GVHD: TS. Vũ Minh Hùng HVTH: Phan Thị Mỹ Phú
Trang 1
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Chiến lược phát triển giáo dục của nước ta giai đoạn 2001-2010 đã định hướng cho
phát triển nguồn nhân lực Việt Nam với mục tiêu: “Tăng cường chất lượng và hiệu quả
đào tạo, tiếp tục mở rộng quy mô các cấp, bậc học và trình độ đào tạo, phù hợp với cơ
cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền của nhân lực”. Trong thời gian qua,
mặc dù đã đạt được những thành tựu to lớn trong thời kỳ đổi mới, nhưng nhìn chung,
giáo dục nước ta còn yếu về chất lượng, mất cân đối về cơ cấu, hiệu qủa giáo dục chưa
cao, giáo dục chưa gắn bó chặt chẽ với thực tiễn. Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo
đang là thách thức lớn nhất cho toàn ngành giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Trong Báo cáo về tình hình giáo dục – Kỳ họp Quốc hội tháng 10/2004 đã cho
thấy chất lượng của giáo dục nghề nghiệp còn thấp, đặc biệt về kỹ năng thực hành
và tác phong công nghiệp. Quy mô đào tạo TCCN và dạy nghề chưa đáp ứng được
nhu cầu của thị trường lao động, cơ cấu ngành nghề đào tạo còn mất cân đối, tỷ lệ
đội ngũ giáo viên trong giáo dục chuyên nghiệp đạt chuẩn còn thấp, giáo trình hiện
có chưa bảo đảm liên thông giữa các ngành đào tạo
Bình Dương là một trong những địa phương năng động trong kinh tế, thu hút
đầu tư nước ngoài. Tính đến tháng 10/2006, tỉnh đã có 1.285 dự án FDI với tổng số
vốn 6 tỷ 507 triệu USD. Năm 2007, tỉnh Bình Dương đặt mục tiêu thu hút trên 900
triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI), tăng hơn 2,5 lần so với năm 2006. Năm
2009, Bình Dương có 13 khu công nghiệp đang hoạt động, trong đó nhiều khu công
nghiệp đã cho thuê gần hết diện tích như Sóng Thần II, Đồng An, Tân Đông Hiệp
A, Việt Hương, Sóng Thần 1.Các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thu hút 938
dự án đầu tư, trong đó có 613 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn 3,483 triệu
USD và 225 dự án đầu tư trong nước có số vốn 2.656 tỉ đồng.
Trong doanh nghiệp, bộ phận kế toán đóng một vai trò hết sức quan trọng.
Thông tin kế toán là rất cần thiết cho nhà quản trị đề ra các chiến lược và quyết định
kinh doanh. Do đó nếu thông tin kế toán sai lệch sẽ dẫn đến các quyết định của nhà
quản trị không phù hợp, doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn. Do vậy,
Thực nghiệm sư phạm, xin ý kiến chuyên gia và đánh giá kết quả
GVHD: TS. Vũ Minh Hùng HVTH: Phan Thị Mỹ Phú
Trang 3
5. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi dạy học môn kế toán tài chính ngành kế
toán bậc TCCN ở tỉnh Bình Dương tại các trường: Trung cấp Công nghiệp Bình
Dương, Trung cấp Bách Khoa Bình Dương, trường Trung cấp Tài chính - Kế toán
Bình Dương.
Khi xem xét đến các nhân tố tác động đến chất lượng dạy học môn kế toán
tài chính, tập trung vào một số nhân tố chủ yếu trong phạm vi nghiên cứu về giáo
dục học và tác động của nhà trường. Đề tài không đi sâu nghiên cứu đến các nhân
tố vĩ mô quản lý giáo dục.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp nghiên cứu lý luận nhằm phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát
hóa các tri thức đã có trong các tài liệu về quan điểm giáo dục đào tạo của Đảng, Nhà
nước. Nghiên cứu các công trình khoa học về việc dạy học môn kế toán tài chính ngành
kế toán bậc TCCN trong nước và ngoài nước trong những điều kiện lịch sử, để đưa ra
các luận cứ về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu.
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Quan sát, tham quan
Quan sát các hoạt động dạy và học môn kế toán tài chính ngành kế toán bậc
TCCN tại một số trường đào tạo ngành kế toán bậc trung cấp.
