1
NGÀNH : GIÁO DỤC HỌC - 601401
Hướng dẫn khoa học :
TS. ĐẶNG THỊ PHƯƠNG PHI
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2011 2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1. Hiện nay, trong giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước và hội nhập
quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết
định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai
trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới,
đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH. Để có nguồn lực tham gia vào hoạt động
chung của XH thì công tác HN là một trong những hoạt động có vai trò quan trọng
chiến lược. HN nhằm góp phần phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn nhân
lực, vốn quý của đất nước để phục vụ cho sự phát triển KT - XH, do vậy HN đã có
không có những hiểu biết tối thiểu về thế giới NN nói chung, không biết rõ muốn
tìm một nghề nào đó thì cần phải tìm hiểu những yếu tố nào của nghề. Do đó rất
khó khăn để chọn trường, chọn ngành để thi. Những HS cũng biết rằng kỳ thi đại
học ít có khả năng đỗ song vẫn đi thi theo phong trào, theo chúng bạn hoặc vì sĩ
diện của bản thân và gia đình. Thể hiện rõ ở việc làm hồ sơ đăng ký dự thi ĐH, CĐ
năm 2010, tỷ lệ số hồ sơ trên HS là 1,83 trên toàn huyện, như vậy trung bình mỗi
HS chọn gần hai trường tương đương hai ngành để thi. Mặt khác, mong muốn của
gia đình, cha mẹ HS cũng ảnh hưởng và chi phối việc lựa chọn nghề của các em. Đa
số cha mẹ HS quan niệm rằng : vào ĐH là con đường duy nhất để thoát nghèo, dễ
có vị thế cao trong XH, mang lại vinh dự cho gia đình.
Từ những lý do nêu trên, người nghiên cứu chọn đề tài : “Nghiên cứu đề
xuất giải pháp hướng nghiệp cho học sinh THPT tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm
Đồng”.
2. Mục đích nghiên cứu :
Nghiên cứu đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm HN cho HS THPT trên
địa bàn huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
4
+ Những tài liệu, chính sách của Bộ GD - ĐT, Sở GD - ĐT Lâm Đồng về
hoạt động HN.
+ HS các trường THPT ở huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
+ PHHS các trường THPT ở huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
+ CB, GV các trường THPT ở huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động hướng nghiệp cho HS trung học phổ thông tại huyện Bảo Lâm.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu và giới hạn đề tài
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận của hoạt động HN cho HSPT.
2. Đánh giá thực trạng hoạt động HN cho HS THPT tại huyện Bảo Lâm.
Đề xuất giải pháp khả thi góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN, đáp
ứng nhu cầu về định hướng nghề nghiệp của HS THPT trên địa bàn, định hướng
phân luồng HS theo yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị ; Danh mục tài liệu tham
khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương sau đây :
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về hướng nghiệp
1.1.1. Lược sử nghiên cứu về hướng nghiệp ở ngoài nước
1.1.2. Lược sử nghiên cứu về hướng nghiệp ở trong nước
1. 2. Các văn bản chỉ đạo hoạt động hướng nghiệp
1.2.1. Các văn bản của trung ương
1.2.2. Các văn bản của Bộ GD - ĐT về GDHN
1.2.3. Các văn bản của địa phương
1.3. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp
1.3.1. Khái niệm hướng nghiệp
1.3.2. Ý nghĩa của hướng nghiệp
1.3.3. Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp
6
1.3.4. Nội dung của giáo dục hướng nghiệp cấp THPT
1.3.5. Cơ sở khoa học của hướng nghiệp
1.3.5.1. Cơ sở tâm lý học
1.3.5.2. Cơ sở điều khiển học
1.3.5.3. Cơ sở giáo dục học
1.4. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh phổ thông (từ 16 – 18 tuổi) :
1.3.1. Về thể chất
1.3.2. Về tâm lý
CHƯƠNG 2 : HOẠT ĐỘNG HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH THPT TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BẢO LÂM , TỈNH LÂM ĐỒNG
2.1. Khái quát địa bàn nghiên cứu
trình bày và minh họa như những nền tảng của giáo dục”. Theo tác giả, vấn đề HN,
học nghề của HSPT là trụ cột thứ hai. Tác giả đã nhấn mạnh việc HS có cơ hội phát
triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động NN song song với việc
học văn hóa.
Ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, công tác HN rất được coi trọng và
đươc khởi sự ngay từ những năm đầu của cấp trung học :
Cấp trung học cơ sở :
Dự nghiệp: Giới thiệu tổng quan các ngành nghề thông dụng để giúp các HS
phát hiện sơ bộ xu hướng NN của mình.
Hướng nghiệp: Cho các HS được học thử các nghề được phát hiện ở giai
đoạn dự nghiệp để củng cố hoặc điều chỉnh xu hướng NN chính xác hơn.
Cấp trung học phổ thông :
Huấn nghiệp : Theo kết quả ở giai đoạn HN, nhà trường sẽ chính thức đào
tạo nghề theo đúng xu hướng NN của HS, để giúp các em HS đủ sức vào đời ngay
sau khi tốt nghiệp trung học hoặc tạo đà thuận lợi cho việc học tiếp lên.
* Ở nước Anh :
HS của chương trình giai đoạn từ 11-14 tuổi và giai đoạn từ 14-16 tuổi có thể
lựa chọn NN của mình theo bảng danh mục và khi hoàn thành chương trình HN này
HS sẽ nhận được một chứng chỉ để làm cơ sở cho việc nhận được bằng quốc gia.
Mục đích của giáo dục phổ thông là nhằm trang bị cho HS vốn kiến thức tiếp thu
chương trình đào tạo HN và giáo dục đại học ở những giai đoạn sau. Tất cả HS từ
8
16 tuổi đều phải có 2 tuần thử việc ở các công ty địa phương như là một phần của
chương trình đào tạo HN chung . [1; tr.287]
* Cộng hòa Liên bang Đức:
Đa số các thanh niên sau khi tốt nghiệp cấp phổ cập giáo dục đều theo học từ
2 đến 3,5 năm ở hai nơi là trong xí ngiệp và trường dạy nghề (được gọi là hệ thống
kép : Duales System). Cơ sở của việc đào tạo trong hệ thống kép này là “các nghề
đào tạo được công nhận” (Die anerkannten Ausbidungsberrufe), lớp trẻ dưới 18 tuổi
chỉ được phép đào tạo trong những nghề đó mà thôi.[1; tr.346]
- Phạm Đức Khiêm, Nghiên cứu về định hướng NN học sinh THPT nhằm phân
luồng học sinh vào các trường THCN tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005.
- Phạm Hồng Thắng, Khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp hoạt động
hướng nghiệp học sinh THPT tại tỉnh Gia Lai, năm 2008.
- Phan Thị Kim Hồng, Nghiên cứu đề xuất các giải pháp hướng ngiệp cho đối
tượng thanh thiếu niên tỉnh Ninh Thuận, năm 2010.
Bên cạnh các luận văn thạc sỹ trên, về lĩnh vực hoạt động HN cũng được
nghiều nhà khoa học nghiên cứu như :
- Phan Thị Tố Oanh, Nghiên cứu nhận thức và dự định chọn nghề của học sinh
THPT, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 1996 (Luận án Phó tiến sĩ Khoa học
sư phạm tâm lý.
- Nguyễn Toàn và cộng tác viên, Nghiên cứu một số giải pháp khả thi trong
việc ứng dụng triển khai công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông cấp 2 -3 ở
Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Khoa học Công nghệ - Môi trường và Sở Giáo dục đào
tạo Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1998.
