NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI HUYỆN BẢO LÂM TỈNH LÂM ĐỒNG - Pdf 38

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
VŨ THẢO MY

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG TẠI HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH LÂM ĐỒNG

NGÀNH : GIÁO DỤC HỌC - 601401
Hướng dẫn khoa học :
TS. ĐẶNG THỊ PHƯƠNG PHI

Tp. Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2011
1


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1. Hiện nay, trong giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước và hội nhập
quốc tế, nguồn lực con người Việt Nam càng trở nên có ý nghĩa quan trọng, quyết
định sự thành công của công cuộc phát triển đất nước. Giáo dục ngày càng có vai
trò và nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam mới,
đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH. Để có nguồn lực tham gia vào hoạt động
chung của XH thì công tác HN là một trong những hoạt động có vai trò quan trọng
chiến lược. HN nhằm góp phần phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả các nguồn nhân
lực, vốn quý của đất nước để phục vụ cho sự phát triển KT - XH, do vậy HN đã có
một ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển nguồn nhân lực của quốc gia.
HN cho HSPT đã được Đảng và Nhà nước ta coi trọng, đã có nhiều chủ

hầu hết HS còn rất bỡ ngỡ, lúng túng trong việc định hướng nghề, chọn nghề, HS
không có những hiểu biết tối thiểu về thế giới NN nói chung, không biết rõ muốn
tìm một nghề nào đó thì cần phải tìm hiểu những yếu tố nào của nghề. Do đó rất
khó khăn để chọn trường, chọn ngành để thi. Những HS cũng biết rằng kỳ thi đại
học ít có khả năng đỗ song vẫn đi thi theo phong trào, theo chúng bạn hoặc vì sĩ
diện của bản thân và gia đình. Thể hiện rõ ở việc làm hồ sơ đăng ký dự thi ĐH, CĐ
năm 2010, tỷ lệ số hồ sơ trên HS là 1,83 trên toàn huyện, như vậy trung bình mỗi
HS chọn gần hai trường tương đương hai ngành để thi. Mặt khác, mong muốn của
gia đình, cha mẹ HS cũng ảnh hưởng và chi phối việc lựa chọn nghề của các em. Đa
số cha mẹ HS quan niệm rằng : vào ĐH là con đường duy nhất để thoát nghèo, dễ
có vị thế cao trong XH, mang lại vinh dự cho gia đình.
Từ những lý do nêu trên, người nghiên cứu chọn đề tài : “Nghiên cứu đề
xuất giải pháp hướng nghiệp cho học sinh THPT tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm
Đồng”.
2. Mục đích nghiên cứu :
Nghiên cứu đề xuất những giải pháp hữu hiệu nhằm HN cho HS THPT trên
địa bàn huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu

3


+ Những tài liệu, chính sách của Bộ GD - ĐT, Sở GD - ĐT Lâm Đồng về
hoạt động HN.
+ HS các trường THPT ở huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
+ PHHS các trường THPT ở huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
+ CB, GV các trường THPT ở huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động hướng nghiệp cho HS trung học phổ thông tại huyện Bảo Lâm.

6. Những đóng góp khoa học của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động GDHN ; Phân tích mối quan hệ
giữa hoạt động HN và xu hướng chọn nghề của HS, kết quả phân luồng HS để phát
triển nguồn nhân lực của địa phương.
6.2. Về mặt thực tiễn
Đề xuất giải pháp khả thi góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động GDHN, đáp
ứng nhu cầu về định hướng nghề nghiệp của HS THPT trên địa bàn, định hướng
phân luồng HS theo yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị ; Danh mục tài liệu tham
khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương sau đây :
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu về hướng nghiệp
1.1.1. Lược sử nghiên cứu về hướng nghiệp ở ngoài nước
1.1.2. Lược sử nghiên cứu về hướng nghiệp ở trong nước
1. 2. Các văn bản chỉ đạo hoạt động hướng nghiệp
1.2.1. Các văn bản của trung ương
1.2.2. Các văn bản của Bộ GD - ĐT về GDHN
1.2.3. Các văn bản của địa phương
1.3. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp
1.3.1. Khái niệm hướng nghiệp
1.3.2. Ý nghĩa của hướng nghiệp
1.3.3. Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp

5


1.3.4. Nội dung của giáo dục hướng nghiệp cấp THPT
1.3.5. Cơ sở khoa học của hướng nghiệp

Jarpues Đelors, Chủ tịch Ủy ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI của
UNESCO khi phân tích “ Những trụ cột của giáo dục” đã viết : “Học tri thức, học
làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại, đó là bốn trụ cột mà Ủy ban đã
trình bày và minh họa như những nền tảng của giáo dục”. Theo tác giả, vấn đề HN,
học nghề của HSPT là trụ cột thứ hai. Tác giả đã nhấn mạnh việc HS có cơ hội phát
triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động NN song song với việc
học văn hóa.
Ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, công tác HN rất được coi trọng và
đươc khởi sự ngay từ những năm đầu của cấp trung học :
Cấp trung học cơ sở :
Dự nghiệp: Giới thiệu tổng quan các ngành nghề thông dụng để giúp các HS
phát hiện sơ bộ xu hướng NN của mình.
Hướng nghiệp: Cho các HS được học thử các nghề được phát hiện ở giai
đoạn dự nghiệp để củng cố hoặc điều chỉnh xu hướng NN chính xác hơn.
Cấp trung học phổ thông :
Huấn nghiệp : Theo kết quả ở giai đoạn HN, nhà trường sẽ chính thức đào
tạo nghề theo đúng xu hướng NN của HS, để giúp các em HS đủ sức vào đời ngay
sau khi tốt nghiệp trung học hoặc tạo đà thuận lợi cho việc học tiếp lên.
* Ở nước Anh :
HS của chương trình giai đoạn từ 11-14 tuổi và giai đoạn từ 14-16 tuổi có thể
lựa chọn NN của mình theo bảng danh mục và khi hoàn thành chương trình HN này
HS sẽ nhận được một chứng chỉ để làm cơ sở cho việc nhận được bằng quốc gia.
Mục đích của giáo dục phổ thông là nhằm trang bị cho HS vốn kiến thức tiếp thu
chương trình đào tạo HN và giáo dục đại học ở những giai đoạn sau. Tất cả HS từ

7


16 tuổi đều phải có 2 tuần thử việc ở các công ty địa phương như là một phần của
chương trình đào tạo HN chung . [1; tr.287]

-

Nguyễn Toàn, Hiện trạng và định hướng công tác tư vấn cho học sinh tại
các Trung tâm Kỹ thuật Hướng nghiệp dạy nghề ở thành phố Hồ Chí Minh,
năm 1997.

-

Nguyễn Thị Bạch Phượng, Nghiên cứu hướng chọn nghề của học sinh
THPT, năm 1998.

-

Trịnh Xuân Thu, Nghiên cứu sự thích ứng nghề của sinh viên Khoa Kỹ thuật
Công ngiệp - Trường Cao đẳng Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, năm 1998.

-

Liêu Thị Thùy Trang, Nghiên cứu động cơ chọn nghề Sư phạm của sinh viên
Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Trà Vinh, năm 1999.

- Phạm Đức Khiêm, Nghiên cứu về định hướng NN học sinh THPT nhằm phân
luồng học sinh vào các trường THCN tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 2005.
- Phạm Hồng Thắng, Khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp hoạt động
hướng nghiệp học sinh THPT tại tỉnh Gia Lai, năm 2008.
- Phan Thị Kim Hồng, Nghiên cứu đề xuất các giải pháp hướng ngiệp cho đối
tượng thanh thiếu niên tỉnh Ninh Thuận, năm 2010.
Bên cạnh các luận văn thạc sỹ trên, về lĩnh vực hoạt động HN cũng được
nghiều nhà khoa học nghiên cứu như :
-

