MỤC LỤC
1
Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam khi đã chính
thức trở thành thành viên của WTO, ngành quảng cáo của Việt Nam, chủ yếu
là hai thị trường Hà Nội và Tp.Hồ Chí Minh đang nóng dần lên khi có rất
nhiều công ty và tập đoàn lớn đầu tư vào. Đây là cơ hội cho các doanh nghiệp
trong nước học hỏi kinh nghiệm về cách thức quản lý, cách tiếp cận một
chương trình quảng cáo cụ thể…Tuy nhiên, sự nóng của thị truờng này phần
lớn là các doanh nghiệp nước ngoài tham gia, các doanh nghiệp quảng cáo
trong nước chỉ tập trung vào khâu sản xuất thuần túy về mặt vật chất. Đây là
thực trạng của đại bộ phận các doanh nghiệp trong nước, trong đợt thực tập
tại công ty TNHH Thiện Mỹ, được tiếp xúc với thực tiễn hoạt động của công
ty nên tôi cũng nhìn nhận được vấn đề này xác đáng hơn. Nhìn chung các
công ty trong nước vẫn chưa chú trọng xây dựng hệ thống marketing cho
công ty hay nói đúng hơn là chưa nhận thức được vai trò của nó đối với hoạt
động kinh doanh. Mục đích của đề tài này là xây dựng cho công ty TNHH
Thiện Mỹ nói riêng một hệ thống marketing mix, nhằm nâng cao khả năng
cạnh tranh và phát triển theo hướng chuyên nghiệp. Trong quá trình thực hiện
đề tài này, tôi xin cảm ơn Thạc sĩ Hồ Chí Dũng và của ban giám đốc công ty
TNHH Thiện Mỹ đã có những giúp đỡ trực tiếp để tôi hoàn thành đề tài này.
2
Chương I: Khái quát thị trường nghành quảng cáo nói chung ở Việt Nam
và thực trạng kinh doanh của công ty TNHH Thiện Mỹ
I. Khái quát thị trường quảng cáo nói chung
1.Khái quát chung thị trường quảng cáo Việt Nam trong những năm
gần đây
Nhìn lại những năm 90, ngành quảng cáo non trẻ của Việt Nam mới chỉ
đơn giản tập trung ở quảng cáo ngoài trời với các panô quảng cáo lớn, các
mẫu biển ngoài cửa hàng... và cũng chỉ xuất hiện một vài gương mặt như:
Quảng cáo Trẻ, Quảng cáo Sài Gòn, Vinataf... Nhiều công ty quảng cáo được
mại châu Âu tại Việt Nam (Eurocham) Christian De Ruty nhận định. Theo
ông, thuận lợi lớn nhất của ngành quảng cáo đó là các công ty tư nhân ở Việt
Nam ngày một hiểu rõ tầm quan trọng cũng như sức mạnh của quảng cáo đối
với sự sống còn của sản phẩm.
Tuy nhiên, có một thực tế là trong số hơn 1 tỷ USD doanh thu từ quảng
cáo mỗi năm tại Việt Nam, các công ty trong nước chỉ đóng góp 10-20%.
Trên 80% còn lại thuộc về số ít những tập đoàn quảng cáo lớn trên thế giới.
“Tại thị trường nội địa, nếu chỉ tính mảng gia công, thực hiện những công
đoạn cuối cùng của quá trình quảng cáo thì các doanh nghiệp trong nước
chiếm tới 90%. Nhưng nếu tính những hợp đồng quảng cáo lớn nhất, trọn gói
4
thì các doanh nghiệp nước ngoài chiếm tới 90%”. Nguyên nhân chính, là do
các tập đoàn quốc tế chưa tin vào trình độ nghiệp vụ của các công ty quảng
cáo Việt Nam, vì vậy họ chỉ thuê các công ty nước ngoài. Rất ít doanh nghiệp
Việt Nam nhận được hợp đồng quảng cáo cho những tập đoàn như vậy, và
nếu có cũng chỉ là hợp đồng phụ thầu lại của một đối tác nước ngoài. “Trong
khi đó, khách hàng chủ yếu là những doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam, họ
tin vào chất lượng quảng cáo trong nước nhưng lại không đủ tiền để trang trải
mọi chi phí”. Nhiều người trong ngành đều thừa nhận trình độ chuyên môn
của các doanh nghiệp quảng cáo trong nước đang là một hạn chế không nhỏ.
