ÔN TẬP MÔN LUẬT HIẾN PHÁP
1. Tại sao trong NN chủ nô và NN phong kiến chưa có HP
- Chính thể của 2 NN trên là quân chủ chuyên chế (người đứng đầu là
nhà vua với những quyền hành ko giới hạn, truyền ngôi theo hình thức thế
tộc)
- PL mang tính đặc quyền, đặc lợi (bảo vệ lợi ích của gc thống trị)
- Nền thống trị của gcấp bóc lột thường mang tính chất bạo lực công
khai, tàn bạo và hà khắc.
- PL của 2 hình thức trên mang tính độc đoán (thể hiện và bảo vệ lợi
ích của gc thống trị, không bảo vệ lợi ích của các tầng lớp khác trong XH)
- PL của 2 hình thức trên duy trì và bảo vệ trật tự XH PK, duy trì sự bất
bình đẳng giữa gc thống trị đối với gc nông dân và những người lao động
khác.
2. Tại sao trước CM tháng 8/1945 ở VN chưa có HP.
Phân tích về vấn đề HP do Chủ tịch HCM viết: “Trước chúng ta đã
bị chế độ quân chủ cai trị (chế độ pkiến), rồi đến chế độ thực dân không
kém phần chuyên chế nên nước ta ko có hiến pháp, nhân dân ta ko được
hưởng quyền tự do, dân chủ. Chúng ta phải có 1 hiến pháp dân chủ”.
Trước CM tháng 8/1945 nước ta là nước thuộc địa nửa pkiến với
chính thể quân chủ chuyên chế (liên hệ với câu 10) nước ta chưa có
HP.
3. Hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của HP 1946
12.1 Sự ra đời:
- Sau CM T8 1945, NN VN ra đời NN phải ban hành hệ thống PL
để quản lý XH trong đó HP là đạo luật cơ bản trong hệ thống PL đó.
- Ngày 20.9.1945 CP lâm thời ra Sắc lệnh thành lập ban dự thảo HP
gồm 7 người do CT HCM đứng đầu.
- Tháng 11/1945, Ban dự thảo đã hoàn thành công việc và bản dự thảo
HP được công bố cho toàn dân thảo luận.
- 02/3/1946, quốc dân đại hội họp phiên đầu tiên (QH khóa I, kỳ họp
thứ nhất) tại Hà nội và bầu ra ban dự thảo HP gồm 11 người do CT HCM
Với một cơ cấu chính trị thay đổi, nhiệm vụ CM thay đổi (độc lập dân
tộc và CN XH) NN phải ban hành HP mới và QH khoá 1 kỳ họp thứ 6
(19.12.1956 - 25.1.1957) đã ra Nghị quyết về sửa đổi HP 1946 để thành
lập HP mới và thành lập uỷ ban dự thảo sửa đổi HP 1946.
QH khoá 1, kỳ hợp thứ 11 đã thông qua HP 1959 vào ngày
31.12.1959 và được công bố ngày 01.1.1960 với tên HP của nước Việt
Nam dân chủ CH.
13.2 Tính chất, nhiệm vụ
a) Tính chất:
Là HP của thời kỳ quá độ lên CNXH
- Trong lĩnh vực chính trị: Điều 4, HP 1959 đã khẳng định tất cả các
quyền lực thuộc về nhân dân.
- Về chế độ KT: Điều 9, HP 1959, tính XHCN trong lĩnh vực KTế thể
hiện bằng việc cải tạo và XD nền KT theo định hướng XHCN.
- Địa vị pháp lý công dân: mở rộng quyền tự do dân chủ công dân.
Ngoài quyền và n/vụ cơ bản của công dân quy định trong HP 1946, HP
1959 quy định 1 số quyền và nghĩa vụ mới của công dân, nhất là những
quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực KT (ví dụ: Công dân có quyền làm việc,
quyền nghỉ ngơi; nghĩa vụ đóng thuế)
- Về tổ chức bộ máy NN: HP 1959 xác định nguyên tắc tập trung dân
chủ trong tổ chức và hoạt động của bộ máy NN.
b) Nhiệm vụ của HP 1959
- Là công cụ pháp lý phục vụ cho nhiệm vụ CM, độc lập dân tộc và chủ
nghĩa XH.
5. Hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của HP 1980
14.1 Sự ra đời
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, nước ta đã hoàn toàn thống
nhất.
Năm 1976 có nhiều sự kiện dẫn đến sự ra đời của HP 1980.
- Đại hội 4 của Đảng: đã đề ra đường lối xây dựng và bảo vệ trong
- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: HP 1980 mở rộng quyền tự
do dân chủ của công dân. Công dân có nhiều quyền mang tính ưu việt
(chữa bệnh, học, chữa bệnh, nhà cửa không mất tiền).
- Tổ chức bộ máy NN: Vẫn xác định nguyên tắc tập trung dân chủ
trong tổ chức và hoạt động của bộ máy NN.
b) Nhiệm vụ của HP 1980
- Đều là công cụ pháp lý phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng là xây dựng
và bảo vệ tổ quốc trong phạm vi cả nước.
6. Hoàn cảnh ra đời, tính chất, nhiệm vụ của HP 1992
15.1 Sự ra đời
- HP 1980 sửa đổi 2 lần:
+ Lần 1: 18.12.1988: Sửa lời nói đầu. Lời nói đầu này không chỉ
đích danh CN đế quốc, CN thực dân, CN bành trướng vì theo chính
sách của Đảng ta tại ĐH 6 là đa dạng hoá và đa phương hoá qhệ quốc
tế sửa đổi.
+ Lần 2: 30.6.1989: Sửa 7 điều: điều 57 (quyền bầu cử và ứng cử.
