315 Hoàn thiện chính sách marketing của Trung tâm du lịch Lữ hành Phù Đổng thuộc Công ty thương mại & dịch vụ Thành Long - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay Du lịch Việt Nam đang từng bước phát triển và nhanh chóng
từng bước hoà nhập vào nền kinh tế chung của cả nước, cũng như từng bước
hoà nhập vào sự phát triển chung của toàn ngành Du lịch thế Giới. Trong đó
doanh nghiệp Lữ hành đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình đó. Doanh
nghiệp lữ hành với tư cách là chiếc cầu nối giữa cung và cầu trong du lịch,
là loại hình doanh nghiệp đặc biệt trở thành yếu tố nối giữa cung và cầu
trong du lịch, là loại hình doanh nghiệp đặc biệt trở thành yếu tố quan trọng
không thể thiếu trong sự phát triển du lịch hiện đại. Trung tâm kinh doanh
chủ yếu trong lĩnh vực tổ chức, xây dựng, bán và thưch hiện các chương
trình du lịch trọn gói cho khách du lịch. Ngoài ra các công ty Lữ hành còn
có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh tổng hợp khác như mua vé máy
bay, vé tầu thuê xe, visa…
Đợt thực tập tại Trung tâm Du lịch Lữ hành Phù Đồng đã giúp em
năm vững hơn các lý thuyết đã học, được đối diện và tiếp xúc với phong các
làm việc cảu các bộ phận trong Trung tâm lữ hành đặc biệt là bộ phận
marketing, từ đó em đã có ý tưởng muốn đóng góp chút hiểu biết của mình
cho Trung tâm. Trong quá trình học và thực tập em nhận thấy rõ vai trò của
bộ phận marketing trong chiến lược kinh doanh của Trung tâm là yếu tố
quyết định đến sự thành công hay thất bại của Trung tâm công tác với thực
trạng của Trung tâm Em đã quyết định chọn và viết về đề tài sau:
" Những giải pháp nhăm hoàn thiện chính sách marketing của
Trung tâm du lịch Lữ hành Phù Đổng thuộc Công ty thương mại và
dịch vụ Thành Long"

1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
I. HOẠT ĐỘNG MARKETING
1.1. Khái niệm marketing
Chúng ta cũng biết có nhiều quan niệm hoạt động marketing là hoạt
động bán hàng. Nhưng thực ra hoạt động bán hàng là một khía cạnh của

dịch và các
mối quan hệ
Thị
trường
Marketing
và người
làm
marketing
"Marketing là sự hoàn thiện, hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm vào
một luồng sản xuất, dịch vụ để đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu
thụ".( Th.S.Trần Ngọc Nam và Trần Huy Khánh, Năm 2005)
Dẫn đến marketing là phương pháp, công cụ, quản lý hiện đại và
không thể thiếu của công ty trong điều kiện nền kinh tế hiện đại.
Thị trường là khâu quan trọng nhất, công ty cần bán những cái mà thị
trường cần chứ không phải là bán những cái đã có sẵn, bán cái thị trường
cần trước bán cái ta cần sau.
Marketing là một quá trình mà trong đó phải sử dụng một cách tổng
hợp hệ thống các chính sách, biện pháp và nghệ thuật trong kinh doanh để
đem lại hiệu quả tốt nhất, marketing có mối quan hệ mật thiết với thị trường.
Vì vậy thị trường biến động thì dẫn đến marketing biến động. Nó thực sự trở
thành marketing khi tất cả các chính sách, nghệ thuật phương pháp ấy thực
sự trở thành công cụ của công ty áp dụng trong thực tế. Marketing vận dụng
trong nền kinh tế thị trường với đa thành phần kinh tế, tự do cạnh tranh quá
trình trao đổi trên thị trường và lợi nhuận thu được là các yếu tố không thể
thiếu để vận dụng các biện pháp marketing vào thực tiễn.
Kinh doanh lữ hành là một trong những yếu tố quan trọng không thể
thiếu được để tạo nên ngành du lịch.
Với vai trò là một bộ phận của ngành du lịch nên việc vận dụng
marketing trong du lịch cũng bao hàm cả việc vận dụng marketing trong
kinh doanh lữ hành. Nghiên cứu khái niệm marketing du lịch cũng đồng

