Tỉ
10
Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
Một doanh nghiệp có cơ cấu vốn an toàn khi hệ số nợ bằng 0,5 (tức 50%
tổng tài sản) vì nó cho thấy có ít nhất một nửa tài sản của doanh nghiệp đợc
hình thành bằng nguồn vốn chủ sở hữu. Trong thực tế, có rất nhiều các doanh
nghiệp có hệ số này lớn, thậm chí có trờng hợp lên tới 80% - 90%. Điều này
cho thấy doanh nghiệp hoạt động chủ yếu bằng vốn đi vay. Chính vì vậy, ngân
hàng cần hết sức thận trọng trong khi cho vay đối với những doanh nghiệp này.
Một hệ số nợ hợp lí đối với các doanh nghiệp đi vay là 0,5. Tuy nhiên, nó
còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nh: quy mô của doanh nghiệp, thâm niên
của doanh nghiệp, cơ cấu của tài sản và chất lợng của tài sản, sự ổn định về mặt
tài chính, tính thận trọng hay mạo hiểm của doanh nghiệp...
Nhóm các hệ số tỉ lệ hoạt động: cho thấy mức sử dụng các loại tài sản
khác nhau để đạt một mức doanh thu nhất định. Các chỉ tiêu này cho thấy
tính hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đối với từng
loại tài sản.
Hệ số quay vòng hàng tồn kho:
Hệ số này đo lờng số lần vốn đầu t vào hàng tồn kho trong một kì tính
toán, nó cho thấy hiệu quả của việc doanh nghiệp quản lí hàng tồn kho. Nếu hệ
số này ở mức thấp (hoặc đang giảm) thì doanh nghiệp đang trong tình trạng ứ
đọng vốn, ảnh hởng đến việc sử dụng vốn của doanh nghiệp. Nếu hệ số này ở

Vòng quay vốn lu động:
Vòng quay vốn lu động phản ánh hiệu quả sử dụng vốn lu động của doanh
nghiệp trong năm tài chính. Nếu vòng quay vốn lu động càng lớn có nghĩa là vốn
lu động quay càng nhiều vòng, thì tốc độ quay vòng vốn lu động càng nhanh
chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lu động càng tốt và ngợc lại.
Chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng TSCĐ (hay vòng quay TSCĐ):
Chỉ tiêu này cho thấy mức độ đầu t cho tài sản cố định, tuy nhiên tuỳ
thuộc vào từng ngành nghề kinh doanh mà chỉ tiêu này có thể lớn hay nhỏ.
Doanh thu ở đây đợc xem xét là từ ba hoạt động của doanh nghiệp, đó là doanh
thu thuần, doanh thu từ hoạt động tài chính và doanh thu bất thờng. Do đó, đây
là một chỉ tiêu phản ánh năng lực hoạt động của doanh nghiệp. Nếu tỉ số này
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011
nâqu nh
ì
b ộngđ lu Vốn
thuần thu Doanh
= ộngđ lu vốnquay Vòng
nâqu nhìb ịnhđ cố nsả Tài
thuần thu Doanh
= ịnhđ cố nsả tài dụng sửsuất Hiệu
nâqu nhìb vốn)(nguồn nsả tài Tổng
ộng)đ hoạt (3 ộngđ hoạt các từ thu Doanh
= nsả tài tổng dụng sửsuất Hiệu
12
Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
thấp cho thấy năng lực hoạt động của doanh nghiệp còn hạn chế, cha phát huy
hết. Ngân hàng cần phải xem xét nguyên nhân vì đâu gây ra sự hạn chế này.
Nhóm các hệ số sinh lời: Nhóm chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp trong năm tài chính.
Hệ số này đo lờng khả năng sinh lời trên một đồng doanh thu của doanh nghiệp.

Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
(3) Tạo điều kiện cho ngân hàng có thể tính toán đợc thời gian doanh
nghiệp có nhu cầu vay và thời điểm doanh nghiệp có thể trả nợ.
Ngân hàng thờng sử dụng các công thức sau cho việc đánh giá lu chuyển
tiền của doanh nghiệp:
CFO (Cash flow Output): dòng tiền đầu ra trong thanh toán
Theo kinh nghiệm của một số ngân hàng, tuỳ vào từng ngành, nghề của
doanh nghiệp, hệ số này khoảng 20 - 30% sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp có thể
thanh toán đợc nợ.
Đối với khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng tiền, cũng tuỳ vào từng
loại ngành, nghề của doanh nghiệp, hệ số này từ khoảng 40 - 50% là tốt.
CFI (Cash flow of Investment): dòng tiền dùng để đầu t
Hệ số này sẽ cho ngân hàng thấy đợc tiền tạo ra trong hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp có đủ lớn để tài trợ cho hoạt động đầu t của doanh
nghiệp hay không. Qua đó, ngân hàng đánh giá đợc tình hình về hoạt động đầu
t của doanh nghiệp.
Phân tích điểm hoà vốn: Điểm hoà vốn là điểm hoạt động mà tại đó
doanh thu đúng bằng chi phí của doanh nghiệp. Việc phân tích điểm hoà
vốn giúp ngân hàng biết đợc mức doanh thu an toàn mà doanh nghiệp
phải đạt đợc.
Doanh thu của doanh nghiệp là số tiền thu đợc của lợng hàng hoá bán ra
tính theo giá bán (TR = P * Q). Chi phí đợc tính từ hai loại chi phí: Chi phí cố
định và chi phí biến đổi (TC = F + V*Q). Điểm hoà vốn đợc xác định trên cơ sở
tổng doanh thu bằng tổng chi phí (TR = TC).
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011
nâqu nhìbtrả iphả nợTổng
CFO
= tiền bằng nợtoán thanh số Hệ
nâqu nhìb hạn ngắnNợ
CFO

1.4.4. Đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.
Để đánh giá năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, ngân hàng phải đánh
giá đồng thời nguồn lực, cơ cấu tổ chức và năng lực điều hành của doanh
nghiệp.
Thứ nhất, ngân hàng đánh giá nguồn lực và năng lực điều hành doanh nghiệp.
Nguồn lực của doanh nghiệp bao gồm nguồn lực vật chất và nguồn
nhân lực. Nguồn lực vật chất đó là các cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật,
nguồn cung ứng các yếu tố đầu vào, tài sản vô hình của doanh
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011
tế thực thu Doanh
toàn an thu Doanh
= toàn an thu doanh lệ Tỷ
phí chi Tổng - thu doanh Tổng
ổiđ biếnphí Chi - thu doanh Tổng
= (P/Q) nhạyộĐ
15
Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
nghiệp... trong đó phải kể đến tính tiên tiến và hiện đại cũng nh tính
chuyên môn của nó. Nguồn nhân lực là số lợng và chất lợng ngời lao
động có khả năng đáp ứng kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Nguồn nhân lực không những rẻ mà còn phải đáp ứng đợc các
yêu cầu tối thiểu nh: trình độ, kỹ năng, văn hoá...
Năng lực kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng điều hành
sản xuất kinh doanh. Ngân hàng đánh giá trình độ của đội ngũ lãnh
đạo, bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Trởng và phó phòng
của các phòng ban, tổ trởng các tổ sản xuất kinh doanh... Trình độ
của đội ngũ lãnh đạo đợc thể hiện ở năng lực tổ chức, năng lực chuyên
môn, trình độ hoạch định chiến lợc và uy tín của ngời lãnh đạo.
Đội ngũ lãnh đạo cần phải có trình độ chuyên môn giỏi và có kinh
nghiệm trong ngành sản xuất. Trình độ chuyên môn thể hiện ở bằng cấp còn