6.2.2 Điều tra bằng phỏng vấn và phiếu hỏi
Trao đổi, phỏng vấn và phát phiếu hỏi ý kiến cho cán bộ quản lý giáo dục, cán
bộ của doanh nghiệp, giáo viên trực tiếp giảng dạy môn kế toán tài chính, lao động
làm việc ở doanh nghiệp và 300 học sinh trung cấp kế toán về mức độ phù hợp của
chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và các vấn đề liên quan đến chất
lượng dạy học môn kế toán tài chính.
6.2.3 Xử lý thống kê
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NÂNG CAO CHẤT
LƯỢNG DẠY HỌC MÔN KẾ TOÁN TÀI CHÍNH
NGÀNH KẾ TOÁN BẬC TCCN
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nâng cao chất lượng và đề tài nghiên cứu về chất lượng dạy học
ở bậc trung cấp chuyên nghiệp, giáo dục nghề nghiệp đã được thực hiện trong các năm
gần đây như:
Nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến công tác kiểm định chất lượng
với đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm chất lượng đào tạo đại
học và trung học chuyên nghiệp” của Trần Khánh Đức(1998) thông qua nghiên cứu
và thực nghiệm tại các cơ sở đào tạo, đã đề xuất việc ứng dụng các tiêu chí của
ILO/ADB trong đánh giá các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục vào thực tiễn ở
Việt Nam. Trong đó, có sự thay đổi về nội dung và các tiêu chí đánh giá.
Đề tài “Nghiên cứu đề xuất mô hình quản lý chất lượng đào tạo sau đại học ở
Việt Nam” của Phan Văn Kha (2000) - Đề tài B99-52-37, Hà Nội đã đề cập đến
những tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục và giáo dục sau đại học áp dụng vào
thực tiễn Việt Nam.
Tác phẩm “Giáo dục kỹ thuật – nghề nghiệp và phát triển nguồn nhân lực” của
Trần Khánh Đức (2002) đã đề cập đến một số vấn đề liên quan đến chất lượng và
đánh giá chất lượng TCCN và Đào tạo nghề.
Đề tài “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam giai đoạn 2001 -2010” của
Đỗ Minh Cương (2004) đã cho thấy rõ nét về thực trạng lao động kỹ thuật ở Việt
Nam và đề xuất một số giải pháp phát triển lao động ở Việt Nam đến năm 2010.
Tác phẩm “Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện
kinh tế thị trường,toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”- Đề tài KX 05-10 – Do
Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha đồng chủ biên (2006) đã đề cập đến thực
GVHD: TS. Vũ Minh Hùng HVTH: Phan Thị Mỹ Phú
Trang 6
trạng nguồn lao động kỹ thuật ở các trình độ khác nhau, phân tích các mặt mạnh,
Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh
hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo một cách có hệ thống để chuẩn bị
cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động
nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền
văn minh của loài người.
Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường, gắn với giáo
dục đạo đức, nhân cách. Kết quả và trình độ được đào tạo (trình độ học vấn) của
một người còn do việc tự đào tạo của người đó thể hiện ra ở việc tự học và tham gia
các hoạt động xã hội, lao động sản xuất, tự rút kinh nghiệm của người đó quyết
định. Chỉ khi nào quá trình đào tạo được biến thành quá trình tự đào tạo một cách
tích cực, tự giác thì việc đào tạo mới có hiệu quả cao. Tuỳ theo tính chất chuẩn bị
cho cuộc sống và cho lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo
nghề nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ cho nhau với những nội dung do các đòi
hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kĩ thuật và văn
hoá của đất nước.
1.2.3 Quá trình dạy học
Các nhà sư phạm hiện đại định nghĩa Quá trình dạy học là sự phối hợp
thống nhất các hoạt động của thầy với hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực của trò
nhằm làm cho trò đạt được mục đích dạy học. Như vậy QTDH bao gồm DẠY và
HỌC cùng tồn tại và phát triển song song.
Dạy là quá trình truyền đạt và điều khiển sự học của học viên; có nghĩa là
điều khiển tối ưu hóa hoạt động lĩnh hội tự giác, tích cực và sáng tạo của học viên
trong việc nhận thức đúng các khái niệm khoa học cũng như hình thành nhân cách
phát triển toàn diện của học viên.
Học là quá trình lĩnh hội và tự điều khiển tối ưu sự chiếm lĩnh các khái niệm
khoa học, hình thành cấu trúc tâm lý mới, tái tạo các khái niệm, nắm vững bản chất
của khái niệm để từ đó sáng tạo ra những ý tưởng sâu sắc và phong phú.