trò là chiếc cầu nối quan trọng của khách du lịch và sản phẩm du lịch.
Vận dụng marketing vào thực tiễn nhằm thoả mãn nhu cầu khách để
thu được lợi nhuận. Do đó vận dụng vào kinh doanh lữ hành ta có
thể hiểu
marketing trong kinh doanh lữ hành là một chức năng quản lý của
công ty lữ hành nhằm làm thế nào cung ứng các chương trình du lịch và các
sản phẩm khác của công ty nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng và
mang lại lợi nhuận tối đa cho công ty lữ hành đó.

4
1.2. Marketing hỗn hợp
1.2.1.Khái niêm marketing hỗn hợp( marketing- mix).
Trong luận án tiến sĩ về "Dynamique du Tourisme et Marketing" của
Schawars, ông đã đưa ra một định nghĩa marketing hỗn hợp (marketing -
mix) như sau:
"Marketing hỗn hợp là tập hợp các công cụ về Marketing mà một
công ty sử dụng để đạt được những mục tiêu trên thị trường mục tiêu".
(Th.s.Trần Ngọc Nam và Trần Huy Khánh, Năm 2005).
Marketing hỗn hợp hay marketing - mix gồm bốn thành phần căn bản
dựa trên 4P:
Sản phẩm: Product
Giá cả:Price
Phân phối: Place
Chiêu thị hoặc xúc tiến bán hàng: Promotion
Trong Marketing du lịch, 4P được hiểu như sau:
Con người (khách hàng, nhân viên): People
Bao trọn gói: Packaging
Hợp tác giữa các đơn vị cung ứng, giữa khách hàng và nhân viên:
Partnersship
Chương trình kết hợp du lịch: Programming

+ Kênh.
- Thay đổi phương thức giao hàng hoặc phân phối
- Thay đổi dịch vụ
- Thay đổi kênh phân phối
+ Con người.
- Bổ xung nhân lực có đủ kiến thức, kinh nghiệm cần thiết mà công
việc đòi hỏi.
- Huấn luyện bổ sung để nâng cao chuyên môn và kiến thức sản phẩm
khi có sản phẩm mới

6
- Chuẩn hoá dịch vụ khách hàng
- Đánh giá năng lực và hiệu quả công việc thông qua nhận xét của
khách hàng và mức độ hài lòng.
+ Quy trình:
- áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như: ISO… nhằm chuẩn hoá quy
trình và tăng hiệu quả.
- Cải tiến, rút ngắn quy trình nhằm tạo ra tiện lơi cho khách hàng như
quy trình đặt hàng, quy trình thu tiền, quy trình nhận hàng…
- Đầu tư thiết bị, công nghệ mới, thải hồi thiết bị công nghệ cũ lạc
hậu.
+ Chứng minh cụ thể
Các cơ sở hạ tầng như trụ sở, văn phòng giao dịch Trung tâm dịch vụ
khách hàng, Trung tâm bảo hành điểm phục vụ.
II.TẦM QUAN TRONG CỦA HOẠT ĐỘNG MARKETING ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA TRUNG TÂM.
2.1. Quan điểm Marketing
Các hoạt động marketing phải được tiến hành trong khuôn khổ của
một triết lý đã được cân nhắc kỹ về marketing hữu hiệu, có hiệu quả và có
trách nhiệm nỗ lực đạt được những kết quả mong muốn trong việc trao đổi

máy tập, tập trung vào những sản phẩm hiện có của công ty và đòi hỏi phải
có những biện pháp tiêu thụ công thẳng và khuyến mại để đảm bảo bán hàng
có lợi. Quan điểm markting thì nhìn triển vọng từ ngoài vào trong. Nó xuất
phát từ thị trường được ngoài vào trong. Nó xuất phát từ thị trường được xác
định rõ ràng, tập trung vào những nhu cầu của khách hàng, phối hợp tất cả
những hoạt động nào có tác động đến khách hàng và tạo ra lợi nhuận thông
qua việc tạo ra thoả mãn cho khách hàng.
Các chuyên gia marketing về quan điểm kinh doanh được thể hiện
như sau:
"Tài sản của công ty sẽ chẳng có mấy giá trị khi không có khách
hàng"