Theo HP này công dân đủ tuổi 21 có quyền bầu cử và tự ứng cử. HP
80 chỉ cho quyền bầu cử), điều 112, điều 113, điều 115, điều 122, điều
123, điều 125. Cùng với việc sửa 7 điều, QH ra nghị quyết sửa đổi cơ
bản HP 1980 và ban hành HP mới và ra nghị quyết về thành lập uỷ ban
dự thảo sửa đổi HP 1980.
+ QH khoá 8, kỳ họp thứ 11: thông qua ngày 15.4.1992 với tên gọi
là HP nước CH XHCN Việt Nam nhưng theo năm ban hành là HP
1992.
+ HP 1980 thể hiện nhiều điểm duy ý chí và thiếu khách quan của
NN nước ta.
- Chính trị: quá đề cao nhân dân lao động
- Kinh tế: Nước ta là một nước nghèo nàn, lạc hậu nhưng lại chủ
trương xây dựng nền KT có 2 thành phần. Theo quy luật của triết học là
không phù hợp (các nước khác phải XD nền KT nhiều thành phần trước)
hoạt động của bộ máy NN.
b) Nhiệm vụ
- Là công cụ pháp lý phục vụ cho nhiệm vụ CM là thực hiện công cuộc
đổi mới đất nước một cách toàn diện.
7. Các hình thức thực hiện sự lãnh đạo của Đảng CSVN đối với NN
và XH VN.
- Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn định hướng cho sự
ptriển của toàn XH trong từng thời kỳ phát triển trên tất cả các lĩnh vực.
- Đảng vạch ra những phương hướng và ngtắc cơ bản làm cơ sở cho
việc xd và hoàn thiện NN, củng cố và ptriển hệ thống ctrị, thiết lập chế độ
dân chủ XHCN, phát huy quyền làm chủ của ndân.
- Đảng đề ra những quan điểm và chính sách về công tác cán bộ (phát
hiện, lựa chọn, bồi dưỡng đảng viên ưu tú )
- Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình thông qua các đảng viên và tổ
chức Đảng = cách giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiên phong, gương
mẫu
- Đảng thực hiện công tác kiểm tra việc chấp hành và tổ chức thực hiện
đường lối, chính sách, nghị quyết của Đảng đối với các đảng viên, các tổ
chức đảng
Thực chất, sự lãnh đạo của Đảng đối với NN và XH là lãnh đạo chính
trị mang tính định hướng, tạo đk để NN và các tổ chức thành viên của hệ
thống ctrị có cơ sở để chủ động sáng tạo trong tổ chức và hoạt động =
những công cụ, ppháp và biện pháp cụ thể của mình.
8. Ý nghĩa của việc ghi nhận vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN đối
với NN và XH VN theo qui định của Điều 4 HP 1992
Hiến pháp 1980 Hiến pháp 1992
Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên
phong và bộ tham mưu chiến đấu
của giai cấp công nhân Việt Nam,
được vũ trang bằng học thuyết Mác
đáng vào công cuộc bảo vệ hoà bình ở Đông Nam châu á và thế giới.”
Đảng CS là 1 bộ phận cấu thành và là hạt nhân chính trị lãnh đạo của
hệ thống chính trị. Từ khi giành được chính quyền đến nay, qua các giai
đoạn lịch sử khác nhau, Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo chính quyền và
các tổ chức trong hệ thống ctrị.
kca1428168030.doc Trang 4/46
9. Vai trò của MTTQ VN trong quá trình hình thành cơ quan đại
diện (Quốc hội và HĐND)
Điều 9 HP 1992, đã được sửa đổi bổ sung năm 2001: “Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là cơ sở chính trị của chính
quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng
cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây
dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ
lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm
chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động
của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức nhà nước.”
Luật Mặt trậnTổ quốc Việt Nam quy định vai trò của MTTQ VN
trong quá trình hình thành cơ quan đại diện (Quốc hội và HĐND) thể hiện
tại:
Điều 8. Tham gia công tác bầu cử
Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, theo quy
định của pháp luật về bầu cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp
thương, lựa chọn, giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại
biểu Hội đồng nhân dân; tham gia các tổ chức phụ trách bầu cử; phối hợp
với cơ quan nhà nước hữu quan tổ chức Hội nghị cử tri ở nơi cư trú, các
cuộc tiếp xúc giữa cử tri với những người ứng cử; tham gia tuyên truyền,
vận động cử tri thực hiện pháp luật về bầu cử; tham gia giám sát việc bầu
cử đại biểu Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
10. Vai trò của MTTQ VN trong quá trình kiểm tra, giám sát hoạt
động của của các cq NN
nước
4. Tham gia góp ý kiến vào các dự án luật, pháp lệnh, dự thảo nghị
quyết, nghị định và các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khác.
Ngoài ra MTTQ VN còn có trách nhiệm và quyền sau:
Điều 10. Tham gia tố tụng, tuyển chọn Thẩm phán, giới thiệu Hội
thẩm Toà án nhân dân
kca1428168030.doc Trang 5/46
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quyền và trách nhiệm tham gia tố
tụng, tham gia Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán, giới thiệu người đủ tiêu
chuẩn để bầu, cử làm Hội thẩm Toà án nhân dân theo quy định của pháp
luật.
Chế độ sở hữu chủ yếu ở nước ta trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Điều 15 HP 1992 sửa đổi:
Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy
nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với
các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở
hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân
và sở hữu tập thể là nền tảng.