núi, cao nguyên, với những điều kiện riêng thì công tác HN cho HS chưa được đề
cập nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học.
Ngoài các đề tài nghiên cứu khoa học, các Hội thảo chuyên đề mang tính
quốc gia quốc tế về HN cũng được tổ chức với sự tham gia của nhiều nhà chuyên
môn, các nhà giáo dục. Cụ thể :
Vào năm 2002, tại Hà Nội đã tổ chức Hội thảo: “Giáo dục phổ thông và
Hướng nghiệp - Nền tảng để phát triển nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa,
Hiện đại hóa đất nước”. Có nhiều bài viết của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu
kinh nghiệm tham gia hội thảo. Các bài viết, tham gia thực sự là những nghiên cứu,
tổng kết có giá trị về lý luận và thực tiễn của giáo dục phổ thông và HN. Đồng thời
cũng chỉ ra các giải pháp nhằm làm cho GDHN và giáo dục phổ thông phục vụ tốt
nhất cho việc chuẩn bị nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH - HĐN và hội nhập quốc
tế của đất nước.
Trong Hội thảo: “Đối ngoại Pháp - Á về các vấn đề và hướng đi cho giáo
dục hướng nghiệp tại Việt Nam”, tại Khoa Sư phạm - Đại học Quốc gia Hà Nội phối
hợp với Viện nghiên cứu Nghiên cứu quốc gia về Lao động hướng nghiệp - Cộng
hòa Pháp ngày 11/01/2005, nhiều tham luận của các nhà khoa học trong và ngoài
nước đã trình bày sâu sắc các nội dung, hướng đi cần thiết để thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ GDHN tại Việt Nam.
1.2. Các văn bản chỉ đạo về hoạt động hướng nghiệp
1. 2.1. Các văn bản của trung ương
* Các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước về giáo dục HN

10


Quan điểm nhất quán trong các Nghị quyết của Đảng đó là :“ Học đi đôi với
hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội ” .
- Năm 1979, Nghị quyết 14 của Bộ chính trị Ban chấp hành Trung ương
khóa IV về cải cách giáo dục đã khẳng định hướng nghiệp là bộ phận khắng khít với

thực hiện HN trong GD, tạo điều kiện để HS tốt nghiệp THCS, THPT tiếp tục học ở
cấp cao hơn, học trung cấp, học nghề hoặc lao động phù hợp với năng lực, phù hợp
điều kiện cụ thể của cá nhân và nhu cầu của XH, góp phần điều tiết cơ cấu ngành
nghề của lực lượng lao động phù hợp nhu cầu phát triển của đất nước.
1.2.2. Các văn bản của Bộ giáo dục - Đào tạo về GDHN
- Chỉ thị số 33/2003/CT-BGD-ĐT ngày 23/7/2003/ của Bộ trưởng bộ GD ĐT về việc tăng cường giáo dục HN cho HSPT. Chỉ thị nêu rõ “Giáo dục hướng
nghiệp là một bộ phận của nội dung giáo dục triển khai thực hiện sinh hoạt hướng
nghiệp ở các trường THCS, THPT và Trung tâm KTTH - HN theo tài liệu hướng
dẫn của Bộ GD - ĐT giúp học sinh đặc biệt là học sinh cuối cấp, tìm hiểu thế giới
nghề nghiệp, thị trường lao động và đánh giá về năng lực của bản thân ,hướng dẫn
học sinh lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn ngành học phù hợp với năng lực cá nhân
và yêu cầu của xã hội”.
- Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ của giáo dục - lao động HN 2004-2005 cuả
Bộ GD- ĐT đã đề cập : “Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về
việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông, mở rộng và nâng
cao chất lượng hoạt động, sinh hoạt hướng nghiệp và tư vấn hướng nghiệp cho học
sinh phổ thông… nâng cao chất lượng và mở rộng việc dạy nghề phổ thông một
cách vững chắc tiếp tục củng cố và phát triển Trung tâm KTTH- HN ”.
- Nghị quyết số 16/2006/QĐ-BGĐ-ĐT ngày 06/5/2006 V/v Ban hành
chương trình giáo dục phổ thông, chương trình phổ thông gồm chương trình chuẩn
của 23 môn học, hoạt động GDHN và hoạt động dạy NPT.
- Quyết nghị số 68/2008/QĐ-BGĐ-ĐT từ ngày 09/12/2008 V/v Ban hành
quyết định về công tác hướng nghiệp, về vấn đề việc làm trong các cơ sở giáo dục
đại học và trung cấp chuyên nghiệp do Bộ GD-ĐT ban hành.
- Công văn số 7078/ BGD-ĐT ngày 12/8/2005 về Hướng dẫn thực hiện
nhiệm vụ lao động hướng nghiệp trong trường phổ thông.
1.2.3. Các văn bản của Sở GD – ĐT Lâm Đồng