GVHD: TS. Vũ Minh Hùng HVTH: Phan Thị Mỹ Phú
Trang 8
Dạy học là hình thức đặc biệt của giáo dục nghĩa rộng
thực sự là chủ thể nhận thức thì HS mới tiếp thu một cách có ý thức và có hiệu quả
sự tác động sư phạm. Vai trò chủ thể nhận thức đòi hỏi học sinh phải tự giác, tích
cực, độc lập trong hoạt động học tập của mình.
1.2.4 Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học bao gồm: phương pháp dạy và phương pháp học,
chúng là hai hoạt động khác nhau về đối tượng nhưng lại thống nhất với nhau về
mục đích; chúng tác động qua lại với nhau và là hai mặt của QTDH. Trong sự thống
nhất này, PPDH giữ vai trò chỉ đạo, còn phương pháp học có tính độc lập tương đối,
nhưng lại chịu sự chỉ đạo và chi phối của phương pháp dạy và nó có ảnh hưởng
ngược lại đối với phương pháp dạy.
1.2.5 Giáo dục Trung cấp chuyên nghiệp
Luật Giáo dục ban hành năm 2005 đã xác định Giáo dục nghề nghiệp
(GDNN) bao gồm trung học chuyên nghiệp và dạy nghề thực hành. Mục tiêu của
GDNN là đào tạo người lao động có kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp ở các trình độ
khác nhau, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỉ luật, tác phong công
nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc
làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh.
Giáo dục TCCN được thực hiện từ ba đến bốn năm học đối với người có
bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, từ một đến hai năm học đối với người có bằng tốt
nghiệp trung học phổ thông. Giáo dục TCCN nhằm đào tạo kĩ thuật viên, nhân viên
nghiệp vụ có kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp ở trình độ trung cấp.
1.2.6 Chất lượng:
Hiện nay, chất lượng là mối quan tâm hàng đầu của mọi tổ chức mà không
chỉ riêng nhà giáo dục và đào tạo. Chất lượng là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát
triển của một tổ chức. Chất lượng là một vấn đề rất trừu tượng, không ai nhìn thấy
được và cảm nhận được nó một cách trực tiếp bằng các giác quan của mình, không
thể đo lường bằng những công cụ đo thông thường.
GVHD: TS. Vũ Minh Hùng HVTH: Phan Thị Mỹ Phú
Trang 10
Tuy nhiên, trên thực tế ai cũng công nhận vai trò quan trọng của chất lượng,
không gian và điều kiện sử dụng.
Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể
(đối tượng) đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn
(TCVN ISO 8402).
Theo các quan điểm quản lý chất lượng tổng thể ( Total Quality Management-
TQM) và tiêu chuẩn chất lượng ISO-9000, phiên bản năm 2000 thì chất lượng là sự
thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Chất lượng được đảm bảo và đánh giá theo một
quá trình, từ đầu vào - đến quá trình - đầu ra.
Những quan niệm về chất lượng nêu trên được áp dụng cho những ngành sản
xuất và dịch vụ, xuất phát từ 4 cách tiếp cận khác nhau:
Cách thứ nhất: Chất lượng của sản phẩm/ dịch vụ hay quá trình được xem xét
như là thuộc tính, bản chất, tính chất và đặc trưng của chúng.
Cách thứ hai: Chất lượng được xem xét trên cơ sở mối quan hệ (sự phù hợp)
giữa đặc tính, tiềm năng của sản phẩm/ dịch vụ hay quá trình với nhu cầu của
thị trường, của khách hàng.
Cách thứ ba: Quan niệm cho rằng chất lượng được đánh giá qua mức độ
trùng khớp với mục tiêu định sẵn chỉ phù hợp trong điều kiện mục tiêu được
thiết kế chuẩn xác ,đáp ứng được nhu cầu của xã hội.
Cách thứ tư: Đánh giá chất lượng thông qua việc đánh giá chất lượng các
điều kiện đảm bảo chất lượng.