8
" Vì vậy nhiệm vụ then chốt của công ty là phải thu hút và giữ khách
hàng".
"Khách hàng bị thu hút bằng những hàng hoá có ưu thế cạnh tranh và
bị giữ chân bằng cách làm cho họ hài lòng".
"Nhiệm vụ của marketing là phát triển những hàng hoá tốt hơn và
đảm bảo thoả mãn khách hàng".
"Kết quả công tác của các bộ phận khác đều có ảnh hưởng đến mức
độ thoả mãn của khách hàng".
"Marketing còn tác động đến những bộ phận khách hàng để họ cùng
hợp tác trong việc đảm bảo thoả mãn khách hàng".(Philip Kotler, Năm2003)
2.2.Tầm quan trọng của các chiến lược marketing.
2.2.1. Marketing là thiết yếu với doanh nghiệp.
Marketing không chỉ là một chức năng trong hoạt động kinh doanh,
nó là một triết lý dẫn dắt toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong việc
phát hiện ra, đáp ứng và làm thoả mãn cho nhu cầu của khách hàng.
Doanh nghiệp cần phải biết làm thế nào để xác định và phân khúc thị
trường, xây dựng giải pháp hấp dẫn để chào cho khách hàng và xây dựng

đến, mới chính là điều cốt yếu".
sản xuất ra nhiều sản phẩm bia nổi tiếng, hãng Foster xuất phát điểm
từ một xưởng sản xuất bia nhỏ, không mấy ai biết tới và cho đến hôm nay,
Foster đã là một trong những hãng bia hàng đầu thế giới. Hiện sản phẩm bia,
rượu của Foster đang dần chiếm lĩnh nhiều thị trường lớn tại châu Âu và
châu Á.
Nói đến những thành công này, Ted Kunkel cho biết 3 bí quyết thành
công của hãng là: Một là dựa vào chất lượng sản phẩm. Hai là tinh thần
phục vụ. Ba là cách thức tuyên truyền độc đáo của hãng tới người tiêu dùng.
Trong đó, yếu tố thứ ba là hết sức quan trọng.
Có thể lấy việc Foster thâm nhập vào thị trường Thiên Tân rộng lớn
của Trung Quốc làm ví dụ.Thiên Tân là một thành phố lớn của Trung
Quốc.Việc gây ảnh hưởng lên các vùng ngoại ô thành phố là khá quan trọng,

10
đồng thời nếu nắm bắt được thị trường của thành phố Thiên Tân cũng đồng
nghĩa với việc chiếm được thị trường của các vùng xung quanh Bắc Kinh,
Trung Quốc. Đây được coi như một ảnh hưởng dây chuyền đến nhu cầu của
thi trường.
Năm 1997, lần đầu tiên đem sản phẩm giới thiệu tại Thiên Tân với
hương vị quyến rũ và chất lượng cao, nhưng không ngờ sản phẩm bia của
Foster lại bị đóng băng, được rất ít người chú ý tới. Nguyên nhân chỉ vì tấm
biển hiệu của một số cửa hàng bán bia Foster chỉ vỏn vẹn ba chữ" Hãng bia
Foster" khiến mọi người nhìn vào ngỡ rằng đó là một tấm biển hiệu của
công ty nhỏ.
Ted Kunkel trong lần đó hiểu rằng: Sản phẩm có tốt đến mấy thì phải
quảng cáo thì khách hàng mới biết được và việc đàu tiên là đánh động đế
người tiêu dùng bằng một chiến dịch tuyên truyền rộng lớn. Đích thân Ted
Kunkel cùng một nhóm nhân viên đưa sản phẩm với tinh thần phục vụ chân
thành, nhiệt tình theo chủ trương "Bất cứ vận chuyển, Foster xin hoàn toàn

