GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI VPBANK - Pdf 74

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH
TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI VPBANK
3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP CỦA VPBANK
Dựa vào tiềm lực thực tế của ngân hàng, điều kiện kinh tế của đất nước và
khu vực, VPBank đưa ra định hướng đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020:
3.1.1.Định hướng nhiệm vụ chủ yếu trong 5 năm (2006 – 2010 )
 Mục tiêu chiến lược: Phấn đấu trở thành một ngân hàng thương mại bán lẻ
hàng đầu ở Việt Nam, NHTMCP hàng đầu phía Bắc, hoạt động đa năng, mở rộng
các dịch vụ ngân hàng, phục vụ phát triển kinh tế trong nước trên cơ sở định hướng
khách hàng mục tiêu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ và dân cư.
 Trở thành một ngân hàng có công nghệ tiên tiến, hiện đại, hội nhập tốt vào
khu vực và thế giới khi Việt Nam gia nhập AFTA,WTO…
3.1.2. Các chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể:
 Phấn đấu mức tăng trưởng mỗi năm đối với dư nợ là 30%, huy động vốn là
35%, lợi nhuận trước thuế và DPRR từ 20 – 25%.
 Về huy động vốn, Ngân hàng tiếp tục thực hiện chính sách lãi suất linh
hoạt, cung cấp nhiều tiện ích bổ xung cho khách hàng gửi tiết kiệm cũng như
khách hàng sử dụng tài khoản tiền gửi, chuẩn bị điều kiện để quản lí tập trung tài
khoản tiền gửi, đưa tiện ích gửi tiền một nơi, rút tiền nhiều nơi vào giao dịch, phấn
đấu mức tăng trưởng mỗi năm khoảng 35%.
 Về tín dụng, tập trung phục vụ các đối tượng khách hàng là doanh nghiệp
vừa và nhỏ thuộc khu vực tư nhân , khách hàng là cá nhân vay vốn phục vụ nhu
cầu tiêu dùng hoặc sản xuất kinh doanh quy mô gia đình. Phấn đấu mức tăng
trưởng mỗi nsưm là 30%.
 Về các sản hẩm, dịch vụ khác, VPBank ưu tiên phát triển các sản phẩm
ngân hàng điện tử, các sản phẩm thanh toán không dùng tiền mặt( thẻ TD, thẻ ghi
nợ nội địa của VPBank và đại lí thẻ tín dụng quốc tế cho VCB); các sản phẩm dịch
vụ ngân hàng tự động, các sản phẩm, dịch vụ bán lẻ khác…
 Về chính sách giá cả và cạnh tranh,VPBank lựa chọn chính sách “sản
phẩm tốt nhất/ giá cao nhất”. Mục tiêu lâu dài của VPBank là sẽ không cạnh tranh
thông qua giá cả mà sẽ cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm dịch vụ.