12



13


con người trong việc tự xác định NN và lựa chọn hình thức tối ưu để có việc làm, có
tính đến nhu cầu và năng lực của con người, kết hợp với hoàn cảnh KT - XH trong
thị trường lao động .[15]
Từ những quan niệm trên, HN là tổng thể những tác động giúp con người
định hướng đến một nghề hay một số nghề nhất định, đảm bảo được sự phù hợp
giữa khả năng, yêu cầu của cá nhân với yêu cầu của XH. Trẻ em cần được HN liên
tục, thường xuyên bằng nhiều hình thức, nhiều con đường.... Chúng ta cần quan tâm
để thế hệ trẻ chọn nghề theo hứng thú, sở thích và mong muốn. HS ngày càng nhận
thức sâu sắc nghĩa vụ lao động, nhu cầu nhân lực mà XH đặt ra. Do đó HN phải
được cả XH quan tâm, không nên để cho trẻ chọn nghề một cách tự phát, ngẫu
nhiên. HN dẫn thế hệ trẻ đi vào thế giới NN, giúp họ phát huy được hết năng lực
trong thế giới đó và có được cuộc sống thỏa mãn với lao động NN sau này.
1.3.2. Ý nghĩa của hướng nghiệp
- Ý nghĩa giáo dục của công tác HN : thông qua giáo dục HN, HS có hứng
thú và động cơ NN đúng đắn, có lý tưởng NN đối với lao động. Vì vậy, HN trong
giáo dục là sự làm quen và tiếp xúc với nghề, quá trình tiếp cận với kỹ thuật và
công nghệ sản xuất làm quen với lao động NN. HN còn tạo ra khả năng hình thành
ở HS óc tư duy, sáng tạo, sự khéo tay, tư duy kỹ thuật.
- Ý nghĩa kinh tế của công tác HN : Hằng năm chúng ta có một lực lượng HS
sau khi tốt nghiệp THCS, THPT đi vào lao động sản xuất, nếu được HN tốt thì số
này sẽ đi vào hệ thống lao động NN, góp phần phân công lao động XH từ đó nâng
cao năng suất lao động, đẩy mạnh sản xuất góp phần phát triển nền kinh tế của đất
nước nói chung và của địa phương nói riêng.
- Ý nghĩa chính trị của công tác HN : Trong thời gian tới, đất nước cần
nguồn nhân lực cho các lĩnh vực hoạt động sản xuất của nền kinh tế quốc dân. Công
tác HN nếu được quan tâm đúng mức sẽ góp phần phân luồng HS tốt nghiệp các

Cụ thể hóa nhiệm vụ của HN như sau :
* Đối với trường PT : HN cho HSPT là bước khởi đầu quan trọng của quá
trình phát triển nguồn nhân lực của đất nước.
Nhiệm vụ đầu tiên là qua HN, giúp các em được làm quen với những nghề
cơ bản trong XH, những nghề có vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, những