- Lý Ngọc Sáng, Đề xuất giải pháp tăng cường công tác tư vấn giáo dục
truyền thông về hướng nghiệp, triển khai ứng dụng và hoàn thiện một số trắc
nghiệm nghề cho học sinh phổ thông theo yêu cầu thị trường lao động Thành phố
Hồ Chí Minh, năm 2003.
10
- Võ Hưng, Tổ chức đưa kết quả nghiên cứu đề xuất xây dựng bộ công cụ trắc
nghiệm vào phục vụ công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông ở Thành
phố Hồ Chí Minh, Sở Khoa học CN-MT Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005.
- Hồ Thiệu Tùng, Lê Thị Thanh Mai, Xây dựng website định hướng chọn
ngành, trường đại học, cao đẳng dự thi phù hợp với sở thích và năng lực,năm 2007.
Các đề tài nghiên cứu trên đã đưa ra một số giải pháp về định hướng NN cho
HSPT tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Nhưng tại các tỉnh miền
núi, cao nguyên, với những điều kiện riêng thì công tác HN cho HS chưa được đề
cập nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học.
Ngoài các đề tài nghiên cứu khoa học, các Hội thảo chuyên đề mang tính
giáo dục quốc dân ; chú trọng phân luồng đào tạo sau THCS ; đảm bảo liên thông
giữa các cấp đào tạo …” . [18; tr.207]
* Các Văn bản của Chính phủ đề cập đến giáo dục HN và phân luồng HS :
- Nghị quyết số 109/CP giao cho ngành dạy nghề giúp trường phổ thông
trong công tác hướng nghiệp.
- Quyết định số 126/CP ngày 19/3/1981 về công tác hướng nghiệp trong nhà
trường phổ thông và sử dụng hợp lý HS tốt nghiệp ra trường.
- Điều 27 của Luật giáo dục năm 2005 - Khoản 3, Điều 4 có ghi : “Giáo dục
tiểu học ; Có học vấn phổ thông ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ
thuật hướng nghiệp để tiếp tục học THPT,THCS nhằm gúp học sinh củng cố phát
triển những kết quả của trung học cơ sở hoàn thiện học vấn THPT và có những
hiểu biết thông thường về kỹ thuật hướng nghiệp và điều kiện phát huy khả năng
năng lực cá nhân lựa chọn hướng phát triển tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung
cấp học nghề đi vào cuộc sống lao động…”.
- Điều 3 - Nghị định 75/2006 NĐ- CP về hướng dẫn thi hành Luật giáo dục
năm 2005 có ghi :
+ HN trong GD là hệ thống các biện pháp ngoài nhà trường để giúp HS có
kiến thức về NN và có khả năng lựa chọn NN trên cơ sở kết hợp nguyện vọng sở
trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động trong XH
12
+ Phân luồng trong GD là biện pháp tổ chức các hoạt động GD trên cơ sở
thực hiện HN trong GD, tạo điều kiện để HS tốt nghiệp THCS, THPT tiếp tục học ở
cấp cao hơn, học trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, phù hợp
điều kiện cụ thể của cá nhân và nhu cầu của XH, góp phần điều tiết cơ cấu ngành
nghề của lực lượng lao động phù hợp nhu cầu phát triển của đất nước.