1.2.7 Chất lượng đào tạo:
Nhiều học giả đã cố gắng lý giải chất lượng đào tạo thông qua các điều kiện
bảo đảm chất lượng. Trên thực tế những năm gần đây, các đề tài nghiên cứu khoa
học, các đề án, đều sử dụng quan niệm này để đánh giá chất lượng quá trình đào
tạo
Theo GS.TSKH. Nguyễn Minh Đường, với quan điểm thị trường, chất lượng
đào tạo có thể được hiểu theo quan niệm tương đối với khái niệm như sau: “Chất
GVHD: TS. Vũ Minh Hùng HVTH: Phan Thị Mỹ Phú
Trang 12
lượng đào tạo là mức độ đạt được so với mục tiêu đào tạo được đề ra nhằm thỏa
Đầu vào Đầu ra
(Sản phẩm)
Khách
hàng
(Các yêu
c
ầu)
Khách hàng(Sự thỏa
mãn)
GVHD: TS. Vũ Minh Hùng HVTH: Phan Thị Mỹ Phú
Trang 13
1.3 Đặc điểm của quá trình dạy học ở bậc TCCN
1.3.1 Quá trình dạy và học ở bậc TCCN mang tính đặc thù
QTDH là một quá trình tổng hợp; chủ yếu là sự tương tác một cách giải chứng
và hệ thống giữa quá trình dạy và quá trình học, trong đó quá trình dạy giữ vai trò
chủ đạo, chi phối quá trình học, còn quá trình học là quá trình tương tác một cách
tích cực, tự lực và tự giác nhằm hoàn thành nhiệm vụ dạy học và đạt mục đích của
dạy học.
QTDH trong GDNN là một quá trình sư phạm mang tính đặc thù, nó tồn tại
với tư cách là một hệ thống bao gồm các nhân tố cơ bản như mục đích, nhiệm vụ
dạy học, chương trình, nội dung, phương pháp, phương tiện, kết quả dạy học v.v
Mối quan hệ giữa dạy và học được thể hiện với hai thành tố trung tâm của
QTDH là hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. QTDH trong GDNN với
những điều kiện sư phạm nhất định. Trong nhận thức của HS còn chứa đựng các
khâu củng cố, kiểm tra, đánh giá kết quả nhận biết tri thức, kỹ năng, kỹ xảo nghề
phong, kỷ luật, kỹ thuật và năng suất lao động. Ðặc điểm này nhấn mạnh đến tác
động giáo dục mang tính đặc thù trong GDNN. Việc dạy học trong GDNN không
chỉ thể hiện mối quan hệ giữa mục đích, nội dung, phương pháp mà còn có tác
động đến người học về mặt tinh thần, thái độ và tính trách nhiệm với lao động nghề
nghiệp.
PPDH ở Bậc TCCN luôn gắn liền với các trang thiết bị và phương tiện dạy
học hiện đại. Nếu không có trang thiết bị và phương tiện thì phương pháp cũng
không thể tiến hành được. Ðặc điểm này đòi hỏi người giáo viên phải quan tâm đến
trang thiết bị thực hành, thực tập một cách đồng bộ và sử dụng các phương tiện dạy
học nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Ở Bậc học TCCN giải pháp quan trọng nhất để HS nắm vững tay nghề là HS
phải trực tiếp luyện tập thực hành tại xưởng. Kỹ năng, kỹ xảo chỉ được hình thành
GVHD: TS. Vũ Minh Hùng HVTH: Phan Thị Mỹ Phú
Trang 15
sau nhiều lần luyện tập. PPDH trong luyện tập thực hành nhằm thực hiện nhiệm vụ
rèn luyện tay nghề nhằm tạo ra thói quen nghề nghiệp tốt cho HS. Do đó, GV phải
biết phối hợp nhiều phương pháp và khi chọn PPDH cần chú ý đến tâm lý lứa tuổi,
điều kiện của từng học sinh ở Bậc học TCCN
1.4 Tính thống nhất giữa lý thuyết và thực hành ở bậc học TCCN
Ðặc trưng của QTDH trong ở Bậc TCCN là sự thống nhất hữu cơ giữa quá
trình dạy lý thuyết và thực hành. Ðây là sự tác động qua lại đa dạng của hoạt động
dạy và hoạt động học nhằm tối ưu hóa QTDH.