15


nghề cần thiết phải phát triển ở ngay địa phương mình. Nhiệm vụ này được thể hiện
trong suốt những năm còn ngồi trên ghế nhà trường. Qua đó giúp các em có điều
kiện tìm hiểu nghề trong XH đặc biệt là nghề của địa phương. Từ sự làm quen này,
sẽ giúp cho các em trả lời câu hỏi : Trong giai đoạn hiện nay, những nghề nào đang
cần phát triển nhất, thái độ đối với nghề như thế nào là đúng, v.v.. Đồng thời, HS
còn biết được những yêu cầu tâm sinh lý mà nghề đặt ra, những điều kiện vào học
nghề v.v… Tóm lại, nhiệm vụ thứ nhất là hình thành ở HS những biểu tượng đúng
đắn về những nghề cần phát triển.
Nhiệm vụ thứ hai là hướng dẫn phát triển hứng thú NN, trong quá trình tìm
hiểu nghề, ở HS sẽ xuất hiện và phát triển hứng thú NN. Người làm HN sẽ hướng
dẫn sự phát triển hứng thú của các em trên cơ sở phân tích những đặc điểm, điều
kiện, hoàn cảnh riêng của các em. Hứng thú là một động lực hết sức quan trọng để
con người gắn bó với nghề. Vì vậy, hứng thú được coi như một chỉ số quan trọng
hàng đầu để xét sự phù hợp nghề của con người. Ở một số nước, người ta đề ra
nguyên tắc: Không bố trí vào nghề nếu không có hứng thú với nghề. Trong XH,
không ít nghề ở ngoài sự định hướng của HS. Nhưng khi thấy được hết tầm quan
trọng của một nghề, có những HS đã dứt khoát chọn nghề ấy, và cảm thấy thoải mái
hoặc hài lòng với sự lựa chọn của mình, từ đó nảy nở hứng thú với nghề.
Nhiệm vụ thứ ba là giúp HS hình thành năng lực NN tương ứng : Người ta
chỉ có thể yên tâm sống lâu dài với nghề nếu họ có năng lực chuyên môn thực sự,
đóng góp được sức lực, trí tuệ một cách hữu hiệu với nghề của mình. Xét đến cùng,

của mỗi một nghề mình đang quan tâm.
Về các nhiệm vụ của HN, K.K. Platonov đã đưa ra “Tam giác hướng
nghiệp” như sau :
Định hướng
nghề
Các nghề và đặc điểm
yêu cầu của chúng
Thị trường
lao động
Tư vấn nghề

Phẩm chất, năng lực,
hoàn cảnh cá nhân

Tuyển chọn nghề

Sơ đồ 1.1 : Tam giác hướng nghiệp của K.K. Platonov

17


* Định hướng nghề nghiệp cho HS
Định hướng NN là việc thông tin cho học sinh các thông tin về sự phát triển
của các nghề trong XH, đặc biệt là những nghề đang cần nhu cầu nhân lực, về
những yêu cầu tâm sinh lý mà nghề đặt ra, tình hình phân công lao động trong XH,
về hệ thống trường đào tạo nghề …dựa vào mục tiêu chiến lược về phát triển
KTXH trong những năm tới hoặc về lâu dài. Ngoài đối tượng chính là HS cũng cần
cung cấp thông tin cho PH nhằm mục đích phối hợp trong HN được thống nhất. Sau
khi định hướng cho HS sẽ tiến hành cho các em có những điều kiện làm quen với
một số nghề, tham gia lao động một số buổi với từng nghề để kiểm nghiệm hứng