1.2.2. Các văn bản của Bộ giáo dục - Đào tạo về GDHN
- Chỉ thị số 33/2003/CT-BGD-ĐT ngày 23/7/2003/ của Bộ trưởng bộ GD -
ĐT về việc tăng cường giáo dục HN cho HSPT. Chỉ thị nêu rõ “Giáo dục hướng
nghiệp là một bộ phận của nội dung giáo dục triển khai thực hiện sinh hoạt hướng
nghiệp ở các trường THCS, THPT và Trung tâm KTTH - HN theo tài liệu hướng
Theo từ điển Tiếng Việt : “Hướng nghiệp là thi hành những biện pháp nhằm
đảm bảo sự phân bố tối ưu (có chú ý tới năng khiếu, năng lực, thể lực) nội dung
theo ngành và loại lao động giúp đỡ hợp lý lựa chọn ngành nghề”.[13; tr.458]
Theo Từ điển Giáo dục học định nghĩa : “Hướng nghiệp là hệ thống các biện
pháp giúp đỡ học sinh làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn, cân nhắc nghề nghiệp với
nguyện vọng năng lực sở trường của mỗi người với nhu cầu và điều kiện thực tế
khách quan của xã hội” [12,tr.209]. Công tác HN có ý nghĩa kinh tế xã hội rất lớn
giúp cho thanh niên có cơ hội phát huy được năng lực, nâng cao được hiệu quả lao
động, say mê sáng tạo trong NN, mặt khác giúp tránh thay đổi NN nhiều lần, hạn
chế các hậu quả xấu do NN không phù hợp mang lại.
Trên quan điểm tiếp cận hướng nghiệp dưới góc độ XH học, tác giả Phạm
Tất Dong khái niệm HN như là một hệ thống tác động của XH về giáo dục, về y
học, kinh tế học nhằm giúp cho thế hệ trẻ chọn được nghề phù hợp với hứng thú,
năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực của
các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân. [14]
Về khía cạnh tác động của HN đối với sự phát triển KT - XH, HN được hiểu
là khái niệm chung của một trong những vực văn hóa - xã hội, thực hiện dưới hình
thức quan tâm của XH và đào tạo nghề cho thế hệ đang lớn lên, hỗ trợ và phát triển
những thiên hướng và thực hiện đồng bộ các biện pháp chuyên môn tác động đến
14
con người trong việc tự xác định NN và lựa chọn hình thức tối ưu để có việc làm, có
tính đến nhu cầu và năng lực của con người, kết hợp với hoàn cảnh KT - XH trong
thị trường lao động .[15]
Từ những quan niệm trên, HN là tổng thể những tác động giúp con người
định hướng đến một nghề hay một số nghề nhất định, đảm bảo được sự phù hợp
giữa khả năng, yêu cầu của cá nhân với yêu cầu của XH. Trẻ em cần được HN liên
tục, thường xuyên bằng nhiều hình thức, nhiều con đường Chúng ta cần quan tâm
để thế hệ trẻ chọn nghề theo hứng thú, sở thích và mong muốn. HS ngày càng nhận
thức sâu sắc nghĩa vụ lao động, nhu cầu nhân lực mà XH đặt ra. Do đó HN phải
được cả XH quan tâm, không nên để cho trẻ chọn nghề một cách tự phát, ngẫu
1.3.3.2. Nhiệm vụ của HN
Nhiệm vụ của HN trong Quyết định 126/ CP 19/3/1981 về công tác hướng
nghiệp trong nhà trường phổ thông và sử dụng hợp lý HS tốt nghiệp ra trường đã
chỉ rõ : Công tác hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông nhằm mục đích bồi
dưỡng, hướng dẫn việc chọn nghề của học sinh cho phù hợp với yêu cầu phát triển
của xã hội đồng thời phù hợp với năng khiếu cá nhân.
Công tác hướng nghiệp ở các trường gồm các nhiệm vụ sau đây :
- Giáo dục thái độ lao động đúng đắn
- Tổ chức cho học sinh thực tập làm quen với một số nghề
- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến
khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất
- Động viên hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần lao động
trẻ tuổi có văn hóa.