Thừa nhận 3 chế độ sở hữu:
- Sở hữu toàn dân (chủ thể, khách thể, cơ sơ pháp lý hình thành)
- Sở hữu tập thể
- Sở hữu tư nhân
So sánh với HP 80 để thấy được sự kế thừa. HP 80 chỉ có SH toàn
dân, SH tập thể. HP 92 bổ sung SH tư nhân phù hợp với phát triển nền KT
nhiều thành phần. Ngoài ra, quan điểm SH trong từng SH cụ thể cũng có
sự thay đổi.
12. Sở hữu toàn dân .
trọng; cơ sở phục vụ quốc phòng;
hệ thống thông tin liên lạc, phát
thanh, truyền hình, điện ảnh; cơ sở
nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, cơ
sở văn hoá và xã hội cùng các tài
sản khác mà pháp luật quy định là
của Nhà nước - đều thuộc sở hữu
Điều 17
Đất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn
nước, tài nguyên trong lòng đất,
nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa
và vùng trời, phần vốn và tài sản do
Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp,
công trình thuộc các ngành và lĩnh
vực kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa
học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc
phòng, an ninh cùng các tài sản
khác mà pháp luật quy định là của
Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn
dân.
kca1428168030.doc Trang 6/46
toàn dân.
Điều 17 HP 92, khách thể SH toàn dân được mở rộng, tuy nhiên 1 số
khách thể bị thu hẹp: Đất đai bị thu hẹp, thể hiện trong điều 18 HP 1992:
“Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp
luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả; Nhà nước giao đất
cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài; Tổ chức và cá nhân
có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất,
được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của
pháp luật.
- Là các HTX như: HTX nông nghiệp, HTX mua bán, HTX thủ công
nghiệp, tập đoàn SX phạm vi chủ thể rộng hơn chủ thể của sh NN và
ngày càng tăng.
Điều 20 HP 1992: “Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức
hợp tác sản xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên
nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi; Nhà nước tạo điều kiện để
củng cố và mở rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.”
23.2 Khách thể:
Bao gồm: Vốn, những TLSX (trâu, bò, nông cụ, máy móc, nhà
xưởng ) và những tư liệu dùng trong sinh hoạt (nhà ở, CLB, bàn ghế,
ptiện đi lại )
So với khách thể SHNN, phạm vi khách thể SHTT bị hạn chế.
22.3 Cơ sở pháp lý để hình thành SHTN
- Bằng cách đóng góp tự nguyện của các thành viên trong tổ chức.
- Bằng cách nâng cao hiệu quả ktế trong quá trình SXKD, để có tích
lũy, mở rộng SX.
- Bằng bổ sung nhờ sự giúp đỡ của NN và các tổ chức, cá nhân khác.
15. Chính sách của NN đối với thành phần ktế NN theo HP hiện
hành năm 1992.
kca1428168030.doc Trang 7/46
Điều 15 HP 1992 sửa đổi:
Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ trên cơ sở phát huy
nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với
các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở
hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân
và sở hữu tập thể là nền tảng.
Điều 16: Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân
+ Cổ phần hoá.
+ Giao bán khoán, cho thuê.
HP 80: “KT NN giữ vai trò chủ đạo và được ưu tiên phát triển”
(Điều 22, HP 80)
16. Chính sách của NN đối với thành phần ktế tập thể theo HP hiện
hành năm 1992.
Điều 20: “Kinh tế tập thể do công dân góp vốn, góp sức hợp tác sản
xuất, kinh doanh được tổ chức dưới nhiều hình thức trên nguyên tắc tự
nguyện, dân chủ và cùng có lợi; Nhà nước tạo điều kiện để củng cố và mở
rộng các hợp tác xã hoạt động có hiệu quả.”
Việc thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa rất lớn trong thực tế là tạo
ra 1 môi trường mới thuận lợi cho việc củng cố các HTX, có tác dụng phát
huy và kết hợp hài hòa năng lực của cá nhân và sức mạnh tập thể. NN vẫn
khuyến khích, hướng dẫn ktế tập thể đi đúng hướng và hoạt động hiệu
quả.
17. Chính sách của NN đối với thành phần ktế cá thể, tiểu chủ, TB tư
nhân theo HP hiện hành năm 1992.
Điều 16: Mục đích chính sách kinh tế của Nhà nước là làm cho dân
giàu nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần
của nhân dân trên cơ sở phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng
kca1428168030.doc Trang 8/46
của các thành phần kinh tế gồm kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế
cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài dưới nhiều hình thức, thúc đẩy xây dựng cơ sở
vật chất - kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao
lưu với thị trường thế giới.
Điều 21: “Kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân được chọn
hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp,
không bị hạn chế về quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi
cho quốc kế dân sinh; Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển.”
thu hẹp, thể hiện trong điều 18 HP
1992: “ Nhà nước giao đất cho
các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn
định lâu dài;”
21.3 Cơ sở pháp lý để hình thành
SHNN
- Từ tiếp thu những TS của NN,
chế độ cũ để lại.
- Tịch thu, trưng thu những TS
của bọn việt gian, TS mại bản
- Bằng con đường thu thuế;
- Quốc hữu hóa những cơ sở ktế
của địa chủ, pkiến và TS mại bản;
- Trong công cuộc cải tạo
XHCN, các hình thức sở hữu tư
nhân, sh tập thể có thể chuyển hóa
thành sh NN thông qua các hình
thức: Công tư hợp doanh, liên
doanh
- Hình thành từ tích lũy trên cơ
sở bảo toàn vốn, nâng cao NSLĐ,
chất lượng LĐ, làm ăn có lãi
- Bằng sự giúp đỡ ko hoàn lại
của các nước, các tổ chức, cá nhân
trong nước và trên TG
Bao gồm: Vốn, những TLSX
(trâu, bò, nông cụ, máy móc, nhà
xưởng ) và những tư liệu dùng
trong sinh hoạt (nhà ở, CLB, bàn
ghế, ptiện đi lại )
đối hệ thống giáo dục: giáo dục
mầm non, giáo dục phổ thông, giáo
dục chuyên nghiệp, giáo dục đại
học; phát triển các trường dạy
nghề, trường vừa học vừa làm, hệ
thống học tại chức; hoàn thành
thanh toán nạn mù chữ, tăng cường
công tác bổ túc văn hoá, không
ngừng nâng cao trình độ văn hoá
và nghề nghiệp của toàn dân.
- Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí
Minh, gia đình và xã hội cùng với
nhà trường có trách nhiệm giáo
“Điều 35:
- Phát triển giáo dục là quốc sách
hàng đầu;
- Nhà nước và xã hội phát triển
giáo dục nhằm nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân
tài;
- Mục tiêu của giáo dục là hình
thành và bồi dưỡng nhân cách,
phẩm chất và năng lực của công
dân; đào tạo những người lao động
có nghề, năng động và sáng tạo, có
niềm tự hào dân tộc, có đạo đức, có
ý chí vươn lên góp phần làm cho
dân giàu nước mạnh, đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.”
- Nâng cao dân trí vì học vấn là cái gốc của văn hóa.
- Đào tạo nhân lực cho sự nghiệp CN hoá, hiện đại hoá
- Bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
b) Mục tiêu trong GD
Thay đổi so với HP 80 sát với yêu cầu “Hình thành và bồi dưỡng
nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đào tạo những người lao
động có nghề, năng động và sáng tạo ”
c) Chính sách ptriển GD
- Điều 35, 36 HP 1992 “Ptriển giáo dục là quốc sách hàng đầu”
- Điều 36: NN thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục
tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy
chế thi cử và hệ thống văn bằng”.
kca1428168030.doc Trang 10/46
Sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp trồng người, con người là nhân tố
quyết định trong công cuộc cải tạo và xd CNXH NN luôn chú trọng
công tác ptriển và quản lý thống nhất công tác giáo dục và đào tạo.
- NN phát triển cân đối hệ thống giáo dục. (HP 80: phổ cập tiểu học;
HP 92: phổ cập giáo dục TH CS).
- NN đa dạng hoá các hình thức GD, ĐT nhằm tạo đk cho công dân
thực hiện quyền học tập của mình giáo dục là sự nghiệp toàn dân.
- NN ưu tiên cho giáo dục vùng sâu, vùng xa và các vùng đặc biệt khó
khăn.
20. Phân tích mục đích, chính sách phát triển nền khoa học, công
nghệ VN theo HP hiện hành năm 1992.
Hiến pháp 1980 Hiến pháp 1992
Điều 42
Nhà nước đẩy mạnh cách mạng
khoa học - kỹ thuật nhằm phát triển
lực lượng sản xuất, tăng năng suất
lao động, thúc đẩy sự nghiệp công
đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ
khoa học, cán bộ và công nhân kỹ
thuật; khuyến khích nghiên cứu,
sáng chế, phát minh; chú trọng
nghiên cứu ứng dụng; phát huy tinh
thần tự lực tự cường, chủ động,
sáng tạo, đồng thời vận dụng
những thành tựu khoa học và kỹ
thuật tiên tiến của thế giới; tăng
cường hợp tác quốc tế về khoa học,
kỹ thuật.
nâng cao trình độ quản lý, bảo đảm
chất lượng và tốc độ phát triển của
nền kinh tế; góp phần bảo đảm
quốc phòng, an ninh quốc gia."
Điều 38
Nhà nước đầu tư và khuyến khích
tài trợ cho khoa học bằng nhiều
nguồn vốn khác nhau, ưu tiên cho
những hướng khoa học, công nghệ
mũi nhọn; chăm lo đào tạo và sử
dụng hợp lý đội ngũ cán bộ khoa
học, kỹ thuật nhất là những người
có trình độ cao, công nhân lành
nghề và nghệ nhân; tạo điều kiện
để các nhà khoa học sáng tạo và
cống hiến; phát triển nhiều hình
thức tổ chức, hoạt động nghiên cứu
khoa học, gắn nghiên cứu khoa học
với nhu cầu phát triển kinh tế - xã
- Nghĩa vụ của công dân là những quy định PL buộc công dân phải
hành động hoặc ko hành động trong những tr.hợp nhất định mang tính
cưỡng chế NN.
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là những quyền và nghĩa vụ
cơ bản quan trọng nhất được ghi nhận trong HP là cơ sở phát sinh các
quyền và nghĩa vụ khác của công dân.
Đặc điểm quyền và ng.vụ cơ bản công dân trong HP khác với
quyền và nghĩa vụ khác của công dân:
- Hình thức ghi nhận trong HP (VB PL có hiệu lực plý cao nhất), các
quyền khác được ghi nhận trong các VB HP khác.
- Ghi trong HP nên là quyền và nghĩa vụ cơ bản và quan trọng nhất.
- Quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân là căn cứ để phát sinh các quyền
và nghĩa vụ khác
- Là tiêu chí đánh giá mức độ dân chủ của NN đó đến mức độ nào.
Khi nào phát sinh quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:
Điều 49: Công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
người có quốc tịch Việt Nam Khi có quốc tịch trở thành công dân của
1 NN có đủ quyền và nghĩa vụ (đây thể hiện tính nhân đạo, dân chủ).
Khi nào phát sinh quyền và nghĩa vụ khác:
- Khi có sự kiện pháp lý xảy ra và khi người đó trực tiếp tham gia vào
qhệ PL
Lưu ý: Chủ thể của qh HP không nhất thiết phải là người có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ (chỉ cần có năng lực PL)
22. Phân tích nội dung, ý nghĩa nguyên tắc tôn trọng quyền con
người theo quy định tại điều 50 HP 92
“Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các
quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” - Điều 50
HP92
hưởng quyền lợi. quyền lợi và nghĩa vụ luôn phải đi đôi với nhau.