Lý thuyết là sự phản ánh từ những thực tiễn kỹ thuật được khái quát, hệ thống
các khái niệm trong lĩnh vực chuyên môn nhất định. Hệ thống các khái niệm trong
lĩnh vực kỹ thuật được liên kết với nhau theo những quy luật nhất định và nó phản
ánh logic của các mối quan hệ thông qua các biểu tượng của những khái niệm đã
được trừu tượng hóa bằng các ký hiệu, quy ước, sơ đồ biểu diễn v.v
Quá trình lĩnh hội các quy luật, các nguyên lý môn lý thuyết trong GDNN
cũng góp phần hình thành và phát triển các năng lực nhận thức kỹ thuật, tư duy kỹ
thuật. Do vậy đặc điểm cơ bản của QTDH ở Bậc TCCN là quá trình hình thành và
vận dụng vào công tác kế toán như: Lập, kiểm tra, phân loại, xử lý chứng từ kế
toán, ghi sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết, lập báo cáo tài chính và báo cáo
thuế của doanh nghiệp, lập kế hoạch tài chính cũng như kiểm tra công tác kế toán
tài chính của doanh nghiệp….
1.6 Vai trò của kế toán trong doanh nghiệp
Trong mỗi công ty, phần tài chính vận động trong nội tại, với chính phủ, với
các doanh nghiệp với nhau. Tài chính doanh nghiệp biểu hiện sự vận động dich
chuyển các luồn giá trị phục vụ trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình
phân phối các nguồn tài chính gắn liền với viêc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ
của doanh nghiệp để phục vụ cho yêu cầu sản xuất của doanh nghiệp. Trong đó, bộ
máy kế toán sẽ điều hành toàn bộ hoạt động tài chính doanh nghiệp.
GVHD: TS. Vũ Minh Hùng HVTH: Phan Thị Mỹ Phú
Trang 17
Vai trò của tài chính doanh nghiệp và bộ máy kế toán trong mỗi công ty là
rất quan trọng, nó tồn tại và tuân theo quy luật khách quan, tài chính doanh nghiệp
và bộ máy kế toán còn bị chi phối bởi các mục tiêu và phương hướng kinh doanh
của doanh nghiệp.
Theo các chuyên gia tài chính của Oracle, tập đoàn viễn thông lớn của châu Âu thì
bộ máy kế toán của Oracle nói riêng và của các công ty khác nói chung sẽ có tác
dụng huy động khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinh doanh, tổ
chức sử dụng vốn có hiệu quả nhất của doanh nghiệp.
Bộ máy kế toán sẽ xác định đúng nhu cầu cần huy động vốn, lựa chọn nguồn
tài trợ, lựa chọn phương tức đòn bẩy kinh doanh để huy động vốn, để nguồn vốn
bảo toàn và phát triển, nâng cao thu nhập của công ty.
Vai trò kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh là vai trò quan trọng nhất
của tài chính doanh nghiệp và bộ máy kế toán vì nó thực hiện được mục tiêu công
cụ quản lý kinh doanh.
Giúp cho doanh nghiệp theo dõi thường xuyên tình hình hoạt động sản
thành, kế toán lổng hợp, kế toán quản trị để thực hiện các công việc :
Kiểm tra, phân loại, xử lý các chứng từ kế toán như: chứng từ thu, chi,
chứng từ nhập, xuất hàng hoá,…
Lập các báo cáo kế toán như: bảng cân đối kế toán, bảng kết quả kinh
doanh… theo đúng quy định hiện hành;
Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh
nghiệp;
Làm các nghiệp vụ: điều tra nghiên cứu thị trường, quảng cáo, mua bán
vật tư hàng hoá
Tham mưu cho lãnh đạo doanh nghiệp những ý kiến cải tiến để công tác
kế toán và công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp đúng pháp luật.
GVHD: TS. Vũ Minh Hùng HVTH: Phan Thị Mỹ Phú
Trang 19
1.7 Nội dung và vị trí môn kế toán tài chính trong chương trình đào tạo ngành
kế toán bậc TCCN
1.7.1 Vị trí, tính chất của môn học
- Vị trí:
Môn kế toán tài chính là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống quản lý
kinh tế tài chính, được học sau các môn tài chính doanh nghiệp, thuế; là cơ sở để
học môn kế toán quản trị và thực hành kế toán.
- Tính chất:
+ Môn học kế toán tài chính cung cấp những kiến thức về nghiệp vụ kế toán, là môn
chuyên môn chính của nghề kế toán doanh nghiệp
+ Thông qua kiến thức chuyên môn về kế toán tài chính, người học thực hiện được
các nội dung về nghiệp vụ kế toán. Môn học kế toán tài chính có vai trò tích cực
trong việc quản lý điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế.