Ở Việt Nam chưa có trường lớp nào đào tạo chính quy về chuyên ngành này.
Bản thân các công ty khi nhận người đều phải đào tạo lại từ đầu nên phát triển
nhân sự rất chậm. Cũng vì hạn chế về chuyên môn, nhiều đơn vị chỉ dám
nhận làm từng phần, và chỉ mang tính chất gia công nhiều hơn. “Rất nhiều
công ty tự gọi là quảng cáo nhưng thực chất họ chỉ đang gia công quảng cáo.
Giai đoạn quan trọng trước đó là nghiên cứu và xây dựng, sáng tác ra lôgô
của các thương hiệu thì không mấy người tham gia. Đưa sản phẩm vào hoạt
động truyền thông đơn giản hơn nhiều”.
Ở tầm vĩ mô, Tổng thư ký Hiệp hội quảng cáo Việt Nam Trần Nguyên
Đán cho rằng, ngành quảng cáo vẫn chưa được đánh giá một cách đúng mực.
khoảng gần 30 DN quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam, gồm các đại gia như:
JW.Thompson, Mc Can, Sattchi, Densu... Riêng JW.Thompson đã chiếm tới
40% thị phần quảng cáo Việt Nam. Các công ty quảng cáo nước ngoài đang
6
phải ký hợp đồng quảng cáo thông qua các DN quảng cáo Việt Nam, họ sẽ
phải chia sẻ hoa hồng cho đối tác Việt Nam. Bảo hộ cho ngành quảng cáo
''non trẻ'' là cần thiết. Tuy nhiên, bảo hộ cũng chỉ là mức độ, điều cốt yếu là
DN Việt Nam phải tự biết dùng sức mình để ''bơi'' trong một thị trường quảng
cáo đang cạnh tranh ngày càng khốc liệt.
Sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp quảng cáo trong nước va các công ty
nước ngoài gần như la ko có….hay nói một cách đúng hơn các công ty quảng
cáo Việt Nam chưa đủ nguồn lực về tài chính cũng như con người để cạnh
tranh chính vì lý do đó như trên đã khái quát trong 1 tỷ USD doanh thu từ
quảng cáo mỗi năm tại Việt Nam, các công ty trong nước chỉ đóng góp 10-
20%. Trên 80% còn lại thuộc về số ít những tập đoàn quảng cáo lớn trên thế
giới. Nhìn nhận con số chia phần này, nhiều giám đốc các công ty quảng cáo
trong nước cho là còn “khá lạc quan”, và gần như hầu hết các doanh nghiệp
trong nước đều chấp nhận sự “thống trị“ của các công ty quảng cáo nước
ngoài nhưng nhìn một cách tổng thể đây cũng là một “bức tranh” tất yếu, khi
Việt Nam mới bước chập chững vào dòng chảy của nền kinh tế toàn cầu.
Theo một số giám đốc trong nghành quang cáo thì sự cạnh tranh có thể
nói diễn ra mạnh nhất và khốc liệt nhất đó là chính các công ty quảng cáo
trong nước. Các công ty thi nhau giảm giá thành nhằm tranh giành nhau
những gói thầu rất nhỏ do các công ty nước ngoài để lại và những gói thầu
này tập trung chủ yếu vào khâu gia công hoàn thiện chương trình quảng cáo ở
góc độ vật chất. Như vậy những doanh nghiệp quảng cáo trong nước sẽ phải
đối mặt với sự canh tranh rất quyết liệt và sẽ còn rất lâu nữa nhũng doanh
nghiệp này mới đủ tầm để cạnh tranh với những công ty nước ngoài. Tuy
nhiên, khi Việt Nam đã gia nhập vào WTO đã tạo ra nhiều điều kiện thuận lợi
hơn trong việc tiếp cận với những kỹ thuật khoa học tiên tiến, với cách thức tổ
2006.2007. Năm 2006 công ty bứoc đầu mở rộng phạm vi hoạt động
của mình sâu hơn vào lĩnh vưc quảng cáo thương mại,cac năm trước chủ yếu
tập trung vào quảng cáo sản xuất, ngoài ra công ty đã có hợp đòng với một số
khách hàng trong lĩnh vực PR và đã có những thành công bước đầu.