Năm 1999, Đại hội thể thao toàn quốc được tổ chức tại Bắc Kinh.
Đây là cơ hội hiếm có mà Foster không thể bỏ lỡ. Ngay lập tức Foster đầu tư
60.000 USD để tài trợ cuộc triển lãm dụng cụ thể thao tại Bắc Kinh. Tại
cuộc triển lãm, Foster cung cấp bia và nươc uống miễn phí cho khách. Với
chất lượng hàng đầu, qua cuộc triển lãm, các sản phẩm bia của Foster được
người dân thành phố Bắc Kinh rất ưa chuộng. Bên cạnh đó, trong lễ bế mạc
cuộc triển lãm, Foster còn tiến hành một buổi lễ nhỏ với nghi thức chúc
mừng Ban tổ chức. Việc làm này càng khiến hình ảnh Foster thêm sâu sắc
trong con mắt người tiêu dùng Trung Quốc.
Những sách lược quảng bá, tuyên truyền hình ảnh của Foster luôn
hiệu quả theo tiêu chí gắn liền với người tiêu dùng đã góp phần thúc đẩy
mạnh mẽ thương hiệu Foster trên thị trường. Thử hỏi rằng, nếu không có
những chiến lược marketing như trên thì liệu sản phẩm bia Foster có được
thương hiệu nổi tiếng như ngày hôm nay ?

12
III. MỘT SỐ NHÂN TỐ CHỦ YẾU ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHÍNH SÁCH
MARKETING LỮ HÀNH DU LỊCH
3.1. Nhân tố thuộc môi trường vĩ mô.
Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô gồm rất nhiều nhân tố: kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội, pháp luật… tồn tại khách quan xung quanh công
ty. Kinh doanh du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp liên quan đến rất
nhiều bộ phận kinh tế khác trong toàn ngành kinh tế và xã hội. Vì vậy các
yếu tố thuộc môi trường bên ngoài có ảnh hưởng rất lớn, đến sự tồn tại và
phát triển của công ty. Trong phạm vi bài viết chúng ta chỉ đến một số nhóm
yếu tố:
3.1.1. Yếu tố kinh tế
Môi trường kinh tế phản ánh qua tốc độ tăng trưởng kinh tế của ngành
và của toàn ngành nói chung về cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng. Tình
hình đó có thể tạo nên tính hấp dẫn về thị trường và sức mua khác nhau của

ứng phó với những diễn biến bất thường và tháo gỡ khó khăn của Chính phủ
và các ngành kinh tế, nên tình hình kinh tế và xã hội Việt Nam không những
trụ vững mà còn tiếp tục phát triển và nâng cao. Kinh tế nước ta phát triển,
tổng thu ngân sách nhà nước không ngừng củng cố tăng lên, tổng số vốn đầu
tư vào nước ta cũng tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể so với
trước nên nhu cầu du lịch ngày càng tăng đây là biểu hiện của sự thuận lợi
cho toàn ngành du lịch.
Như vậy chúng ta có thể khẳng được rằng nền kinh tế Việt Nam đã và
đang trong đà phát triển, mức sống của người dân ngày càng được hoàn
thiện và nâng cao. Theo A. Maslow, "Khi nhu cầu cơ bản như ăn, ở, mặc
được đáp ứng thì người ta sẽ nảy sinh những nhu cầu khác ở cấp bậc cao
hơn như đi lại và nhu cầu được giao tiếp, thưởng thức cái đẹp". Người dân
Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật này. Vì vậy nền kinh tế có sự thay
đổi theo chiều hướng tích cực thì dẫn đến hoạt động du lịch của người dân
Việt Nam cũng có xu hướng tăng lên. Bên cạnh đó nền kinh tế phát triển sẽ
thúc đẩy quá trình hiện đại hoá các hệ thống cơ sở hạ tầng của đất nước, quá