Cụ thể hóa nhiệm vụ của HN như sau :
* Đối với trường PT : HN cho HSPT là bước khởi đầu quan trọng của quá
trình phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
Nhiệm vụ đầu tiên là qua HN, giúp các em được làm quen với những nghề
cơ bản trong XH, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những
16
nghề cần thiết phải phát triển ở ngay địa phương mình. Nhiệm vụ này được thể hiện
trong suốt những năm còn ngồi trên ghế nhà trường. Qua đó giúp các em có điều
kiện tìm hiểu nghề trong XH đặc biệt là nghề của địa phương. Từ sự làm quen này,
sẽ giúp cho các em trả lời câu hỏi : Trong giai đoạn hiện nay, những nghề nào đang
cần phát triển nhất, thái độ đối với nghề như thế nào là đúng, v.v Đồng thời, HS
còn biết được những yêu cầu tâm sinh lý mà nghề đặt ra, những điều kiện vào học
nghề v.v… Tóm lại, nhiệm vụ thứ nhất là hình thành ở HS những biểu tượng đúng
đắn về những nghề cần phát triển.
Nhiệm vụ thứ hai là hướng dẫn phát triển hứng thú NN, trong quá trình tìm
hiểu nghề, ở HS sẽ xuất hiện và phát triển hứng thú NN. Người làm HN sẽ hướng
dẫn sự phát triển hứng thú của các em trên cơ sở phân tích những đặc điểm, điều
* Đối với XH, các tầng lớp dân cư :
Do tình hình các nghề và việc làm hiện nay thường xuyên thay đổi cho nên
hoạt động HN không còn giới hạn ở trường PT mà cần thiết mở rộng cho các tầng
lớp dân cư khác nhau.
Nhiệm vụ XH cơ bản của HN là : Tìm một nghề phù hợp nhất với những khả
năng của cá nhân và thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực NN ở cấp độ
quốc gia. Cá nhân cần được thông tin đầy đủ về yêu cầu, sự thỏa mãn và khó khăn
của mỗi một nghề mình đang quan tâm.
Về các nhiệm vụ của HN, K.K. Platonov đã đưa ra “Tam giác hướng
nghiệp” như sau :
Định hướng
nghề
Các nghề và đặc điểm
yêu cầu của chúng
Thị trường
lao động
Tư vấn nghề Phẩm chất, năng lực, Tuyển chọn nghề
hoàn cảnh cá nhân Sơ đồ 1.1 : Tam giác hướng nghiệp của K.K. Platonov
18
* Định hướng nghề nghiệp cho HS
Định hướng NN là việc thông tin cho học sinh các thông tin về sự phát triển
của các nghề trong XH, đặc biệt là những nghề đang cần nhu cầu nhân lực, về
những yêu cầu tâm sinh lý mà nghề đặt ra, tình hình phân công lao động trong XH,
về hệ thống trường đào tạo nghề …dựa vào mục tiêu chiến lược về phát triển
bước vào trường chuyên nghiệp mới vỡ lẽ rằng “mình chọn nhầm nghề”.
Tư vấn nghề là một hệ thống những biện pháp tâm lý giáo dục nhằm đánh
giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh thiếu niên, đối chiếu các năng lực
có với những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, có cân nhắc đến nhu
cầu nhân lực của địa phương và xã hội, trên cơ sở đó cho họ những lời khuyên về
chọn nghề có căn cứ khoa học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn
trong khi chọn nghề.
Tư vấn chọn nghề được hiểu là hình thức tác động HN thông qua các lời
khuyên, góp ý của GV và những nhà chuyên môn đối với việc chọn nghề của HS.
Tư vấn nghề được hiểu như là một chuỗi hành động tìm hiểu các cá nhân, từ đó làm
cho các cá nhân bộc lộ rõ khả năng, đặc điểm, phẩm chất, tâm lý của mình. Trên cơ
sở đó, những người tư vấn đối chiếu với những yêu cầu, nhu cầu NN để đưa ra
những lời khuyên có cơ sở khoa học giúp HS lựa chọn NN phù hợp với bản
thân.[16]
- Nhiệm vụ của tư vấn nghề
+ Chẩn đoán những thuộc tính và phẩm chất quan trọng về mặt nghề nghiệp.
+ Đối chiếu cấu trúc tâm lý của nhân cách và của hoạt động nghề nghiệp.
+ Xác định con đường tiếp tục phát triển nhân cách.
- Các kiểu tư vấn nghề
+ Tư vấn thông tin hướng dẫn nhằm giới thiệu với thanh thiếu niên nội
dung nghề mà mình định chọn.
+ Tư vấn chẩn đoán nhằm bộc lộ hứng thú, thiên hướng, năng lực và những
phẩm chất nghề chuyên biệt của con người trên cơ sở nghiên cứu và đo đạc
nhân cách con người một cách toàn diện. Mục đích của tư vấn chẩn đoán là
20
xác định trong những lĩnh vực hoạt động nào con người có thể lao động thành
công nhất, tức là đem lợi ích tối đa cho xã hội, động thời đưa lại niềm vui và sự hài
lòng cho bản thân người lao động.
+ Tư vấn y học nhằm bộc lộ sự phù hợp giữa trạng thái sức khoẻ của con người
với yêu cầu của nghề mà con người lựa chọn.
khi ra trường (đạo đức, học tập văn hoá, đánh giá học sinh dưới góc độ HN và bàn
giao học sinh ra trường ). Nhà trường góp ý kiến cho việc tuyển sinh vào các
trường đào tạo nghề và tuyển chọn người lao động vào các lĩnh vực kinh tế xã hội
được thuận lợi, chính xác, khoa học.
Xác định mức độ phù hợp với những đòi hỏi, tiêu chuẩn cụ thể của nghề.
Đây là công việc của các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước, các trường ĐH, CĐ,
THCN …là nơi tuyển chọn lao động, tuyển sinh đào tạo nghề quan hệ mật thiết với
công tác định hướng tư vấn, nên các trường ĐH, CĐ, TCCN phải giúp trường phổ
thông làm công tác HN.
1.3.4. Nội dung của giáo dục hướng nghiệp cấp THPT
Nội dung chính là định hướng phát triển KT - XH địa phương, cả nước như :
+ Nhu cầu về thị trường lao động.
+ Thông tin về NN và cơ sở đào tạo.
+ Năng lực bản thân, hoàn cảnh truyền thống NN của gia đình.
+ Lập kế hoạch lựa chọn hướng đi và chọn nghề sau khi tốt nghiệp THPT.
Những nội dung này được thể hiện thành những chủ đề trong chương trình
và được các tác giả viết sách giáo viên thể hiện qua các nội dung sách .
Nội dung chương trình lớp 10, 11 giúp các em tìm hiểu về thông tin NN cụ
thể, nội dung lớp 12 tập trung vào việc thông tin đào tạo và định hướng phát triển
kinh tế nhằm giúp cho việc quyết định chọn nghề.
1.4. Nghề nghiệp
1.4.1. Khái niệm nghề nghiệp
* Khái niệm về chuyên môn : chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất
hẹp, trong đó con người bằng sức mạnh thể chất và tinh thần của mình làm ra những
22
giá trị vật chất như những vật dụng sinh hoạt hàng ngày, lương thực, thực phẩm,
công cụ lao động …hoặc những giá trị tinh thần như sách báo, phim ảnh, âm nhạc
… như là phương tiện cần cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. [37; tr 3]
* Khái niệm về việc làm : việc làm là công việc được giao theo NN, có thù
lao và chế độ đảm bảo đời sống lâu dài. Luật Lao động ban hành ngày 23 tháng 6
1.4.2. Đặc điểm hoạt động của nghề nghiệp
Hoạt động NN gồm những đặc điểm sau :
- Đối tượng lao động : Đối tượng lao động là hệ thống những thuộc tính, những mối
quan hệ qua lại của các sự vật, hiện tượng, các quá trình mà ở cương vị lao động
nhất định con người phải vận dụng chúng.
- Mục đích lao động : là kết quả mà XH đòi hỏi, trông đợi ở người lao động, nó có
thể ở các công việc thao tác chủ yếu phải hoạt động trong nghề và các sản phẩm thu
được khi hành nghề.