2007… Công ty có kế hoạch sẽ mỏ rộng phạm vi kinh doanh trên lĩnh
vực quang cáo thương mại và tiếp tục tăng cưòng trình độ cho
1.2 Triết lý kinh doanh và mục tiêu
Từ đầu những 2002 những thành viên sáng lập ra công ty trách nhiệm
hữu hạn Thiện Mỹ đã cam kết đem lại những sản phẩm với chất lượng tốt
nhất đến tay nguời tiêu dung, cùng với sự say mê trong công việc công ty
ngày một phát triển và đứng vững trên thị truờng. Tuy nhiên khi tình hình
cạnh tranh ngay càng quyết liệt thị truờng muc tiêu có nguy cơ hẹp lại và đặt
biệt khi các công ty quảng cáo nước ngoài đang “bước nhanh” vào thị truờng
Việt Nam thì với triết lý kinh doanh định hứong vào sản phẩm như vậy là vẫn
chưa đủ. Và điều này được ban giám đốc của công ty nhận thức rất rõ va hiện
tại nhìn một cách tổng thể triết lý kinh doanh của công ty là “tập trung vào giá
trị của khách hàng”, với triết lý kinh doanh này công ty đã chú ý nhiều hơn
vào khách hàng, xem họ cần gì?, muốn gì? và như thế nào?. Các mối quan hệ
với khách hang cũng được củng cố theo chiều sâu, hệ thống thông tin khách
hàng đã được chú ý đến và dần hoàn thiện.
Nhìn chung với triết lý kinh doanh này khách hàng trung thành của công
ty sẽ trung thành hơn và mở rộng được thị trừong của mình. Khả năng thỏa
mãn nhu cầu về sản phẩm, giá cả, phân phối cũng sẽ tốt hơn và đem lai sự
tiện ích cho khác hàng.
9
Trong những năm sắp tới mục tiêu kinh doanh của công ty là nâng cao
khả năng cạnh tranh và từng bước chuyên nghiệp hóa, chuyên môn hóa trong
lĩnh vực hoạt động của mình. Để nói đến những mục tiêu xa hơn giám đốc
công ty THHH Thiện Mỹ cho biết Công ty sẽ lựa chọn hình thức cổ phần hóa
để huy động them vốn cho công ty và từ cơ sở đó sẽ đưa công ty trở thành tập
công ty, và giám sát trực tiếp các phòng còn lại. Ngoài ra vì chưa thành lập
phòng marketing nên giám đốc công ty cũng là người trực tiếp quan hệ với
khách hàng và tìm kiếm hợp đồng chủ yếu cho công ty.
- Phòng kế toán: Có chức năng cân quản lý thu chi và cân bằng luồng
tiền ra vào của công ty.
11
PHÒNG THIẾT KẾ
PHÒNG HÀNH CHÍNH PHÒNG KẾ TOÁN
- Phòng thiết kế: Đây là phòng có chức năng đưa ra những mẫu mã
quảng cáo mới, và đưa ra những sản phẩm phù hợp nhu cầu của khách hàng.
Đây có thể xem như trái tim của công ty, là nơi trực tiếp thể hiện năng lực của
công ty cũng như khả năng thích nghi với thị trường ngày một đa dạng.
- Phòng hành chính: Chức năng chủ yếu của bộ phận này là quản lý
công việc hàng ngày của công ty, sắp xếp lịch làm việc, nhận phản hồi từ
khách hàng.
Bộ phận sản xuất:
- Xưởng sản xuất: có chức năng thi công những mẫu mã từ phòng
thiết kế, lắp đặt sản phẩm cho khách hàng.