14
trình quy hoạch trùng tu tôn tạo di tích lịch sử, xây dựng các khu vui chơi,
giải trí. Ngày nay các Tổ chức, Công ty, Doanh nghiệp đã ý thức được rằng
muốn tồn tại và phát triển cần có sự tìm hiểu, khảo sát, nghiên cứu, tìm kiếm
các đối tác trong nước và ngoài nước. Để tìm kiếm được các đối tác ở nước
ngoài các công ty, doanh nghiệp lại phải tìm đến các tổ chức du lịch để yêu
cầu giúp đỡ việc liên hệ. Các doanh nghiệp thường kết hợp việc đi du lịch để
tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu cũng như tìm kiếm đối tác, do vậy chính các
doanh nghiệp này đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành du lịch phát triển.
3.1.2. Yếu tố chính trị pháp luật
Môi trường chính trị là một yếu tố ảnh hưởng mạnh đến các quyết
định marketing của doanh nghiệp. Môi trường chính trị bao gồm hệ thống
luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của Nhà nước, tổ chức

hướng phát triển du lịch của Đảng và Nhà nước. Đã thiết lập và mở rộng
quan hệ hợp tác du lịch với một số nước châu Á như: Trung Quốc, tăng
cường hợp tác với Lào, xây dựng mối quan hệ với Campuchia, phát triển
quan hệ hợp tác du lịch và với các thành viên trong khối ASEAN, phát triển
quan hệ hợp tác du lịch với Mỹ, mở rộng hợp tác với các tổ chức quốc tế và
khu vực như WTO, tích cực tham gia chương trình 3 nước Việt Nam - Lào -
Thái Lan. Hoạt động hợp tác quốc tế mang lại hiệu quả thiết thực: tranh thủ
được nguồn vốn, kinh nghiệm, công nghệ, nguồn khách, đẩy mạnh quảng bá
du lịch và hội nhập quốc tế đóng góp phần thực hiện chương trình kế hoạch
của ngành du lịch. Vai trò và vị thế của du lịch Việt Nam ngày càng được
khẳng định trên thương trường quốc tế và góp phần thúc đẩy các mối quan
hệ giao lưu kinh tế, văn hoá với các nước. Chính vì lý do trên mà từ năm
1999 đã có hàng loạt chính sách thay đổi đáng kể trong việc quản lý du lịch
Nhà nước như ban hành pháp lệnh du lịch, Ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch
được thành lập hoàn thiện thủ tục cấp visa, xuất nhập cảnh, vận chuyển
khách, thủ tục hải quan từ Việt Nam ra nước ngoài và ngược lại được đơn
giản hoá tạo thuận lợi cho ngành du lịch.

16
Tóm lại, với sự hội nhập vào các tổ chức du lịch và những bài học
kinh nghiệm từ thực tế sẽ có tác động tích cực đến sự phát triển ngành du
lịch của Việt Nam.
3.1.3. yếu tố văn hoá
Ngày nay không chỉ các nhà kinh tế mà các nhà văn hoá cũng đều
thống nhất cho rằng, văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển kinh tế xã hội. Tác động của văn hoá đến kinh tế là hết sức rộng lớn và
phức tạp. Trong hệ thống các giá trị văn hoá, các giá trị văn hoá tinh thần,
văn hoá phi vật thể có tác động mạnh mẽ và phổ biến đến hoạt động
marketing thông qua rất nhiều các biến số khác nhau.
Như trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật của những người lao động;

sách lược, hành vi cụ thể của nhà hoạt động thị trường trong quá trình làm
marketing.
- Văn hoá hầu như ảnh hưởng một cách toàn diện đến các công cụ
khác nhau của hệ thống marketing - mix của doanh nghiệp trong đó đặc biệt
đáng lưu ý là ảnh hưởng đến công cụ sản phẩm, phân phối và xúc tiến hỗn
hợp.
Mỗi một biến số của văn hoá có ảnh hưởng khác nhau đến quá trình
hoạt động marketing của doanh nghiệp. Nếu nhìn ngược lại từ phía các công
cụ của marketing - mix người ta đã đưa ra một số tổng kết về sự tác động
của một số biến số văn hoá như sau:
Thứ nhất: Chính sách xúc tiến hỗn hợp bị ảnh hửng sâu sắc bởi vấn đề
ngôn ngữ.
Thứ hai: Sự chấp nhận sản phẩm bị ảnh hưởng bởi các tiêu chuẩn thái
độ và giá trị.
Thứ ba: Chính sách giá thường bị ảnh hưởng bởi các thái độ văn hoá
đối với sự thay đổi thông qua cái gọi là "giá tâm lý".
Thứ tư: Hệ thống phân phối thường bị ảnh hưởng bởi các chế định xã
hội.