Tư vấn nghề là một hệ thống những biện pháp tâm lý giáo dục nhằm đánh
giá toàn bộ năng lực thể chất và trí tuệ của thanh thiếu niên, đối chiếu các năng lực
có với những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, có cân nhắc đến nhu
cầu nhân lực của địa phương và xã hội, trên cơ sở đó cho họ những lời khuyên về
chọn nghề có căn cứ khoa học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn
trong khi chọn nghề.
Tư vấn chọn nghề được hiểu là hình thức tác động HN thông qua các lời
khuyên, góp ý của GV và những nhà chuyên môn đối với việc chọn nghề của HS.
Tư vấn nghề được hiểu như là một chuỗi hành động tìm hiểu các cá nhân, từ đó làm
cho các cá nhân bộc lộ rõ khả năng, đặc điểm, phẩm chất, tâm lý của mình. Trên cơ
sở đó, những người tư vấn đối chiếu với những yêu cầu, nhu cầu NN để đưa ra
những lời khuyên có cơ sở khoa học giúp HS lựa chọn NN phù hợp với bản
thân.[16]
- Nhiệm vụ của tư vấn nghề
+ Chẩn đoán những thuộc tính và phẩm chất quan trọng về mặt nghề nghiệp.
+ Đối chiếu cấu trúc tâm lý của nhân cách và của hoạt động nghề nghiệp.
+ Xác định con đường tiếp tục phát triển nhân cách.
- Các kiểu tư vấn nghề
+ Tư vấn thông tin hướng dẫn nhằm giới thiệu với thanh thiếu niên nội
dung nghề mà mình định chọn.
+ Tư vấn chẩn đoán nhằm bộc lộ hứng thú, thiên hướng, năng lực và những
phẩm chất nghề chuyên biệt của con người trên cơ sở nghiên cứu và đo đạc
nhân cách con người một cách toàn diện. Mục đích của tư vấn chẩn đoán là

19


xác định trong những lĩnh vực hoạt động nào con người có thể lao động thành
công nhất, tức là đem lợi ích tối đa cho xã hội, động thời đưa lại niềm vui và sự hài
lòng cho bản thân người lao động.

+ Tuyển chọn nghề giúp cho việc ngăn ngừa hay giảm bớt tai nạn lao động, đặc
biệt trong giao thông vận tải.
+ Tuyển chọn nghề giúp con người đến được với nghề mà họ phù hợp, thành
công trong nghề, yên tâm và gắn bó với nghề.
Trường PT có nhiệm vụ cung cấp tư liệu về đặc điểm nhân cách của từng HS
khi ra trường (đạo đức, học tập văn hoá, đánh giá học sinh dưới góc độ HN và bàn
giao học sinh ra trường...). Nhà trường góp ý kiến cho việc tuyển sinh vào các
trường đào tạo nghề và tuyển chọn người lao động vào các lĩnh vực kinh tế xã hội
được thuận lợi, chính xác, khoa học.
Xác định mức độ phù hợp với những đòi hỏi, tiêu chuẩn cụ thể của nghề.
Đây là công việc của các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước, các trường ĐH, CĐ,
THCN …là nơi tuyển chọn lao động, tuyển sinh đào tạo nghề quan hệ mật thiết với
công tác định hướng tư vấn, nên các trường ĐH, CĐ, TCCN phải giúp trường phổ
thông làm công tác HN.
1.3.4. Nội dung của giáo dục hướng nghiệp cấp THPT
Nội dung chính là định hướng phát triển KT - XH địa phương, cả nước như :
+ Nhu cầu về thị trường lao động.
+ Thông tin về NN và cơ sở đào tạo.
+ Năng lực bản thân, hoàn cảnh truyền thống NN của gia đình.
+ Lập kế hoạch lựa chọn hướng đi và chọn nghề sau khi tốt nghiệp THPT.
Những nội dung này được thể hiện thành những chủ đề trong chương trình
và được các tác giả viết sách giáo viên thể hiện qua các nội dung sách .
Nội dung chương trình lớp 10, 11 giúp các em tìm hiểu về thông tin NN cụ
thể, nội dung lớp 12 tập trung vào việc thông tin đào tạo và định hướng phát triển
kinh tế nhằm giúp cho việc quyết định chọn nghề.
1.4. Nghề nghiệp
1.4.1. Khái niệm nghề nghiệp
* Khái niệm về chuyên môn : chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất
hẹp, trong đó con người bằng sức mạnh thể chất và tinh thần của mình làm ra những