liên hệ thống nhất chặt chẽ giữa các bộ phận và có số lợng lao động trong
mỗi bộ phận phù hợp với yêu cầu công việc.
1.4.5. Đánh giá môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp.
Đây là yếu tố bên ngoài có ảnh hởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Để phân tích, đánh giá điều kiện kinh doanh của
doanh nghiệp, ngân hàng thờng đánh giá qua 3 mặt chủ yếu sau:
Ngân hàng đánh giá xu hớng biến động mang tính chu kì của nền kinh tế
dựa vào sự tăng trởng GDP. Nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn tăng tr-
ởng, tỉ lệ GDP cao, thì có nhiều cơ hội để doanh nghiệp phát triển kinh
doanh. Doanh nghiệp sẽ có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh, vì thế
mong muốn vay vốn từ ngân hàng là hoàn toàn hợp lí. Còn khi nền kinh tế
đang trong giai đoạn suy giảm thì khả năng đứng vững và phát triển của
doanh nghiệp gần nh không còn nữa, điều kiện kinh doanh sẽ trở nên khó
khăn hơn, các doanh nghiệp chỉ thờng quan tâm đến việc tồn tại hơn là
việc đầu t phát triển nên nếu doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn thì ngân hàng
cần xem xét khoản vay này có vấn đề không.
Ngân hàng đánh giá điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp qua sự biến
động của các ngành kinh doanh. Một sự thay đổi trong ngành kinh doanh
này sẽ dẫn đến sự thay đổi trong ngành kinh doanh kia và ngợc lại. Đó là
sự biến động trong từng ngành và chuyển đổi trong cơ cấu ngành giữa các
ngành với nhau.
Sự thay đổi của các chính sách kinh tế cũng ảnh hởng lớn đến điều kiện
kinh doanh của các doanh nghiệp. Khi chính sách thay đổi theo chiều h-
ớng có lợi cho các doanh nghiệp nh: mở cửa nền kinh tế, giảm thuế suất,
hỗ trợ xuất khẩu, u tiên ngành nghề... thì điều kiện kinh doanh của các
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011
17
Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
doanh nghiệp đó thuận lợi hơn rất nhiều và doanh nghiệp có nhu cầu mở
rộng sản xuất là tất yếu. Ngợc lại, vì một lí do nào đó Nhà nớc thắt chặt

tính chắc chắn của khoản lợi nhuận dự kiến qua các hợp đồng tiêu
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011
18
Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
thụ, nhu cầu bức xúc của thị trờng về loại sản phẩm mà phơng án
đang thực hiện... Bằng việc xác định đợc nguồn thu để trả nợ hợp lí,
ngân hàng sẽ có cơ sở để đánh giá khả năng trả nợ thực tế của doanh
nghiệp.
Khả năng thực hiện phơng án: trên cơ sở các hợp đồng ký kết với bên
cung cấp và bên tiêu thụ, ngân hàng tính đợc khả năng thực hiện ph-
ơng án kinh doanh. Ngoài ra, ngân hàng phải kiểm tra năng lực thực
hiện phơng án của doanh nghiệp qua kế hoạch về triển khai phơng án.
Khi đánh giá phơng án kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn, ngân hàng
phải phân tích đầy đủ các nội dung trên. Tuy nhiên, trong thực tế, ngân hàng th-
ờng chú ý nhiều hơn chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của phơng án. Bởi khi doanh
nghiệp lập một phơng án kinh doanh có hiệu quả kinh tế cao chứng tỏ doanh
nghiệp có một mục đích vay vốn để sản xuất kinh doanh thực sự, lập kế hoạch
để thực hiện phơng án và kế hoạch trả nợ cho ngân hàng. Do đó, chỉ tiêu về hiệu
quả kinh tế của phơng án là cơ sở tốt nhất để ngân hàng quyết định cho vay.
Phân tích, đánh giá dự án đầu t : Để xem xét tính khả thi và hiệu quả của
dự án đầu t, ngân hàng thờng phân tích các phơng diện chủ yếu sau:
Đánh giá sự cần thiết và mục tiêu của dự án đầu t.
Đánh giá tính thị trờng của dự án:
Xem xét sự lựa chọn sản phẩm của dự án
Phân tích thị trờng tiêu thụ sản phẩm:
Đánh giá khả năng và phơng thức cạnh tranh của dự án.
Đánh giá về phơng thức tiêu thụ sản phẩm:
Đối với sản phẩm xuất khẩu, ngân hàng phải tìm hiểu các tiêu
chuẩn chất lợng, vệ sinh an toàn của sản phẩm, các yêu cầu của đối
tác nớc ngoài, hạn nghạch, thuế quan và quan hệ thơng mại 2 nớc