18
Trong một nền văn hoá các giá trị văn hoá có tính bền vững và tính
phổ cập khác nhau và do đó ảnh hưởng không giống nhau đến hoạt động
marketing của các doanh nghiệp. Bên cạnh những giá trị văn hoá mang tính
phổ cập và thống nhất thì luôn tồn tại các giá trị văn hoá mang tính địa
phương đặc thù, còn gọi là các nhánh văn hoá. Những giá trị văn hoá phổ
cập thống nhất có ảnh hưởng rộng lớn trong phạm vi toàn xã hội và tạo nên
những đặc tính chung trong nhu cầu, ước muốn, hành vi tiêu dùng của đông
đảo người mua. Ví dụ, nói đến truyền thống văn hoá ẩm thực của người Việt
Nam phải nói đến tập quán tiêu dùng cơm gạo và những phương tiện để ăn
như bát đũa v.v.. Còn ở nhiều nước phương Tây thì đó lại là bánh mì, bơ,

triển các loại hình du lịch tại Việt Nam. Tuy nhiên chúng ta cũng đang phải
đối mặt với những khó khăn, tình trạng ô nhiễm môi trường do nhiều
nguyên nhân trong đó có nguyên nhân từ sự phảt triển các loại hình du lịch
một cách ồ ạt, không theo quy hoạch, không có định hướng, mệnh ai nấy
làm; tình trạng ăn xin, đeo bám theo khách du lịch phổ biến… đã tạo ra
những ấn tượng không tốt đối với khách du lich. Đó là những hàng rào cản
trở trong việc phát triển ngành du lịch tại Việt Nam.
3.2. Nhân tố thuộc môi trường vi mô.
Ngoài những yếu tố của môi trường vĩ mô còn có những yếu tố của
môi trường vi mô ảnh hưởng trực tiếp tới chính sách marketing của doanh
nghiệp. Để hoạt động marketing thành công, bộ phận marketing của doanh
nghiệp phải phối hợp hoạt động với các bộ phận khác của doanh nghiệp và
cân nhắc sự ảnh hưởng của nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh, các trung
gian Marketing và khách hàng để đề ra giải pháp, chính sách marketing cho
phù hợp với nhu cầu của thị trường, phát triển doanh nghiệp.
3.2.1.Yếu tố lực lượng bên trong của doanh nghiệp.
Nhiêm vụ cơ bản của hoạt động marketing là sáng tạo ra các sản
phẩm hàng hoá và dịch vụ để cung cấp cho thị trường mục tiêu.Tuy nhiên,
công việc đó có thành công hay không lai chịu sự ảnh hưởng của nhiều nhân
tố và lực lượng khác.

20
Trước hết, các chính sách marketing phải tuân thủ nhiệm vụ chiến
lược, mục tiêu cụ thể, các chính sách và định hướng phát triển do ban lãnh
đạo công ty vạch ra. Ban lãnh đạo có ảnh hưởng lớn tới hoạt động và các
quyết định của bộ phận marketing. Bên cạnh đó bộ phận marketing phải làm
việc đồng bộ, chặt chẽ với các bộ phận chức năng khác trong công ty như:
tài chính- kế toán,vật tư- sản xuất, nhân lực, kế hoạch ,nghiên cứu phát triển,
bộ phận thiết kế,…Mỗi bộ phận có những mục tiêu hoạt động cụ thể, nếu bộ
phận marketing không được đồng tình của các bộ phận khác thì chính sách