B. Thực trạng kinh doanh của công ty
2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
2.11 Môi trường marketing vĩ mô
Môi trường pháp lý: Điều được thừa nhận rộng rãi là môi trường kinh
doanh ở nước ta đã có những bước tiến lớn về phía trước theo hướng phù hợp
hơn với đòi hỏi của thực tế và thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, nếu so với yêu cầu
của cuộc sống, môi trường pháp lý ở nước ta vẫn còn nhiều bất cập như các
thể chế kinh tế thị trường chưa được xây dựng hoàn chỉnh và đồng bộ, nhiều
bộ luật cơ bản như luật cạnh tranh và kiểm soát độc quyền...chậm được ban
hành; chưa đủ minh bạch, thiếu sự ổn định cần thiết, tính nhất quán chưa cao
và khó tiên liệu trước. Đặc biệt là còn nhiều văn bản Quy phạm pháp luật
được xây dựng và ban hành chưa sát hợp với điều kiện và đòi hỏi của thực
cản cho cạnh tranh và nâng cao hiệu quả hoạt động và cải thiện chất lượng
dịch vụ. Nhưng nhìn chung nền kinh tế đã có những biến chuyển lớn, đời
sông sống nhân dân được nâng cao và đây là cơ hội rất lớn cho các nghành
13
công nghiệp sản xuất và dich vụ. Từ đó nó sẽ kéo theo sự phát triển của nhiều
nghanh khác trong đó có nghàng quảng cáo.
Về môi trường đầu tư : Nhìn chung môi trường đầu tư ở nước ta hiện
được đánh giá là có những thế mạnh như sự ổn định về chính trị, xã hội và
đang có những tiến bộ theo hướng thông thoáng, hấp dẫn hơn. Tuy nhiên, vẫn
còn phải tiếp tục giải quyết nhiều vấn đề để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của các
nhà đầu tư trong và ngoài nước, cụ thể: Các thủ tục hành chính còn rườm rà,
thiếu rõ ràng, minh bạch, thực hiện thiếu nhất quán, nhất là trong lĩnh vực
nhạy cảm như thuế, hải quan, xuất - nhập khẩu và cho thuê đất... Tình trạng
nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ trong bộ máy hành chính vẫn còn, trong
khi dịch vụ công còn thiếu tính chuyên nghiệp và kém chất lượng; kết cấu hạ
tầng kinh tế - kỹ thuật còn yếu kém, dẫn đến tăng chi phí và gây khó khăn cho
việc phát triển sản xuất kinh doanh và giảm tính cạnh tranh do chi phí vận tải,
bưu chính viễn thông... còn đắt hơn nhiều so với các nước trong khu vực…
Về môi trường khoa học công nghệ: Sự phát triển của KHCN thế giới
có ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam. Những tiến bộ khoa học mới trên thế
giới được Việt Nam chuyển giao và áp dụng khá tốt…các tiến bộ trong
nghánh vật liệu mới đã phuc vụ tốt hơn cho những nghành sản xuất hàng tiêu
dùng.Hơn nữa sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ cũng làm
cho chu kỳ sống của sản phẩm giảm xuống, từ đó buộc các doanh nghiệp nói
chung phải tích cực áp dụng những công nghệ mới nhằm đáp ứng được những
nhu cầu mới nả sinh của thị trường và gia tăng khả năng cạnh tranh.
Mặc dù đã có những tiến bộ và cải thiện đáng kể trong những năm gần
đây, nhưng nhìn chung, môi trường marketing vĩ mô chưa được thiết lập đầy
đủ; trình độ văn hoá kinh doanh chưa cao. Các quan hệ ngang với các bạn
hàng, đặc biệt là các nhà cung ứng những dịch vụ hỗ trợ còn thiếu và yếu,
Các yếu tố bên trong doanh nghiệp: Do hệ thống marketing của công
ty chưa được coi trọng nên hầu như các quyết định về sản phẩm mới đều dựa
vào sự biến đổi của thị trường nói chung. Chính vì vậy phòng thiết kế của
công ty có vai trò rât quan trọng trong việc sang tạo ra các sản phẩm cụ thể là
các biển quảng cáo, các mẫu quảng cáo, và các hình thức quảng cáo mới để
cung cấp cho thị truờng mục tiêu của công ty. Tuy nhiên để bộ phận này đạt
hiệu quả cao cần có sự kết hợp đồng bộ giữa các phòng: tài chính; kế toán; vật
tư; sản xuất. Cùng với đó là sự giám sát trực tiếp từ ban giám đốc
Nhà cung ứng: Nhìn chung, các nhà cung ứng có ảnh hưởng trực tiếp
đến tình trạng sản xuất của mỗi công ty nói chung. Có thể nói đến ảnh hưởng
về mặt chất lượng sản phẩm; giá thành sản xuất; thời gian cung ứng. Công ty
TNHH Thiện Mỹ sử dụng một số nhà cung ứng uy tín và thậm trí còn quan
tâm tới thái độ của họ đối với doanh nghiệp mình và đối thủ cạnh tranh. Giám
đốc của công ty luôn có mối quan hệ rất tốt với những nhà cung ứng này vì
vậy vấn đề về cung ứng không thật sự quan trọng và bức thiết đối với công
ty.