-i
- C
i
*(1+r)
-i
B
i
: nguồn thu năm i.
C
i
: nguồn chi năm i.
Chỉ tiêu này cho thấy giá trị của toàn bộ lãi từ dự án tính tại thời điểm
hiện tại. Tuy nhiên, chỉ tiêu này có nhợc điểm là buộc ngân hàng phải tính đợc
các nguồn thu chi một cách chính xác và không cho biết đợc tỉ suất sinh lời trên
một đồng vốn đầu t của dự án.
Tơng tự chỉ tiêu này là chỉ tiêu giá trị tơng lai ròng của dự án đầu t (NFV
- Net Future Value) thể hiện quy mô lãi của dự án tại thời điểm kết thúc đời
hoạt động của dự án.
NFV = B
i
*(1+r)
n-i
- C
i
*(1+r)
n-i
n : số năm dự án hoạt động
Chỉ tiêu tỉ suất hoàn vốn nội bộ: Tỉ suất hoàn vốn nội bộ là
mức lãi suất mà nếu dùng nó làm tỉ suất chiết khấu để tính chuyển các khoản
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011

n
= 0
Cách tính theo lợi nhuận bình quân năm:
Thời gian hoàn vốn cho ngân hàng biết đợc tốc độ thu hồi vốn đầu t. Dự
án có thời gian hoàn vốn càng nhanh chứng tỏ hiệu quả về mặt tài chính càng
cao.
Chỉ tiêu lợi ích/chi phí: Chỉ tiêu này phản ánh tỉ lệ giữa
nguồn thu và nguồn chi của cả đời dự án đầu t.
Chỉ tiêu điểm hoà vốn: Điểm hoà vốn là mức độ hoạt động
của dự án đầu t mà tại đó doanh thu vừa đủ bù đắp các khoản chi phí đã bỏ ra.
Điểm hoà vốn đợc xác định theo công thức sau:
f : Chi phí cố định.
Sản lợng hòa vốn = x
*
= f/(p - v) p : Giá bán sản phẩm.
Doanh thu hoà vốn = D
*
= f/(1-p/v) v : Chi phí biến đổi.
Đánh giá rủi ro của dự án: Có nhiều phơng pháp đánh giá rủi ro của
dự án nhng phơng pháp phổ biến và đơn giản nhất đợc các ngân hàng sử dụng là
phân tích độ nhạy và phân tích tình huống.
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011
nămnâqu nhìb hao và khấu nhuậnLợi
tư ầuđ Vốn
= vốn hoàngian Thời
21
Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
Phơng pháp phân tích độ nhạy là cách đánh giá yếu tố nào hình thành
nên các yếu tố chỉ tiêu hiệu quả gây ra rủi ro nhiều nhất. Theo phơng pháp này,
ngân hàng xác định các yếu tố có thể gây rủi ro cho yếu tố chỉ tiêu hiệu quả,

Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
1.5. Các nhân tố ảnh hởng đến công tác thẩm định trong hoạt
động tín dụng ngân hàng
1.5.1. Các nhân tố thuộc về khách hàng
Có nhiều nhân tố từ phía doanh nghiệp ảnh hởng đến công tác thẩm định
doanh nghiệp của ngân hàng. Nó có thể xuất phát từ khách quan hoặc chủ ý của
doanh nghiệp. Ngân hàng đôi khi sẽ gặp khải những khó khăn trong công tác
đánh giá doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không thực sự hợp tác trong quá trình
thiết lập mối quan hệ tín dụng với ngân hàng.
Hồ sơ xin vay vốn của doanh nghiệp là một trong những nhân tố phải kể
đến, bởi đây là cơ sở đầu tiên của mối quan hệ giữa doanh nghiệp và ngân hàng.
Nếu bộ hồ sơ của doanh nghiệp không nêu đầy đủ, chính xác và không đợc
trình bày một cách khoa học những thông tin mà ngân hàng yêu cầu thì việc
đánh giá doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn.
Chính sách bảo mật thông tin của doanh nghiệp cũng là một nhân tố ảnh
hởng đến công tác đánh giá doanh nghiệp của ngân hàng. Những số liệu và tình
hình thực trạng của doanh nghiệp trong quá khứ lẫn hiện tại là hết sức quan
trọng đối với ngân hàng, bởi nó là một trong những cơ sở để ngân hàng xem xét
quyết định đến việc cho vay. Nếu đó là một thông tin xấu có thể ảnh hởng đến
khoản tín dụng này mà doanh nghiệp cố tình che đậy thì coi nh kết quả công tác
đánh giádoanh nghiệp không còn giá trị. Rất có thể ngân hàng sẽ phải gánh
chịu những thiệt hại không lờng đối với khoản tín dụng cấp cho doanh nghiệp.
Có thể nói, từ phía doanh nghiệp có nhiều những nhân tố ảnh hởng đến
công tác thẩm định của ngân hàng, nhng tựu chung lại, đó là những nhân tố chủ
quan và khách quan mà doanh nghiệp mang lại. Nếu là khách quan, việc điều
chỉnh nó phù hợp với quy định của ngân hàng là hoàn toàn có thể làm đợc, nhng
nếu là những nhân tố chủ quan có ảnh hởng xấu thì chất lợng của công tác thẩm
định coi nh vô giá trị.
1.5.2. Các nhân tố thuộc về ngân hàng
Từ phía ngân hàng cũng có rất nhiều nhân tố ảnh hởng đến quá trình

Cơ chế giám sát hoạt động tín dụng cũng là một nhân tố tác động đến chất
lợng của công tác thẩm định của doanh nghiệp. Ngân hàng thực hiện kiểm
tra, giám sát tốt thì sẽ hạn chế và khắc phục kịp thời những sai sót trong
quá trình thực hiện công tác đánh giá doanh nghiệp.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận trong ngân hàng cũng đem lại chất
lợng tốt hơn cho công tác đánh giá doanh nghiệp. Nó vừa có tác dụng
kiểm tra chéo lẫn nhau, lại vừa có tác dụng cung cấp, bổ sung những
thông tin cần thiết cho quá trình thẩm định của ngân hàng.
Sinh viên: Trần Văn Lý - Lớp 4011
24
Giải pháp nâng cao chất lợng công tác thẩm định
1.5.3. Các nhân tố khác
Các nhân tố khách quan nh: chính sách công khai thông tin, chính sách
kiểm toán, những quy định về thời gian cho việc đánh giá doanh nghiệp, quy
mô doanh nghiệp quá lớn hoặc những chỉ định về việc cấp tín dụng từ Nhà n-
ớc... đều là những nhân tố có thể ảnh hởng đến chất lợng của công tác đánh giá
doanh nghiệp. Nếu là những nhân tố khách quan nằm ngoài kế hoạch của ngân
hàng thì ngân hàng phải tập trung đánh giá đợc những vấn đề cơ bản liên quan
đến khoản tín dụng; nếu sơ bộ có thể quyết định giải ngân đợc thì phải nắm đợc
những rủi ro có thể xảy ra và dự tính đợc những biện pháp để thu hồi vốn vay
khẩn cấp.
Tóm lại, có nhiều những nhân tố ảnh hởng đến công tác đánh giá doanh
nghiệp trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Có những nhân tố xuất phát từ
phía doanh nghiệp, có những nhân tố xuất phát từ phía ngân hàng, nhng cũng có
những nhân tố khách quan gây ảnh hởng. Chính vì vậy, khi đánh giá doanh
nghiệp, ngân hàng cần đặc biệt chú ý tới những nhân tố đó để tìm cách khắc
phục, đảm bảo cho công tác đánh giá doanh nghiệp đạt kết quả cao, nhằm nâng
cao chất lợng tín dụng và loại trừ những nguy cơ rủi ro có thể xảy đến cho ngân hàng.

Tóm lại : Công tác thẩm định trong hoạt động tín dụng doanh nghiệp của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status