Nhà nước đảm bảo cho công dân những quyền lợi hợp pháp nhưng
mặt khác cũng đòi hỏi mọi công dân phải thực hiện nghiêm chỉnh các
nghĩa vụ của mình.
Trong thực tế ta thường thấy quyền của người này gắn liền với nghĩa
vụ của người khác và ngược lại, nghĩa vụ của người này chính là quyền lợi
của người kia. Vì vậy, khi mỗi người thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ của
mình tức là đảm bảo cho người khác thực hiện quyền lợi của họ. Đối với
môi quan hệ giữa nhà nước và công dân cũng vậy. Nhà nước chỉ có thể
đảm bảo cho các công dân quyền lợi hợp pháp của họ chừng nào mà các
công dân và các tổ chức của họ thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ đối với
nhà nước. Nhà nước ban hành các quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ
của công dân. Công dân trong phạm vi của mình, thực hiện các nghĩa vụ
và hưởng các quyền lợi theo quy định của pháp luật.
24. Phân tích nguyên tắc “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp
luật” trong chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Nhà nước đặt mọi công dân bình đẳng trong những điều kiện hoàn
cảnh như nhau. Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã
hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú,
đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở
lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định
của pháp luật
Nhà nước quy định về bình đẳng giới:
- Công dân nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội và gia đình.
- Nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm
nhân phẩm phụ nữ.
- Lao động nữ và nam việc làm như nhau thì tiền lương ngang nhau.
Lao động nữ có quyền hưởng chế độ thai sản. Phụ nữ là viên chức Nhà
nước và người làm công ăn lương có quyền nghỉ trước và sau khi sinh đẻ
không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ. (Đ.67 HP92)
Không chỉ áp dụng đối với công dân VN còn quy định đối với người
nước ngoài sống trên lãnh thổ VN: Người nước ngoài đấu tranh vì tự do
và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ và hoà bình, hoặc vì sự
nghiệp khoa học mà bị bức hại thì được Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam xem xét việc cho cư trú (Đ82-HP)
Xử lý nghiêm minh những ai lợi dụng quyền tự do dân chủ làm trái PL,
ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của những người khác.
26. Phân tích nội dung quy định “Công dân có quyền tham gia quản
lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả
nước và địa phương, kiến nghị với các cơ quan nhà nước, biểu quyết
khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Đ53-HP)
Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội là một trong những
quyền chính trị cao nhất của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện
quyền làm chủ của công dân, thực hiện phương châm mọi công việc của
Nhà nước của xã hội “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”
Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân thể hiện:
- Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín
ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười
tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều
có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của
pháp luật. Nhờ quyền bầu cử và ứng cử vào QH, HĐND mà công dân có
thể lựa chọn được những người ưu tú nhất, đại diện cho ý chí, nguyện
vọng và quyền lợi của mình vào các cơ quan nhà nước, giải quyết những
vấn đề quan trọng của đất nước, thực hiện quyền làm chủ đất nước, làm
chủ xã hội.
- Công dân có quyền đóng góp ý kiến xây dựng phát triển kinh tế, văn
hóa xã hội, giáo dục
- Công dân có quyền tham gia đóng góp xây dựng HP và PL
- Tham gia kiểm tra giám sát các hoạt động của các cơ quan nhà nước,
liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp
hoặc trong các tổ chức kinh tế khác.
Trên cơ sở tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi, người lao động có thể
góp vốn, góp sức, hợp tác sản xuất kinh doanh trong các tổ chức kinh tế
tập thể dưới nhiều hình thức với quy mô và mức độ tập thể hóa thích hợp.
Kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư nhân được chọn hình thức tổ chức
sản xuất, kinh doanh, được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về
quy mô hoạt động trong những ngành, nghề có lợi cho quốc kế dân sinh.
Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển.
29. Tại sao điều 59 HP92 quy định “Học tập là quyền và nghĩa vụ của
công dân”
Bên cạnh quyền lao động, Hiến pháp xác lập quyền học tập của công
dân. Cũng như lao động, học tập vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của công
dân: Điều 59 HP92 quy định rõ “Học tập là quyền và nghĩa vụ của công
dân”.
Ngay từ khi nước nhà mới dành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã quan tâm đến vấn đề nâng cao dân trí. Người đã xác định rằng học tập
là quyền của mỗi công dân của một nhà nước độc lập, đồng thời nó cũng
phải là bổn phận của mỗi người. Người đã viết: “Muốn giữ vững nền độc
lập, muốn cho dân mạnh, nước giàu, mọ người Việt Nam phải hiểu biết
quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để tham
gian vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết
chữ quốc ngữ”.
Xuất phát từ tinh thần đó, Hồ Chủ tịch đã khẳng định, muốn xây dựng
CNXH phải có con người XHCN, vì vậy cách mạng chính trị - tư tưởng là
một trong ba nội dung của cách mạng XHCN. Chính sách phát triển nền
giáo dục Việt nam luôn thể hiện nhất quán tư tưởng vì con người, giải
phóng con người, tạo điều kiện để mỗi người có thể chủ động làm chủ bản
than và làm chủ xã hội bằng năng lực và trí tuệ của mình.
- Như vậy, nâng cao dân trí là mục đích đầu tiên của nền giáo dục VN,
tình theo quy định của pháp luật” (Điều 69 – Hiến pháp 1992)
Điều thứ 10
Công dân Việt Nam có quyền:
- Tự do ngôn luận
- Tự do xuất bản
- Tự do tổ chức và hội họp
- Tự do tín ngưỡng
- Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.