Đối thủ cạnh tranh: với hơn 2000 doanh nghiệp đang hoạt động trong
lĩnh vực quảng cáo thì có thể nói tình trạng cạnh tranh hiện tại là rất gay gắt.
thị trường mục tiêu của mỗi công ty dường như rất mong manh và có thể biến
mất. Các đối thủ cạnh tranh chủ yếu của công ty TNHH Thiện Mỹ gồm có
Công ty THHH Quang Minh, công ty TNHH Anh Tuấn; công ty TNHH Phú
Thái ……và một số công ty lớn trong nước khác………Với công ty TNHH
Thiện Mỹ đối thủ cạnh tranh vừa là thách thức cũng như cơ hội để công ty
ngày càng hoàn thiện mình hơn và khẳng định vị trí của mình trong nội bộ
nghành.
Khách hàng: Công ty TNHH Thiện Mỹ luôn coi giá tri khách hàng là
tiêu chí hoạt động của mình, công ty nhận thức rất rõ rang vai trò của khách
16
hàng đối với sự thành công hay thất bại của công ty. Theo ban giám đốc công
ty đã có khách hàng từ khắp ba miền Bắc- Trung -Nam và đã có khách hàng
khó khăn. Xưởng sản xuất này làm việc trung bình khoảng 10h/ngày và đáp
ứng tốt các mẫu thiết kế quảng cáo.
Nhìn chung, Công ty TNHH Thiện Mỹ có Cơ sở vật chất kỹ thuật khá tốt
đảm bảo đáp ứng được nhu cầu làm việc của cán bộ công nhân viên trong nội
bộ công ty và khách hàng mục tiêu. Trong thời gian tới cùng với sự phát triển
chung của nền kinh tế nghành quảng cáo nói riêng và với công ty TNHH
Thiện Mỹ các điều kiện về cơ sở vật chất sẽ tiếp tục phải hoàn thiện và bổ
xung, mở rông quy mô để đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng cũng như gia
tăng sức cạnh tranh cho công ty.
2.3 Nguồn nhân lực
Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển mình, hối hả cho hội nhập kinh
tế quốc tế thì nguồn nhân lực chất lượng cao, hơn bao giờ hết đang là mối
quan tâm hàng đầu của nhà nước, xã hội.
Nguồn nhân lực đóng góp cho sự thành công của công ty trên các khía
cạnh chất lượng cao, dịch vụ tuyệt hảo, khả năng đổi mới; kỹ năng trong công
việc cụ thể; và năng suất của đội ngũ nhân viên. Đây là những yếu tố then
chốt mang lại sự thành công của các tổ chức, có công ty đề cao các yếu tố về
năng suất; kỹ năng có tính chuyên nghiệp, và cũng có công ty lại đề cao dịch
vụ tốt; chất lượng cao; khả năng đổi mới của đội ngũ nhân viên. Năng lực
thông qua yếu tố con người thường mang tính bền vững và nó không thể xác
lập trong một thời gian ngắn.
18
Công ty TNHH Thiện Mỹ với đội ngũ nhân lực khá tốt hầu hết được đào
tạo từ những trường đại học chính quy và hơn hết là có bề dày kinh nghiệm
trong lĩnh vực của mình.
Nguyễn Mạnh Cưòng: Giám đốc kinh doanh (tốt nghiệp khoa tạo
dáng công nghiệp viện Đại học mở HN).
Lê Thị Lan Anh: Kế toán trưởng (tốt nghiệp khoa kế toán
học viện tài chính kế toán).