nữa, các quầy hàng đơn giản, độc lập nữa. Xu thế đã và đang hình thành các
siêu thị, các tập đoàn phân phối hàng hoá rất mạnh về tiềm lực và tiên hành
nhiều loại hoạt động đồng thời như vận chuyển, bảo quản làm tăng giá trị và
phân phối hàng hoá rất mạnh về tiềm lực và tiến hành nhiều loại hoạt động
đồng thời vận chuyển, bảo quản làm tăng gía trị và phân phối hang hoá dịch
vụ một cách nhanh chóng an toàn, tiết kiệm…dẫn đến tác động tới uy tín,
khả năng tiêu thụ sản phẩm của nhà sản xuất.
Các hãng dịch vụ Marketing như công ty tư vấn, tổ chức nghiên cứu
marketing, các công ty quảng cáo, đài phát thanh, vô tuyến, báo, tạp chí …
giúp cho doanh nghiệp tập trung và khuyếch trương sản phẩm của mình
đúng đối tượng, đúng thị trường, đúng thời gian. Các Trung gian như ngân
hàng …đã giúp cho doanh nghiềp đề phòng các rủi trong quá trình kinh
doanh của mình. Vì vây cac thay đổi của các tổ chức trung gian có thể gây
ảnh hưởng đến chính sách marketign của doanh nghiệp.
3.2.4. Đối thủ cạnh tranh.
Chúng ta cũng biết tất cả các công ty, doanh nghiêp nào cũng đều
phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh khác nhau. Quan điểm Marketing
xem xét canh tranh trên những góc độ sau:
Canh tranh mong muốn tức là cùng một lượng thu nhập người ta có
thể dung vào các mục tiêu khác nhau. Vì vậy khi dung cho mục đich này
nhiều sẽ hạn chế dùng vào mục đích khác. Cơ cấu chi tiêu đó có thể phản
ánh một xu hướng tiêu dùng và do đó tạo cơ hội hay đe doạ hoạt đông

22
marketing của Doanh nghiêp. Khi nghiên cứu đối thủ cạnh tranh mong
muốn, điều quan trọng là phải biết được những xu hướng tiêu dùng và do đó
cách thức người ta phân bổ thu nhập cho tiêu dùng như thế nào.
Cạnh tranh giữa các loại sản phâm khác nhau để cùng thoả mãn một
mong muốn tiêu dùng. Khi nghiên cứu đối thủ cạnh tranh này,doanh nghiệp
cần phải biết mức độ thi trường như thê nào và thái độ như thê nào đối với

Thị trường quốc tế.
Các yếu tố tác động đến nhu cầu của khách hàng trên các thi trường là
không giống nhau.Vậy tính chất ảnh hưởng đến chính sách Marketing của
doanh nghiệp.

24
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHÍNH SÁNH MARKETING LỮ HÀNH DU
LỊCH TAI TRUNG TÂM DU LỊCH LỮ HÀNH PHÙ
ĐỔNG
I.GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TRUNG TÂM DU LỊCH LỮ HÀNH PHÙ
ĐỔNG
1.1. phân tích quá trình hình thành và phát triển của trung tâm
1.1.1. Sự ra đời của trung tâm du lịch lữ hành phù đổng
Hiện nay Du lịch Việt Nam đang từng bước phát triển và nhanh chóng
từng bước hoà nhập vào nền kinh tế chung của cả nước, cũng như từng
bước hoà nhập vào sự phát triển chung của toàn ngành du lịch thế giới.
Từ năm 1990 đến nay, Du lịch Việt Nam phát triển nhanh, với tốc độ
tăng trường khách hàng năm khoảng 30%-40%. Nếu lượng khách quốc tế
tới Việt Nam năm 1990 là 250000 lượt người, thì đến năm1997 đã hơn 1,7
triệu người. Chính vì vậy hệ thống hệ kinh doanh du lịch cũng phát triển
mạnh mẽ nhằm cung cấp sản phẩm, dịch vụ đáp ứng yêu cầu của du khách,
mang lại doanh thu cho doanh nghiệp và đất nước. Trong hệ thống kinh
doanh đó, kinh doanh lữ hành có vai trò rất quan trọng. Doanh nghiệp lữ
hành với tư cách là chiếc cầu nối giữ cung và cầu trong du lịch, là loại hình
doanh nghiệp đặc biệt trở thành yếu tố quan trọng không thể thiếu trong sự
phát triển du khách hiện đại. Doanh nghiệp lữ hành kinh doanh chủ yếu
trong lĩnh vực tổ chức, xây dựng, bán và thực hiện các chương trình du lịch
trọn gói cho khách du lịch. Ngoài ra các công ty lữ hành còn có thể tiến
hành các hoạt động trung gian bán sản phẩm của các nhà cung cấp du lịch


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status