tác thẩm định trong hoạt động tín dụng, đặc biệt là tín dụng doanh nghiệp. Thông
tin đầy đủ là cơ sở cần thiết để cán bộ tín dụng có thể phân tích và đưa ra nhận
định chính xác về khách hàng, từ đó có những quyết định hợp lí trong việc đáp ứng
nhu cầu vay của khách hàng. Ngoài ra, nguồn thông tin đầy đủ cũng giúp ngân
hàng nắm bắt được diễn biến của thị trường trong nước và quốc tế, những biến
động kinh tế và những thay đổi trong chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của
nhà nước, từ đó ngân hàng đề ra các biện pháp kịp thời, nhằm điều chỉnh các hoạt
động tránh những rủi ro thiệt hại và ổn định để phát triển. Vì vậy ngân hàng cần
phải có những giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác thu thập, nhất là
các thông tin liên quan đến các doanh nghiệp.
 Để có những thông tin có chất lượng cao, ngoài những hồ sơ tài liệu
mà ngân hàng nhận được từ khách hàng vay vốn, ngân hàng cần phỏng vấn
trực tiếp một số người chủ chốt liên quan tới dự án và doanh nghiệp: Giám
đốc, kế toán trưởng, cán bộ lập dự án. Mục đích chính của cuộc phỏng vấn là
kiểm tra tư cách của những người đứng đầu doanh nghiệp, phác thảo về
năng lực trình độ của họ, ý tưởng, sự hiểu biết cũng như sự quan tâm của họ
đối với dự án. Không nên chỉ phỏng vấn người đi giao dịch với ngân hàng.
Kết hợp với phỏng vấn là đi quan sát thực tế tình hình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp để nắm rõ tình hình quá khứ và hiện tại. Tuy nhiên hiệu
quả của những công việc này phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm “nghệ
thuật” của mỗi cán bộ ngân hàng, nó yêu cầu năng lực tư duy và năng lực
quan sát đánh giá của mỗi người - điều mà tự mỗi cán bộ tín dụng phải tạo
cho mình trong thời gian làm việc chứ không có sách vở nào chỉ dẫn cụ thể.
 Khai thác triệt để nguồn thông tin từ trung tâm tín dụng CIC của
NHNN ,các cơ quan thông tin đại chúng và truyền thông và các nguồn thông
tin khác qua nhiều kênh (cấp chủ quản, các doanh nghiệp sản xuất kinh
doanh cùng ngành hàng, các thị trường, khách hàng chuyên tiêu thụ sản
phẩm…). Đây là nơi lưu giữ tất cả các thông tin cần thiết, cơ bản về doanh
nghiệp. Nó cho phép đánh giá sơ bộ khách hàng về các mặt như: lịch sử hình
thành phát triển, tình hình tài chính, tình hình công nợ, mức độ tín nhiệm tín

biệt, đối với các doanh nghiệp mới quan hệ hay có uy tín không cao, NH cần
kiểm toán các báo cáo này. Ngân hàng có thể thuê kiểm toán hoặc yêu cầu
doanh nghiệp có những xác nhận của kiểm toán vào những báo cáo quyết
toán trình ngân hàng.
 Các cán bộ tín dụng cần phải tham khảo các thông tin về chủ trương
chính sách của nhà nước, định hướng ưu tiên phát triển của địa phương nơi
dự án sản xuất hay kinh doanh, những quy định về vấn đề bảo vệ môi
trường, xử lí ô nhiễm… để đánh giá tính hợp lí, hợp pháp của dự án, đảm
bảo dự án không gặp phải những trắc trở về các vấn đề trên.
 Với những thông tin đã thu thập, xử lí, cần có hoạt động sắp xếp lưu
trữ hợp lí. Hợp tác chặt chẽ với trung tâm CIC, sẵn sàng cung cấp thông tin
cho họ để phục vụ các đơn vị khác. Từ mối quan hệ này, ngân hàng mới có
thể dễ dàng khai thác thông tin tại đây hoặc từ các ngân hàng khác. Xây
dựng quan hệ trao đổi thông tin với các ngân hàng trên địa bàn và trong hệ
thống
3.2.2. Hoàn thiện nội dung, quy trình của công tác thẩm định
Đánh giá khách hàng doanh nghiệp là vấn đề mà tất cả các NHTM luôn tìm
các biện pháp để hoàn thiện chứ không riêng đối với VPBank. Các phương pháp
kỹ thuật, chỉ tiêu, chỉ số định mức của công tác thẩm định thường xuyên thay đổi
theo sự phát triển của sản xuất kinh doanh, sự thay đổi của hệ thống quản lí tài
chính. Các ngân hàng nếu không có sự quan tâm đúng mức thì khó có thể cập nhật
những thay đổi này.
 Trong quá trình hoạt động, ngân hàng phải luôn bám sát các mục tiêu
phát triển kinh tế của đất nước, các ngành và địa phương: tốc độ tăng trưởng
chung, tốc độ tăng trưởng ngành, chính sách khuyến khích ngành nghề cụ
thể… để đưa ra các nhiệm vụ cụ thể nhằm định hướng mục tiêu cho công tác
thẩm định doanh nghiệp của ngân hàng phù hợp với từng thời kì.
 Hàng năm, VPBank cần tiến hành xây dựng hoàn thiện chương trình
hoạt động đối với công tác đánh giá doanh nghiệp của cả ngân hàng.
Chương trình hoạt động này sẽ bao gồm việc đánh giá những kết quả đạt