- Công cụ lao động : công cụ lao động không chỉ là những công cụ gia công mà còn
gồm những phương tiện làm tăng năng lực nhận thức của con người về các đặc
điểm của đối tượng lao động, làm tăng sự tác động của con người đến đối tượng đó.
Như vậy, các công cụ đo lường, máy móc, cũng như những quy tắc thực hành, lý
luận cũng được xem là công cụ lao động.
- Điều kiện lao động : là những đặc điểm của môi trường tự nhiên và môi trường
XH mà trong đó công việc NN của con người được diễn ra.
- Sản phẩm lao động : là tất cả các giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà quá trình
lao động sản sinh ra.
1.4.3. Phân loại nghề
* Bản mô tả nghề
Công cụ rất cần thiết cho công tác tư vấn HN là nắm được bản mô tả nghề,
hay còn gọi là bản họa đồ nghề. Về thực chất, đó là bản mô tả nội dung, tính chất,
phương pháp, đặc điểm tâm sinh lý cần phải có, những điều cần tránh khi lao động
trong nghề. Được giải thích cặn kẽ về nghề, người chọn nghề sẽ có những định
24
hướng cần thiết cho việc lựa chọn nghề của mình. Bản mô tả nghề thường có các
mục sau đây :
- Tên nghề và những chuyên môn thường gặp trong nghề. Cùng với việc trình bày
này, người ta còn giới thiệu qua lịch sử phát triển của nghề.
- Nội dung và tính chất lao động của nghề. Ở mục này bản mô tả nghề thường miêu
tả việc tổ chức lao động, những sản phẩm làm ra, những phương pháp lao động,
Bản mô tả nghề của từng nhóm nghề chính, đặc điểm nghề, yêu cầu của nghề
trong XH, địa phương đang cần và nhu cầu nhân lực hàng năm của các nghề. Thông
tin mô tả nghề giúp HS mở rộng hiểu biết về bức tranh NN làm cơ sở chọn nghề
một cách đúng đắn, khoa học. XH càng phát triển thì NN cũng càng phong phú,
cùng với sự thay đổi công cụ sản xuất và sư phân công lao động, nhiều nghề mới
được hình thành đồng thời với một số nghề cũ bị mất đi hay có sự thay đổi cả về
hình thức lẫn nội dung công việc. Khoa học kỹ thuật phát triển cũng kéo theo tính
chất lao động thay đổi nhất là về công cụ sản xuất. Do đó kéo theo việc đào tạo
nghề cho NLĐ cũng cần thay đổi.
- Phân loại nghề : hiện nay cũng chỉ mang tính tương đối, có nhiều hệ thống
phân loại nghề tùy vào thuộc vào mục đích, tiêu chí phân loại, cách sử dụng … cả
trong nước và quốc tế.
Tại Việt Nam, có thể thấy một số hệ thống phân loại đáng chú ý như sau : Hệ
thống phân loại các nhóm nghề, các nghề theo cấu trúc nền kinh tế quốc dân, gồm
có nhóm ngành trong lĩnh vực sản xuất vật chất và nhóm ngành sản xuất phi vật
chất. Nhóm ngành lĩnh vực sản xuất vật chất bao gồm công nghiệp, nông nghiệp,
xây dựng, giao thông, thương nghiệp. Nhóm ngành sản xuất phi vật chất gồm các
ngành giáo dục, y tế, văn hóa, tài chính, quản lý nhà nước.
Hệ thống phân loại các ngành nghề, nhóm nghề và nghề trong tài liệu về
danh mục các nghề trong trường đào tạo. Trong danh mục này có 394 nghề được
chia thành 58 nhóm thuộc 19 ngành khác nhau. Danh mục này thích hợp với yêu
cầu thống nhất tổ chức, quản lý đào tạo ở hệ thống các trường dạy nghề và là tài
liệu hướng dẫn lựa chọn nghề trên toàn quốc.