Điều 25 – Hiến pháp 1959
Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà có các quyền tự do ngôn
luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều
kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó.
Điều 67 – Hiến pháp 1980
Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp,
tự do lập hội, tự do biểu tình, phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và
của nhân dân.
Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền
đó.
Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của
Nhà nước và của nhân dân.
Điều 69 – Hiến pháp 1992, Hiến pháp 1992 sửa đổi
Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được
thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.
Quyền hội họp đã được quy định ngay từ hiến pháp 1946, trong Điều
10 Hiến pháp 1946. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, nhân dân Việt
Nam được đảm bảo các quyền tự do, dân chủ. Quyền này được bổ sung
thêm quyền lập hội và biểu tình trong Điều 25 Hiến pháp 1959 và được
phát huy trong Điều 67 Hiến pháp 1980 và Điều 69 Hiến pháp 1992 và
Hiến pháp 1992 sửa đổi. Đây là một trong những quyền cơ bản của công
dân thuộc nhóm quyền tự do dân chủ , tự do cá nhân đồng thời cũng là
Quyền bầu cử phổ thông của nhà nước XHCN VN khác với quyền
bầu cử phổ thông của nhà nước tư sản không những bằng việc không quy
định hạn chế tiêu chuẩn người tham gia bầu cử, trừ việc quy định hạn chế
ở dưới mức tuổi trường thành mà còn quy định sự tham gia bầu cử của tất
cảc các quân nhân đang tại ngũ. Hạn chế việc tham gia của quân đội vào
các cuộc bầu cử là đặc trưng của chế độ tư bản (quân đội không tham gia
chính trị).
Quyền bầu cử của công dân được các cơ quan phụ trách bầu cử ghi
nhận trong danh sách cử tri. Tất cả mọi công dân có đủ điều kiện theo quy
định của pháp luật từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị pháp luật tước quyền bầu
cử đều được ghi tên trong danh sách cử tri.
c) Biểu hiện của nguyên tắc trong luật bầu cử:
Để đảm bảo nguyên tắc bầu cử phổ thông, Luật bầu cử quy định hàng
loạt biện pháp nhằm khắc phục sự sai sót trong quá trình lập danh sách cử
tri:
- Việc niêm yết danh sách cử tri bằng các phương tiện thông tin đại
chúng: Điều 25 Luật bầu cử: “Chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày bầu
cử, cơ quan lập danh sách cử tri phải niêm yết danh sách đó tại trụ sở Uỷ
ban nhân dân xã, phường, thị trấn và những nơi công cộng của khu vực
bỏ phiếu, đồng thời thông báo rộng rãi việc niêm yết để nhân dân kiểm tra
danh sách cử tri.”
- Việc công dân có quyền kiểm tra, khiếu nại về cử tri và danh sách cử
tri: Điều 26 – Luật bầu cử: “Khi kiểm tra danh sách cử tri, nếu thấy có sai
sót thì trong thời hạn hai mươi ngày kể từ ngày niêm yết, mọi người có
quyền khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị bằng miệng hoặc bằng văn bản với
cơ quan lập danh sách cử tri. Cơ quan lập danh sách cử tri phải tiếp nhận
và ghi vào sổ những khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị đó. Trong thời hạn
ba ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, tố cáo hoặc kiến nghị, cơ quan
lập danh sách cử tri phải giải quyết và thông báo cho người khiếu nại, tố
cáo hoặc kiến nghị biết kết quả giải quyết.”
tên của ứng viên đó lên phiếu bầu…
34. Phân tích nguyên tắc bầu cử bình đẳng theo quy định của pháp
luật hiện hành.
a) Nội dung:
Các cử tri được tham gia vào việc bầu cử, có quyền và nghĩa vụ như
nhau, các ứng cử viên được giới thiệu ra ứng cử theo tỷ lệ như nhau, kết
quả bầu chỉ phụ thuộc vào số phiếu mà cử tri bỏ phiếu cho mỗi ứng cử
viên, là cơ sở để xác định kết quả trúng cử.
b) Ý nghĩa:
Đây là nguyên tắc đòi hỏi phải tuân thủ trong suốt quá trình tiến hành
bầu cử từ khi lập danh sách cử tri cho đến khi kết thúc, tuyên bố kết quả
bầu cử. Mức độ dân chủ của cuộc bầu cử phụ thuộc chủ yếu vào tiến trình
thực hiện nguyên tắc này.
Trong một chừng mực nào đó, việc thực hiện nguyên tắc bỏ phiếu kín, bầu
cử phổ thông cúng như nguyên tắc bầu cử trực tiếp cũng là để thực hiện
nguyên tắc bình đẳng và ngược lại.
c) Biểu hiện trong Luật bầu cử:
Để đảm bảo cho nguyên tắc này, Luật bầu cử quy định:
- Mỗi một cử tri được phát một phiếu bầu, giá trị của mỗi phiếu bầu là
như nhau;
- Địa vị xã hội, tài sản…của cử tri không có ảnh hưởng gì đến giá trị
của phiếu bầu. Không vì địa vị xã hội của mình mà cử tri không chấp hành
đầy đủ các quy định về bầu cử;
- Mỗi cử tri chỉ được ghi tên một lần trong danh sách cử tri, chỉ được
lập danh sách ứng cử viên ở một đơn vị bầu cử trong một cuộc bầu cử.