Nguyễn Thị Thanh Hiền: Trưởng phòng hành chính (tốt nghiệp ĐH
Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2003
Chỉ tiêu Mã số Năm này Năm trước
1 2 3 4
1. Doanh thu thuần
2. Giá vốn hang bán
3. Chi phí quản lý kinh
doanh
4. Chi phí tài chính
5. Lợi nhuận từ HĐKD
(20=11-12-13-14)
6. Lãi khác
7. lỗ khác
8. Tổng lợi nhuận kế
toán (30=20=21-22)
9. Các khoản tăng
giảm
11
12
13
14
20
21
22
30
40
4,317,649,508
4,320,307,444
125,131,292
15,784,773
-143,574,001
Thiện Mỹ bị ảnh hưởng năng nề vì vậy dẫn tới tình hình làm ăn thua lỗ. Cụ
thể :Gió lốc làm đổ 3 tấm biển lớn gây thiêt hai hang tỷ dồng đối với lợi
nhuận của công ty. Ngoài ra, vì luồng tiền thanh toán được chia thành nhiều
đợt nên sẽ phân bổ vào các năm sau và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến thua
lỗ của doanh nghiệp trong năm 2003. Hơn nữa do viêc quản lý chi phí sx của
doanh nghiệp chưa tốt nên làm ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận. Ngoài ra do đây
là những năm đầu đi vào hoạt động nên tình hình nợ đọng của khách hàng vẫn
còn lớn.
Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2004
Chỉ tiêu Mã số Năm này Năm trước
1 2 3 4
13.Doanh thu thuần
14.Giá vốn hang bán
15.Chi phí quản lý kinh
doanh
16.Chi phí tài chính
17.Lợi nhuận từ HĐKD
(20=11-12-13-14)
11
12
13
14
20
8,311,751,995
8,066,823,544
174,973,547
20,068,472
49,886,432
4,317,649,508
4,320,307,444
7,309,473
-145,822,911
-145,822,911
-46,663,332
-99,159,580
Giải thích và kiến nghị của doanh nghiệp: Trong năm 2004 doanh
nghiệp đã mở rộng được phạm vi kinh doanh của mình sang một số tỉnh và
thành phố trong cả nứoc như Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Bắc Ninh……
Chính vì những lý do đó làm cho doanh thu của năm 2004 tăng 192,5% so với
năm 2003. Tuy nhiên do vẫn chưa giảm dược chi phí một cách tối ưu nên Giá
vốn hang bán vẫn khá cao so với doanh thu, lý do này là nguyên nhân chính
làm lợi nhuận thuần của công ty vẫn ở mức thầp đạt 52,796,872dong. Ngoài
ra do sức ép cạnh tranh nên công ty vẫn triển khai những hợp đồng hoà vốn
để tạo uy tín và gia tăng số lượng khách hang trung thành của công ty. Công
ty cần có nhưng biện pháp tốt hơn để quản lý chí phí, giảm tối thiểu giá thành
sản xuất, tăng hiệu quả sxkd.
Kết quả hoạt động kinh doanh năm 2005
22
Chỉ tiêu Mã số Năm này Năm trước
1 2 3 4
25.Doanh thu thuần
26.Giá vốn hang bán
27.Chi phí quản lý kinh
doanh
28.Chi phí tài chính
29.Lợi nhuận từ HĐKD
(20=11-12-13-14)
30.Lãi khác
31.lỗ khác
32.Tổng lợi nhuận kế
24,800,640
63,773.075
8,311,751,995
8,066,823,544
174,973,547
20,068,472
49,886,432
2,910,460
52,796,892
52,796,892
14,783,130
38,013,762
Giải thích và kiến nghị của Doanh nghiệp: Doanh thu năm 2005 chỉ
đạt 6,633,262,895 giảm xấp xỉ 25% so với năm trước nhưng lợi nhuận thuần
của công ty lại tăng 167% so với năm trước tương đương với 35,776,823
dong. Chứng tỏ doanh nghiệp đã quản lý tốt hơn các nguồn chi phí. Bằng
cách tăng trình độ tay nghề của nhân công sx từ đó làm giảm tiêu hao nguyên
23
vật liệu không cần thiết……Tuy nhiên tỷ suất lợi nhuân trên doanh thu vẫn ở
mức thấp.
24
Chương II Xây dựng hệ thống marketing mix và chiến lược marketing
chung cho công ty
I. Thực trạng hoạt động marketing của công ty
1. Thực trạng
Khái niệm marketing đã được hình thành từ rất lâu trên thế giới, nhưng
mới chỉ được biết đến ử Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ 20.
Hiện nay, marketing trong doanh nghiệp được coi là nhân tố cơ bản cho
sự thành công của doanh nghiệp trên thương trường. Sức ép cạnh tranh cũng