- Kiến thức:
+ Vận dụng được các kiến thức đã học về kế toán tài chính trong việc thực hiện
nghiệp vụ kế toán được giao
+ Thực hiện được các nội dung về nghiệp vụ kế toán doanh nghiệp
Kế toán đầu tư liên doanh dài hạn
Kế toán đầu tư dài hạn khác
Kế toán dự phòng giảm giá đầu tư tài chính ngắn và dài hạn
Chương 3:Kế toán các khoản phải thu và các khoản ứng trước
Kế toán các khoản phải thu
Khái niệm và nguyên tắc kế toán
Kế toán phải thu của khách hàng
Kế toán thuế GTGT được khấu trừ
GVHD: TS. Vũ Minh Hùng HVTH: Phan Thị Mỹ Phú
Trang 21
Kế toán phải thu nội bộ
Kế toán các khoản phải thu khác
Kế toán dự phòng phải thu khó đòi
Kế toán các khoản ứng trước
Kế toán tạm ứng
Kế toán các khoản cầm cố, ký quỹ, ký cược Kế toán chi phí trả trước
Chương 4: Kế toán vật liệu và công cụ, dụng cụ
Khái niệm, nhiệm vụ của kế toán vật liệu, công cụ dụng cụ
Phân loại, nguyên tắc và phương pháp tính giá vật liệu, công cụ dụng cụ
Kế toán chi tiết nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp kê khai
thường xuyên
Phương pháp hạch toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ theo phương pháp
kiểm kê định kỳ
Kế toán kiểm kê đánh giá lại nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ
Kế toán dự phòng giảm giá hàng tồn kho
Chương 5:Kế toán Tài sản cố định, Bất động sản đầu tư và đầu tư dài hạn
Khái quát về TSCĐ
hoạt động
Kế toán thành phẩm
Kế toán tiêu thụ thành phẩm
Kế toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Kế toán kết quả hoạt động
Chương 9:Kế toán các khoản phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu
Kế toán nguồn vốn chủ sở hữu
Kế toán các khoản phải trả
người bán
Kế toán chi phí phải trả
Kế toán phải trả nội bộ
Kế toán các khoản phải trả khác
Kế toán quỹ dự phòng trợ cấp mất việc làm
Kế toán các khoản dự phòng phải trả
GVHD: TS. Vũ Minh Hùng HVTH: Phan Thị Mỹ Phú
Trang 23
Chương 10: Kế toán thương mại
- Kế toán thương mại
- Kế toán quá trình mua hàng hóa
- Kế toán chi phí mua hàng hóa
- Kế toán quá trình bán hàng
Chương 11: Kế toán thuế
- Tổng quan về kế toán thuế
1.8.2. Chất lượng sản phẩm của Bậc học TCCN trong thị trường lao động
Trong các Hội thảo về lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp, các chuyên gia trong nước,
ngoài nước hay nói đến khái niệm "khách hàng" của nhà trường, có thể phân loại
khách hàng như sau:
- Người học và cha mẹ học sinh - khách hàng bên ngoài đầu tiên
-Các chủ doanh nghiệp - khách hàng bên ngoài thứ hai
Doanh nghiệp mua (nhận) hàng hoá sức lao động của nhà trường để tăng cường
năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong trường hợp này sản phẩm
Đầu vào
Các hoạt
động
Đầu ra
Thành
quả
- Học
sinh
- Giáo
viên
- Cơ sở
vật chất
- Tài
chính
- Đào tạo
- Nghiên
cứu
- Dịch vụ
- Nhận
thức của
học sinh
Ở Bậc TCCN sản phẩm có tốt đến đâu (hiệu năng/ tiềm năng của sản phẩm)
nhưng giá q cao hoặc được cung cấp vào những thời điểm khơng phù hợp thì
khơng thể coi sản phẩm đó có chất lượng. Như vậy, muốn nâng cao chất lượng
sản phẩm của Bậc TCCN không chỉ đáp ứng nhu cầu của DN về mặt số
lượng mà còn đúng thời điểm và trong sự phù hợp nhất đònh. Các chỉ
tiêu cơ bản phản ánh sự phù hợp theo nhu cầu doanh nghiệp: Tỷ lệ HS tốt nghiệp có
Sự phù hợp
(Conformity)
Hiệu năngtiềm năng
Performance
(Performance)
Thời điểm cung cấp
Punctuality
(Punctuality)
Giá nhu cầu
Price
3 P
Hình 1.3: Ngun tắc 3P