Nguyên tắc này được bắt đầu bằng chia các đơn vị bầu cử cho các địa
phương. Việc chia đơn vị bầu cử phải căn cứ vào dân số các địa phương
và tổng số các đại biểu phải bầu. Mỗi đơn vị bầu cử được bầu ra số lượng
đại biểu tỷ lệ thuận với số dân của mình. Việc ấn định số lượng đại biểu
phải bầu cho mỗi đơn vị dựa trên định mức bầu cử và số lượng cử tri của
đổi phiếu bầu khác.
36. Những điều kiện thực hiện quyền bầu cử của công dân theo quy
định của pháp luật hiện hành
Quyền bầu cử là những quy định của pháp luật về khả năng công
dân được quyền lựa chọn đại biểu của mình ở cơ quan quyền lực nhà
nước.
Căn cứ vào Điều 54 HP nước CHXHCN Việt nam năm 1992, được
sửa đổi bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của
QH khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Luật Bầu cử ĐBQH được QH thông qua ngày
15/4/1997;
Căn cứ Luật của QH số 31/2001/QH10 ngày 25/12/2001 về sửa đổi
bổ sung một số điều của Luật bầu cử ĐBQH. Điều 23 quy định về điều
kiện thực hiện quyền bầu cử của công dân như sau:
Điều kiện cần:
− Là Công dân Việt Nam
− Đủ 18 tuổi trở lên.
Những trường hợp không được tham gia bầu cử:
− Những người mất trí không tự chủ được suy nghĩ và hành động
của mình, không phân biệt đúng, sai, có những rối loạn về mặt
nhận thức;
− Những người bị giam để thi hành án phạt tù;
− Những người đang bị tạm giam theo quyết định của toà án hoặc
theo quyết định hay phê chuẩn của viện kiểm sát
37. Những điều kiện thực hiện quyền ứng cử của công dân theo quy
định của pháp luật hiện hành
Quyền ứng cử là những quy định của pháp luật về khả năng công
dân thực hiện nguyện vọng của mình được bầu làm đại biểu ở cơ quan
quyền lực nhà nước.
Căn cứ vào Điều 54 HP nước CHXHCN Việt nam năm 1992, được
Đại biểu Quốc hội có những tiêu chuẩn sau đây:
1- Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, văn minh;
2- Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liên chính, chí công vô tư,
gương mẫu chấp hành pháp luật; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện
quan liệu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp
luật;
3- Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội,
tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước;
4- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân,
được nhân dân tín nhiệm;
5- Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.
- Được đề cử: Được cơ quan tổ chức đơn vị giới thiệu ra ứng cử. Trên
cơ sở đó Mặt trận tổ quốc mới hiệp thương. Đoàn chủ tịch UBND Mặt
trận tổ quốc VN hiệp thương những người ở TW.
- Ban thường trực UB MTTQ cấp tỉnh giới thiệu người ở địa phương ra
ứng cử.
- Tự ứng cử: phải lấy ý kiến của của cử tri nơi người đó cư trú và của
cơ quan, đơn vị công tác (nếu có).
- Khi đưa ra bầu phải đạt quá bán số phiếu hợp lệ và nhiều phiếu hơn
từ trên xuống (đa số tuyệt đối)
- Được UB thẩm tra tư cách đại biểu ra nghị quyết công nhận đủ tư
cách đại biểu Quốc hội.
Tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội, Quốc hội đã bầu ra UB thẩm tra tư
cách ĐBQH. Căn cứ vào kết quả điều tra của UB này, Quốc hội phê chuẩn
ĐBQH.
39. Phân tích nguyên tắc Đảng lãnh đạo đối với các cơ quan Nhà
nước
Đảng có phẩm chất và năng lực giới thiệu với các cơ quan nhà nước, các
tổ chức chính trị - xã hội thông qua cơ chế bầu cử, tuyển chọn để bố trí
vào làm việc trong các cơ quan đó.
- Đảng thực hiện sự lãnh đạo của mình thông qua các đảng viên và tổ
chức Đảng bằng các giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiên phong, gương
mẫu, qua đó tập hợp, giáo dục và động viên quần chúng tham gia quản lý
nhà nước, quản lý xã hội, ủng hộ và tích cực thực hiện đường lối, chính
sách của Đảng, tôn trọng pháp luật của Nhà nước.
- Đảng thực hiện công tác kiểm tra việc chấp hành và tổ chức thực hiện
đường lối chính sách, nghị quyết của Đảng đối với các Đảng viên, các tổ
chức Đảng, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội nhằm phát hiện và
uốn nắn kịp thời những sai lầm lệch lạc.
Về thực chất sự lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo chính trị mang tính
định hướng, tạo điều kiện để Nhà nước và các tổ chức thành viên của hệ
thống chính trị có thể chủ động sáng tạo trong tổ chức và hoạt động.
b) Phương pháp lãnh đạo của Đảng:
Phương pháp dân chủ, giáo dục thuyết phục và dựa vào uy tín và
năng lực của các đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng.
40. Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt
động của Quốc hội theo quy định của pháp luật hiện hành.
Nguyên tắc này được quy định ngay từ Hiến pháp 1959 (Điều 4),
Hiến pháp 1980 (Điều 6) và hiện nay được quy định tại Điều 6 Hiến pháp
1992: ”Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước
đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.”
Điều 4 – Hiến pháp 1959
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan Nhà nước khác
đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ.
Điều 6 – Hiến pháp 1980
Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan khác của Nhà
nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước ta nhưng
những vấn đề quan trọng trước khi Quốc hội thảo luận và thông qua phải
được đưa ra trưng cầu ý kiến của nhân dân (như hiến pháp, các bộ luật,
luật…). Qua đó có quyết định đúng đắn, phù hợp lòng dân.