Ngân hàng có thể tham khảo chỉ số định mức của các ngân hàng khác, các tổ
chức tài chính trong và ngoài nước để phục vụ việc xây dựng hệ thống chỉ số
này. Trên cơ sở các chỉ số định mức này, ngân hàng phải yêu cầu các cán bộ
tín dụng phải tính toán các hệ số tài chính chứ không chỉ liệt kê một số chỉ
tiêu tuyệt đối để đánh giá đúng khả năng tài chính của doanh nghiệp.
 Cán bộ tín dụng cần phải dựa vào sự biến động lên xuống của
các hệ số, chỉ tiêu để tìm nguyên nhân và đánh giá từng khoản mục tài chính
của doanh nghiệp chứ không phải chỉ là việc tính toán các hệ số đơn thuần
như hiện nay. Việc phân tích nguyên nhân này có ý nghĩa to lớn trong việc
đánh giá doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp vì một lí do khách quan nào
đó mà có khoản mục tài chính chưa đạt tiêu chuẩn chung của ngân hàng thì
vẫn có thể xem xét cho vay. Nếu không phân tích cụ thể nguyên nhân thì có
thể ngân hàng sẽ bỏ lỡ cơ hội cho vay một doanh nghiệp có tình hình tài
chính tốt và sẽ cho doanh nghiệp có tài chính không thực sự tốt vay vốn, từ
đó sẽ làm giảm hiệu quả và làm tăng rủi ro tín dụng của ngân hàng.
 Phân tích điểm hoà vốn và phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ
là các bước đặc biệt cần thiết trong quá trình đánh giá doanh nghiệp. Ngân
hàng cần yêu cầu các cán bộ tín dụng thực hiện đầy đủ các bước này. Hiện
nay, việc phân tích chỉ được tiến hành đối với các doanh nghiệp có lập báo
cáo lưu chuyển tiền tệ mà thôi.
 Đánh giá năng lực kinh doanh: Rủi ro tín dụng mà ngân hàng
gặp phải có thể xuất phát từ năng lực kinh doanh, khả năng điều hành sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc đánh giá năng lực kinh doanh của
doanh nghiệp là khó khăn chung của các NHTM trong nền kinh tế thị
trường. Tuy nhiên không phải vì vậy mà ngân hàng được phép xem nhẹ và
bỏ qua việc đánh giá. Cán bộ tín dụng cần phải gặp gỡ từng người trong đội
ngũ cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp để xác định trình độ, khả năng nắm bắt cơ
hội, khả năng giao tiếp… của họ để đánh giá năng lực của đội ngũ cán bộ
lãnh đạo. Song việc đánh giá năng lực kinh doanh của đội ngũ cán bộ lãnh
đạo còn phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng cán bộ tín dụng. Bên cạnh đó,

thể coi giá trị tài sản thế chấp, cầm cố là cơ sở chủ yếu để quyết định cho
vay, mà chỉ nên coi chúng là một trong những biện pháp bảo đảm tiền vay,
phòng ngừa rủi ro. .
 Tăng cường kiểm tra sau giải ngân: Cần liên tục tiến hành kiểm tra sự
hoạt động của phương án, dự án, giám sát việc sử dụng vốn đầu tư, quá trình
sản xuất kinh doanh, tình hình sử dụng, bảo quản tài sản thế chấp. Có thể
định kì phân tích tình hình tài chính dự án để có những yêu cầu, giúp đỡ chủ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status