vì thế, nghề được coi như đối tượng hoạt động cơ bản trong một giai đoạn nào đó

22


của đời sống cá nhân và trong đa số các trường hợp, nó gắn bó với cả cuộc đời con
người, nhiều khi còn truyền từ đời này sang đời khác.
* Giáo dục nghề phổ thông : được hiểu là hoạt động giáo dục NN nhằm cung
cấp kiến thức, kĩ năng, kĩ thuật ban đầu cho HSPT, giúp HS thấy được những đòi
hỏi của nghề đối với người lao động về phẩm chất và năng lực, từ đó có sự lựa chọn
nghề và định hướng học tập phù hợp nhất.
1.4.2. Đặc điểm hoạt động của nghề nghiệp
Hoạt động NN gồm những đặc điểm sau :
- Đối tượng lao động : Đối tượng lao động là hệ thống những thuộc tính, những mối
quan hệ qua lại của các sự vật, hiện tượng, các quá trình mà ở cương vị lao động
nhất định con người phải vận dụng chúng.
- Mục đích lao động : là kết quả mà XH đòi hỏi, trông đợi ở người lao động, nó có
thể ở các công việc thao tác chủ yếu phải hoạt động trong nghề và các sản phẩm thu
được khi hành nghề.
- Công cụ lao động : công cụ lao động không chỉ là những công cụ gia công mà còn
gồm những phương tiện làm tăng năng lực nhận thức của con người về các đặc
điểm của đối tượng lao động, làm tăng sự tác động của con người đến đối tượng đó.
Như vậy, các công cụ đo lường, máy móc, cũng như những quy tắc thực hành, lý
luận cũng được xem là công cụ lao động.
- Điều kiện lao động : là những đặc điểm của môi trường tự nhiên và môi trường
XH mà trong đó công việc NN của con người được diễn ra.
- Sản phẩm lao động : là tất cả các giá trị vật chất và giá trị tinh thần mà quá trình
lao động sản sinh ra.
1.4.3. Phân loại nghề
* Bản mô tả nghề

+ Những phúc lợi mà người lao động được hưởng
- Những nơi có thể theo học nghề:
+ Những trường đào tạo công nhân cho nghề
+ Những trường trung học chuyên nghiệp thuộc lĩnh vực nghề
+ Những trường đại học có đào tạo kỹ sư, cử nhân… cho nghề (Ghi rõ địa điểm
trường, các khoa đào tạo của trường, thời gian đào tạo trong trường, những chế độ
học tập, học bổng và học phí)

24


- Những nơi có thể làm việc sau khi học nghề : Tên một số cơ quan xí
nghiệp, doanh nghiệp; địa chỉ của các cơ sở đó.hiện nay, ở nước ta chưa có cơ quan
chuyên nghiên cứu và xuất bản các họa đồ nghề. Do vậy, khi tiến hành hướng
nghiệp, nhất là khi tư vấn chọn nghề, các cơ sở đào tạo phải tự xây dựng những họa
đồ nghề với sự trợ giúp của cá cơ quan chuyên môn, các thầy thuốc, thầy giáo dạy
nghề…
Bản mô tả nghề của từng nhóm nghề chính, đặc điểm nghề, yêu cầu của nghề
trong XH, địa phương đang cần và nhu cầu nhân lực hàng năm của các nghề. Thông
tin mô tả nghề giúp HS mở rộng hiểu biết về bức tranh NN làm cơ sở chọn nghề
một cách đúng đắn, khoa học. XH càng phát triển thì NN cũng càng phong phú,
cùng với sự thay đổi công cụ sản xuất và sư phân công lao động, nhiều nghề mới
được hình thành đồng thời với một số nghề cũ bị mất đi hay có sự thay đổi cả về
hình thức lẫn nội dung công việc. Khoa học kỹ thuật phát triển cũng kéo theo tính
chất lao động thay đổi nhất là về công cụ sản xuất. Do đó kéo theo việc đào tạo
nghề cho NLĐ cũng cần thay đổi.
- Phân loại nghề : hiện nay cũng chỉ mang tính tương đối, có nhiều hệ thống
phân loại nghề tùy vào thuộc vào mục đích, tiêu chí phân loại, cách sử dụng … cả
trong nước và quốc tế.
Tại Việt Nam, có thể thấy một số hệ thống phân loại đáng chú ý như sau : Hệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status