- Những vấn đề cơ bản, quan trọng thuộc thẩm quyền của các cơ quan
nhà nước được thảo luận, bàn bạc và quyết định theo đa số.
50. Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt
động của chính phủ theo quy định của Pháp luật hiện hành?
Điều 6:
- Chính phủ tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Hiệu quả hoạt động của Chính phủ được bảo đảm bằng hiệu quả hoạt
động của tập thể Chính phủ, của Thủ tướng Chính phủ và từng thành viên
Chính phủ, thông qua 3 hình thức: thông qua phiên họp chính phủ, thông
qua hoạt động của thủ tướng chính phủ và thông qua hoạt động của các
thành viên chính phủ thể hiện ở các điểm sau:
a) Phiên họp Chính chủ:
- CP họp thường kỳ ít nhất mỗi tháng 1 lần, ngoài ra CP có thể họp bất
thường (1/3 tổng số thành viên CP yêu cầu hoặc theo QĐ của mình TT
triệu tập phiên họp bất thường). Tại các phiên họp này, CP bàn bạc tập
thể, quyết định theo đa số những vấn đề thuộc NV, quyền hạn của mình.
- Những VĐ sau đây phải nhất thiết thực hiện tại các phiên họp:
+ Chương trình hoạt động hàng năm của CP,
+ Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm và cả nhiệm
kỳ, các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trình Quốc hội và Uỷ
ban thường vụ Quốc hội;
+ Các nghị quyết, nghị định của Chính phủ;
+ Dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
dài hạn, năm năm, hàng năm, các công trình quan trọng;
+ Dự toán ngân sách nhà nước, dự kiến phân bổ ngân sách trung
ương và mức bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa
báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch
nước Thể hiện tính tập trung.
c) Thông qua hoạt động của các Bộ trưởng và các thành viên khác
thuộc Cphủ (Điều 116 HP 1992 sửa đổi; Điều 23 Luật Tổ chức Cphủ)
- Phó TT giúp TT làm nhiệm vụ theo sự phân công của TT. Phó TT
chịu trách nhiệm trước TT, trước Qhội về nhiệm vụ được giao.
- Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là người đứng đầu và
lãnh đạo một bộ, cơ quan ngang bộ, phụ trách một số công tác của Chính
phủ; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng, trước Quốc hội về quản lý nhà
nước ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước hoặc về công tác được giao
phụ trách Thể hiện tính tập trung.
51. Phân tích nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt
động của Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân theo quy định
của Pháp luật hiện hành?
51.1 Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Tòa
án:
- Toà án xét xử tập thể và quyết định theo đa số - tính dân chủ.
- TAND chịu trách nhiệm báo cáo trước cơ quan quyền lực cùng cấp
Chánh án Toà án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm
và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.
Chánh án Toà án nhân dân địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công
tác trước Hội đồng nhân dân - Tính tập trung.
- Thực hiện chế độ bổ nhiệm thẩm phán ở tất cả các cấp - tính tập trung
51.2 Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của
VKSND:
- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối chịu trách nhiệm và báo cáo
công tác trước Quốc hội về toàn bộ hoạt động của ngành kiểm sát; trong
thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác
trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Viện kiểm sát nhân
các KSV viện KSND các cấp.
52. Phân tích nguyên tắc bình đẳng và đoàn kết dân tộc trong tổ chức
và hoạt động của bộ máy nhà nước? (Điều 5 - HP 1992)
- Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà nước thống
nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
- Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa
các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
- Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân
tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt
đẹp của mình.
- Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước
nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.
- Quốc hội có hội đồng dân tộc giúp QH thực hiện các vấn đề dân tộc
ngang hàng với các UB khác của Quốc hội. Hội đồng dân tộc có chức
năng đặc biệt: các cq NN khi ban hành các văn bản PL liên quan đến dân
tộc phải lấy ý kiến của hội đồng dân tộc.
- Tên gọi hội đồng dân tộc: đề cao chính sách dân tộc.
- Trong cơ cấu QH: tỷ lệ đồng bào dân tộc chiếm hơn 30%.
- Trong hoạt động của các cq NN có ưu tiên đến các dân tộc
- Lĩnh vực giáo dục: Ưu tiên các dân tộc
53. Phân tích quy định “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của
nhân dân” (Điều 83 HP)
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền
lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp.
Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối
ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước,
những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước,
về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân.
Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động
định của PL hiện hành?
- Lập hiến:
+ QH ban hành hoặc sửa đổi hiến pháp
+ QH làm hiến pháp thông qua ủy ban dự thảo hiến pháp và ủy ban
dự thảo sửa đổi hiến pháp
- Lập Pháp:
+ QH làm luật và sửa đổi luật; chương trình xây dựng luật và pháp
lệnh. QH ban hành luật nhưng không dự thảo luật.
+ Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và
các Uỷ ban của Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức
thành viên của Mặt trận có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội.
+ Đại biểu Quốc hội có quyền trình kiến nghị về luật và dự án luật
ra trước Quốc hội.
56. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt
động của các cơ quan Nhà nước bằng những hình thức cụ thể nào?
- QH thực hiện quyền giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của NN với 3
hình thức:
+ Xem xét báo cáo công tác của các chủ thể: CTN, UBTVQH, CP,
TANDTC, VKSNDTC.
+ Giám sát trực tiếp hoạt động của các cơ quan của QH:
UBTVQH, Hội đồng dân tộc và 9 Ủy ban của QH (UB chuyên trách:
UB pháp luật; UB tư pháp; UB ktế; UB tài chính, ngân sách; UB văn
hóa GD thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; UB quốc phòng và an
ninh; UB về các vấn đề XH; UB KH công nghệ và môi trường; UB đối
ngoại của Qhội).
+ Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch
Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của
Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao.