NGHIÊN CỨU Tự do thương mại quốc tế ở Việt Nam - Pdf 26

Trung tâm WTO
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

1 BÁO CÁO NGHIÊN CỨU
Tự do thương mại quốc tế ở Việt Nam

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

2 NGHIÊN CỨU
Tự do thương mại quốc tế ở Việt Nam
Tóm tắt
Nghiên cứu này phân tích các yếu tố của hệ thống thương mại quốc tế của Việt
Nam nhằm đưa ra bức tranh toàn cảnh về diễn tiến hoạt động thương mại quốc tế
(TMQT) của Việt Nam; đánh giá các ưu điểm, tồn tại; từ đó đề xuất các giải pháp để
tăng cường tự do TMQT tại Việt Nam.
Được hiểu là các hoạt động đầu tư, kinh doanh qua biên giới giữa Việt Nam và các
nước bên ngoài Việt Nam, tự do TMQT trong Nghiên cứu này được xem xét qua
mức độ tự do hóa trong tất cả các khía cạnh thương mại hàng hóa, thương mại dịch
vụ và đầu tư.
Các tiêu chí được sử dụng để đánh giá mức độ tự do hóa TMQT được phân thành
03 nhóm: (i) Nhóm các tiêu chí về vai trò của TMQT trong nền kinh tế Việt Nam và
tính chủ động trong tận dụng tự do TMQT; (ii) Nhóm các tiêu chí về độ mở của nền
kinh tế Việt Nam cho TMQT về hàng hóa, dịch vụ, đầu tư; (iii) Nhóm các tiêu chí
về mức độ kiểm soát hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam từ góc độ chủ thể
và các biện pháp sử dụng

quốc tế thời gian tới của Việt Nam.
Nghiên cứu này được thực hiện bởi Trung tâm WTO – Phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam với sự hỗ trợ tài chính của Dự án Friedrich Naumann Foundation
for Freedom (FNF)
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

4

1. Dẫn nhập
Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, hội nhập
kinh tế quốc tế, từ đó tự do hóa hoạt động giao lưu thương mại giữa Việt Nam với
thế giới là bước đi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một nền kinh tế mở cửa, với hàng
rào cho lưu chuyển hàng hóa, dịch vụ giữa bên trong với bên ngoài được giảm thiểu,
hướng tới tự do thương mại quốc tế là điều kiện cần để Việt Nam xây dựng và hoàn
thiện nền kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay.
Nếu như xem việc Việt Nam tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
(ASEAN), bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995 là mốc đầu tiên của quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam thì tới nay quá trình này đã đi được gần
3 thập kỷ.Trong thời gian này, nhiều dấu mốc quan trọng đánh dấu các bước hội
nhập của Việt Nam đã được thực hiện như tham gia Khu vực mậu dịch tự do
ASEAN năm 1996, ký kết Hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA)
năm 2001, gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) năm 2007, tham gia một
loạt các Hiệp định thương mại tự do khu vực trong khuôn khổ ASEAN và
ASEAN+….
Quá trình hội nhập đã thực sự mang lại những bước tiến quan trọng của kinh tế Việt
Nam trong phát triển nội tại cũng như giúp Việt Nam trở thành một thành tố của nền
kinh tế thế giới.
Tuy vậy, có thể tham gia thương mại quốc tế một cách chủ động, tự do hóa thương
mại thực chất và tận dụng hiệu quả những lợi ích từ quá trình này và tạo hiệu ứng
lan tỏa tới các chủ thể kinh tế - xã hội là mục tiêu, cũng là thách thức của nền kinh tế

Nhóm tiêu chí thứ hai- Nhóm các tiêu chí về độ mở của nền kinh tế Việt Nam cho
thương mại quốc tế, bao gồm:
- Độ mở cửa về thương mại hàng hóa
- Độ mở cửa về thương mại dịch vụ
- Độ mở cửa về đầu tư
Nhóm tiêu chí thứ ba-Nhóm các tiêu chí về mức độ kiểm soát hoạt động thương mại
quốc tế của Việt Nam, bao gồm:
- Các chủ thể thương mại quốc tế
- Các biện pháp kiểm soát thương mại hàng hóa
Mỗi tiêu chí được đo lường bằng các chỉ số thành phần cụ thể, với các phương pháp
đo lường và ý nghĩa như nêu trong Bảng kèm theo
Tiêu chí
Chỉ số đo lường/đánh
giá
Ý nghĩa
Nguồn số liệu
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

6

I. Nhóm các tiêu chí về vai trò của thương mại quốc tế (TMQT) trong nền kinh tế Việt Nam
1. Vai trò của thương
mại quốc tế trong nền
kinh tế Việt Nam
Đánh giá vai trò của
xuất nhập khẩu trong
nền kinh tế theo các
chỉ số:
- Thay đổi thể chế
- Giá trị và tốc độ tăng

Đánh giá mức độ chủ
động trong tự do hóa
TMQT và hiệu quả
tận dụng các cam kết
tự do hóa TMQT theo
các chỉ số:
- Tính chủ động trong
mở cửa TMQT của
Nhà nước
- Hiệu quả tận dụng tự
do hóa thương mại ở
Việt Nam
Việc tham gia các cam
kết mở cửa càng chủ
động thì hiệu quả hội
nhập càng tốt hơn.
Nhóm chủ thể nào
càng có kết quả sản
xuất kinh doanh trong
TMQT cao thì chủ thể
có được cho là càng
tận dụng được hiệu
quả của tự do TMQT

Số liệu về xuất nhập
khẩu phân theo nhóm
chủ thể
Số liệu về hiệu quả các
cạnh tranh theo nhóm
chủ thể

kinh tế càng mở với
thế giới
các cam kết mở cửa
4. Độ mở cửa về
thương mại dịch vụ
Đánh giá mức độ mở
cửa của nền kinh tế
trong lĩnh vực thương
mại dịch vụ (điều kiện
để các nhà cung cấp
dịch vụ nước ngoài gia
nhập thị trường) thông
qua các Chỉ số: Số
lượng và các điều kiện
mở cửa các phân
ngành dịch vụ
Số lượng các phân
ngành dịch vụ được
cam kết mở cửa càng
nhiều, các điều kiện
mở cửa càng ít thì rào
cản thương mại về
dịch vụ càng thấp, nền
kinh tế càng mở với
thế giới
Số liệu về số lượng
phân ngành dịch vụ
qua các cam kết mở
cửa
Số liệu về các điều

kiện đối với nhà đầu tư
nước ngoài
III. Nhóm các tiêu chí về mức độ kiểm soát hoạt động thương mại quốc tế của Việt Nam
6.1. Các chủ thể
thương mại quốc tế
Đánh giá khả năng
tham gia vào TMQT
của các chủ thể thông
qua chỉ số về các chủ
thể xuất nhập khẩu
(điều kiện áp dụng)
Số lượng các hạn chế
về chủ thể xuất nhập
khẩu càng ít, số lượng
các chủ thể thực tế
tham gia hoạt động
xuất nhập khẩu càng
Các quy định về điều
kiện với các chủ thể
tham gia xuất nhập
khẩu
Số lượng các chủ thể
tham gia xuất nhập
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

8

lớn thì mức độ tự do
về chủ thể trong
TMQT càng cao

pháp kiểm soát về xuất
nhập khẩu khác

3. Các giai đoạn của quá trình tự do thương mại quốc tế tại Việt Nam
Xét một cách chặt chẽ, trong lịch sử nền kinh tế Việt Nam, hoạt động ngoại thương
đã có từ lâu. Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, năm 1978 Việt Nam đã
tham gia vào Hội đồng tương trợ kinh tế (khối SEV hoặc COMECON) – một hình
thức hỗ trợ thương mại và ngoại thương giữa các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên, quan hệ này không mang tính cạnh tranh kinh tế thuần túy, ít nhiều bị
ảnh hưởng bởi các quan hệ chính trị, tính mệnh lệnh, hỗ trợ cao, được điều chỉnh
bằng các biện pháp hành chính là chủ yếu (giấy phép xuất – nhập khẩu, yêu cầu hạn
ngạch cụ thể, chế độ tỷ giá riêng…), do đó làm méo mó bản chất thương mại của
các quan hệ này.
Khi Việt Nam bước sang thời kỳ Đổi mới, với việc chuyển đổi nền kinh tế từ tập
trung bao cấp sang kinh tế thị trường, hoạt động ngoại thương cũng bắt đầu được
đẩy mạnh, trên cơ sởtừng bước thiết lập quan hệ thương mại bình thường, đa dạng
hóa đối tác hơn nhiều so với trước đây.
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

9

Quá trình hội nhập thực sự được bắt đầu vào thập niên 90 của thế kỷ trước với
những bước đi thận trọng nhưng tương đối hiệu quả. Đầu những năm 90, Việt Nam
khai thông lại quan hệ với các thiết chế tài chính tiền tệ quốc tế như Quỹ Tiền tệ
quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) sau
15 năm gián đoạn (1976-1992). Sau đó, Việt Nam cũng bắt đầu đẩy mạnh sự hiện
diện của mình trong các mô hình hợp tác kinh tế quốc tế như tăng cường vai trò
trong Liên Hợp Quốc (mà Việt Nam đã là thành viên từ năm 1977 nhưng sự tham
gia khá mờ nhạt), đồng sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996, tham
gia Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) năm 1998.

CEPT/AFTA, Việt Nam lại được hưởng các ưu đãi thuế quan theo
CEPT/AFTA khi xuất khẩu vào các nước trong khu vực (6 nước ban đầu của
ASEAN) ngay khi gia nhập. Điều này đã thực sự mang lại những bước
chuyển đặc biệt tích cực cho thành tích hội nhập và tăng trưởng kinh tế của
Việt Nam giai đoạn này.
Cần phải thừa nhận rằng việc tham gia của Việt Nam vào CEPT/AFTA khá
thụ động, như một bước tiếp theo của việc gia nhập ASEAN một năm trước
đó và vì vậy không thực sự là một bước hội nhập được tính toán đầy đủ. Mức
độ cam kết cũng như lộ trình mở cửa của Việt Nam trong CEPT/AFTA cũng
tương đối hạn chế so với các đối tác khác trong khu vực. Mặc dù vậy, bài
kiểm tra cho tự do hóa thương mại đầu tiên của Việt Nam trên thực tế may
mắn diễn ra một cách suôn sẻ, mức độ mở cửa và cam kết mở cửa cho đến
nay vẫn là mạnh nhất và vì vậy là một bàn đạp tốt cho các bước tiếp theo của
quá trình hội nhập sau này.
Cũng trong giai đoạn này, Việt Nam đã thực hiện những chuẩn bị đầu tiên
cho các giai đoạn hội nhập tiếp theo: nộp Đơn gia nhập WTO năm 1995, đàm
phán và ký kết các Hiệp định bảo hộ đầu tư, thương mại song phương đầu
tiên, bắt đầu đàm phán Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa
Kỳ (BTA) năm 1996…
Trong số này, đáng kể là quá trình đàm phán BTA Việt Nam – Hoa Kỳ với
những tác động sâu và những bài học kinh nghiệm quan trọng cho các giai
đoạn hội nhập tiếp theo của Việt Nam. Sau 11 Vòng đàm phán trong suốt 4
năm, với những nội dung đàm phán rộng, phức tạp mà lần đầu tiên Việt Nam
biết đến, với một đối tác kinh tế hàng đầu thế giới, nhiều đòi hỏi và đầy kinh
nghiệm, BTA được cho là cơ hội cọ sát của Việt Nam trong đàm phán tự do
hóa thương mại quốc tế.
3.2. Giai đoạn từ 2001-2007
Sau những bước đi ban đầu, giai đoạn 2001-2007 được xem là giai đoạn tăng
tốc trong quá trình hội nhập của Việt Nam với việc ký kết và thực thi BTA
với Hoa Kỳ (2001), đàm phán và ký kết 06 Hiệp định thương mại tự do (chủ

hàng hóa trong các Hiệp định thương mại tự do ASEAN+ (ASEAN-Trung
Quốc 2004, ASEAN-Hàn Quốc 2006. Các FTA được đàm phán và có hiệu
lực trong giai đoạn này đã gia tăng đáng kể mức độ mở cửa kinh tếcủa Việt
Nam với việc cam kết loại bỏ phần lớn các dòng thuế quan cho hàng hóa
nhập khẩu với lộ trình khác nhau. Theo chiều ngược lại, các đối tác cũng loại
bỏ thuế đối với phần lớn dòng thuế cho các sản phẩm xuất khẩu của Việt
Nam.
Đặc biệt, bước hội nhập quan trọng nhất được kể đến trong giai đoạn này là
việc Việt Nam hoàn tất quá trình đàm phán và gia nhập WTO với các cam kết
mở cửa trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, sở hữu trí tuệ và đầu tư. Và
mặc dù mức độ tự do hóa trong các cam kết gia nhập WTO không cao trong
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

12

so sánh với các cam kết trong các FTA, đây lại là những cam kết mở cửa với
diện rộng nhất (hầu hết tất cả các dòng thuế, 110/155 phân ngành dịch vụ, tất
cả các nguyên tắc thương mại liên quan tới đầu tư trong WTO…) và có mức
độ ảnh hưởng mạnh nhất tới nền kinh tế Việt Nam.
Trên thực tế, việc sửa đổi hệ thống chính sách, pháp luật về kinh doanh cũng
như cải cách toàn diện các thiết chế quản lý, vận hành kinh tế theo các yêu
cầu và tiêu chuẩn trong khuôn khổ các Hiệp định của WTO và chuẩn bị cho
các cam kết WTO đã tạo ra một bộ mặt mới về khung khổ chính sách cũng
như pháp luật về kinh tế của Việt Nam theo hướng minh bạch, cạnh tranh và
tự do hơn, đáp ứng các thông lệ quốc tế liên quan trong WTO.
3.3. Giai đoạn 2007-Nay
Giai đoạn này được đặc trưng bởi việc Việt Nam tham gia hội nhập sâu vào
thương mại quốc tế với việc đàm phán, ký kết nhiều FTA với các đối tác
quan trọng.
Cụ thể, trong thời gian này, Việt Nam tiếp tục đàm phán và ký kết thêm các

Tháng 11/2010, Việt Nam chính thức tham gia vào đàm phán Hiệp định Đối
tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, một đàm phán FTA lớn nhất của Việt Nam
khi đó, với các đối tác quan trọng, trong đó có Hoa Kỳ.
Một Hiệp định thương mại tự do “tiêu chuẩn cao”, Hiệp định của “thế kỷ 21”,
là điều mà các nước TPP kỳ vọng khi bắt đầu đàm phán và cũng được thể
hiện rất rõ ràng qua quá trình đàm phán phức tạp từ cuối 2009 đến naygiữa
các nước thành viên. Nếu những mục tiêu ban đầu được hiện thực hóa thì
TPP sẽ là bước tự do hóa thương mại đặc biệt sâu của Việt Nam so với tất cả
các cam kết WTO, FTA trước đây.
Cụ thể, nếu các mục tiêu tuyên bố của TPP thành hiện thực thì Việt Nam sẽ
phải mở cửa 100% thương mại hàng hóa (loại bỏ thuế đối với 100% dòng
thuế quan theo các lộ trình khác nhau), mở cửa thị trường dịch vụ hoàn toàn
trừ trường hợp có cam kết hạn chế (hướng tiếp cận mở, ngược với hướng tiếp
cận “chọn-cho” trong WTO – chỉ mở nhưng trường hợp có cam kết), tuân thủ
các nghĩa vụ mang tính hạn chế tối đa sự can thiệp vào các hoạt động đầu tư
nước ngoài vào Việt Nam. Cùng với đó, Việt Nam cũng sẽ phải thực hiện
một loạt những nghĩa vụ, ràng buộc khác liên quan tới tự do hóa thương mại
trong những lĩnh vực thương mại phi truyền thống như mua sắm công, doanh
nghiệp nhà nước… hay những lĩnh vực phi thương mại như tiêu chuẩn lao
động, môi trường…

Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)
Đàm phán FTA Việt Nam – EU bắt đầu từ tháng 6/2012, cũng với những
mục tiêu tự do hóa thương mại cao, theo tiêu chuẩn của các “FTA thế hệ
mới” tương tự như TPP.
Đàm phán với EU được cho là không phức tạp bằng TPP do đối tác tương đối
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

14


4.1. Vai trò của thương mại quốc tế trong nền kinh tế Việt Nam
Với các bước đi liên tục và mở rộng cả về phạm vi và đối tác, qua gần 3 thập kỷ hội
nhập, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong tự do hóa thương mại.
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

15

Kết quả của các bước hội nhập này là nền kinh tế Việt Nam đã trở thành một nền
kinh tế mở, với mức độ tự do hóa tương đối mạnh mẽ so với các nước có cùng trình
độ phát triển trong khu vực. Môi trường kinh doanh và các thể chế kinh tế của Việt
Nam cũng phù hợp hơn với thông lệ thế giới và các chuẩn mực kinh tế thị trường cơ
bản.
4.1.1. Sức ép thay đổi thể chế kinh tế
Quá trình hội nhập, đặc biệt thông qua việc gia nhập WTO,đã tạo sức ép để Việt
Nam hoàn thiện khung khổ chính sách, pháp luật nội địa về kinh tế, các thiết chế
kinh tế cũng như phương thức vận hành nền kinh tế theo các tiêu chuẩn thế giới.
Trong giai đoạn 2005-2006, để chuẩn bị nền tảng thể chế đáp ứng các yêu cầu trong
khuôn khổ WTO cũng như những đòi hỏi của các đối tác đàm phán trong Tổ chức
này, ở Việt Nam đã diễn ra một “làn sóng sửa đổi pháp luật kinh doanh” mạnh mẽ,
với quyết tâm cao của các cơ quan lập pháp và lập quy.
Quá trình xây dựng pháp luật theo WTO này trên thực tế được thực hiện theo 02
hướng cơ bản. Một là việc xây dựng mới hoặc sửa đổi các văn bản pháp luật đang có
để nội luật hóa các nghĩa vụ bắt buộc của Việt Nam trong WTO (ví dụ các quy tắc
cạnh tranh, không phân biệt đối xử, các biện pháp cấm áp dụng đối với đầu tư nước
ngoài, bảo hộ sở hữu trí tuệ…). Hai là xây dựng, sửa đổi pháp luật đểcụ thể hóa các
quyền lựa chọn mà WTO cho phép một nước thành viên thực hiện (ví dụ các biện
pháp phòng vệ thương mại, các hàng rào kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ…).
Để thực hiện việc hoàn thiện thể chế chính sách pháp luật trước khi gia nhập WTO
theo yêu cầu của các đối tác thành viên WTO (rút kinh nghiệm từ bài học Trung
Quốc, khi nước này cam kết nhiều về thể chế nhưng sau khi gia nhập đã rất chậm

Như vậy, có thể thấy hội nhập nói chung và việc mở cửa, tự do hóa thương mại nói
riêng có vai trò quan trọng, vừa là sức ép, vừa là chất xúc tác, cho việc hoàn thiện hệ
thống chính sách, pháp luật và thể chế kinh tế ở Việt Nam.
4.1.2. Động lực phát triển kinh tế
Về khía cạnh kinh tế, tự do hóa thương mại thông qua các cam kết mở cửa thương
mại nói riêng và việc tham gia các thỏa thuận, điều ước quốc tế phục vụ thương mại
nói chung đã mang đến cho nền kinh tế Việt Nam những bước phát triển mạnh mẽ.
Thể hiện rõ nhất là giai đoạn từ năm 2001 khi Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh
tế thế giới với việc ký kết BTA, gia nhập WTO và tham gia một loạt các FTA khu
vực. Giai đoạn này chứng kiến những chuyển biến đáng kể đối với nền kinh tế vĩ mô
của Việt Nam.
Cụ thể, giai đoạn từ năm 2001-2006, mặc dù vẫn phần nào chịu ảnh hưởng của cuộc
khủng hoảng tài chính – tiền tệ châu Á từ những năm 1997-1998, nền kinh tế đã có
những bước tăng trưởng vượt bậc, với tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm
lên tới 7,8%, được đóng góp chủ yếu bởi lĩnh vực công nghiệp – xây dựng, với tốc
độ tăng trung bình trên 10%/năm.
Giai đoạn từ năm 2007-2011, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới
năm 2008-2009, nền kinh tế nước ta cũng bị ảnh hưởng và có những bước phát triển
chững lại, với tốc độ phát triển trung bình chậm hơn giai đoạn trước, khoảng 6.5% -
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

17

7.1
7.3
7.8
8.4
8.2
8.5
6.3

8.9
7.4
6.6
7.5
7.0
6.4
0
2
4
6
8
10
12
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
GDP
Nông, lâm nghiệp, thủy sản
Công nghiệp, xây dựng
Dịch vụ
nhưng vẫn là tương đối cao so với thế giới. Lĩnh vực công nghiệp – xây dựng vẫn
chiếm ưu thế, nhưng tốc độ tăng trưởng chậm hơn, trong khi lĩnh vực dịch vụ vẫn
tăng trưởng đều và ổn định, vượt tốc độ tăng trưởng của công nghiệp – xây dựng.
Lĩnh vực nông, lâm, thủy sản luôn có tốc độ tăng trưởng thấp nhấtvà không ổn định
do bị tác động bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là thời tiết, dịch bệnh
Bảng – Diễn biến tăng trưởng GDP và các khu vực kinh tế giai đoạn 2002-2012

Nguồn: Đánh giá tăng trưởng kinh tế Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO – TS.
Phạm Lan Hương
Có rất nhiều yếu tố của thương mại quốc tế đóng góp vào sự tăng trưởng GDP và
các ngành kinh tế của Việt Nam trong thời gian vừa qua, trong đó đáng kể là vai trò
của xuất nhập khẩu và của khu vực đầu tư nước ngoài.

thặng dư 40 triệu USD, 2012 là 78 triệu USD và năm 2013 thặng dư 86 triệu
USD).
Hàng hóa nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu (chiếm
khoảng 80% kim ngạch). Hàng tiêu dùng chiếm khoảng 10% . Việc nhập
khẩu chủ yếu là hàng hóa vốn cho thấy việc nhập khẩu đang phục vụ cho mục
tiêu phát triển sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam và điều này là hợp lý. Mặc
dù vậy, cơ cấu hàng xuất khẩu như hiện nay cũng phản ánh tính mong manh
của sản xuất Việt Nam (phụ thuộc công nghệ, nguyên phụ liệu nước ngoài),
đồng thời việc nhập khẩu hàng tiêu dùng (chủ yếu là những sản phẩm cạnh
tranh trực tiếp với sản phẩm nội địa) cũng đặt ra những vấn đề không nhỏ đối
với sản xuất trong nước.
Bảng: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam qua các năm
Đơn vị tính: Triệu USD
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

19

Năm
Tổng xuất nhập
khẩu
Xuất khẩu
Nhập khẩu
1996
18.399
7.256
11.143
1997
19.907
8.756
11.151

32.442
36.978
2006
84.717
39.826
44.891
2007
111.244
48.561
62.682
2008
143.399
62.685
80.714
2009
127.045
57.096
69.949
2010
157.075
72.237
84.839
2011
203.656
96.906
106.75
2012
228.310
114.529
113.78

2000
46,4%
49,6%
96%
2008
64,3%
82,8%
147,1%
2013
77%
76,9%
153,9%
Nguồn: Báo điện tử Chính phủ (trích từ nguồn Tổng cục Thống kê)
Theo số liệu này, có thể thấy độ mở của nền kinh tế Việt Nam với kinh tế thế
giới về thương mại hàng hóa được tăng cường mạnh theo từng giai đoạn hội
nhập. So với mốc năm 1985 (thời điểm trước Đổi mới) thì tỷ trọng xuất nhập
khẩu trong GDPnăm 1995 khi Việt Nam bắt đầu các bước hội nhập đầu
tiênđã cao hơn 3,5 lần; năm năm sau, khi Việt Nam hoàn tất việc đàm phán
BTA với Hoa Kỳ thì xuất nhập khẩu đã xấp xỉ bằng GDP năm, với tỷ trọng
tương đương 1,5 lần so với năm 1995 và cao gấp 5 lần so với mốc 1985. Năm
2008, một năm sau khi Việt Nam gia nhập WTO, tỷ trọng này lên tới 147,1%.
Đến nay, tỷ trọng xuất nhập khẩu trên GDP đã tăng tới hơn 8 lần, và từ chỗ
chỉ chiếm chưa đầy 1/5 GDP, đến nay xuất nhập khẩu đã cao hơn tới trên 1,5
lần GDP.
Tóm lại, tốc độ tăng trưởng xuất nhập khẩu và tỷ trọng ngày càng lớn của xuất khẩu
hàng hóa trong GDP cho thấy trong thương mại hàng hóa, Việt Nam đang khai thác
tốt được thế mạnh sản xuất trong nước, tranh thủ được thị trường thế giới đồng thời
cũng cởi mở đối với thương mại từ nước ngoài. Các số liệu này cũng chứng minh
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

22

Bảng - Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiệnnăm 2013

Nghìn tỷ
đồng

cấu (%)
So với cùng kỳ
năm trước (%)
TỔNG SỐ
1091,1
100,0
108,0
Khu vực Nhà nước
440,5
40,4
108,4
Khu vực ngoài Nhà nước
410,5
37,6
106,6
Khu vực FDI
240,1
22,0
109,9

4.1.3. Về các đối tác thương mại
Quá trình hội nhập về kinh tế cũng đã giúp Việt Nam từ một nền kinh tế bị bao vây
cấm vận, với rất ít các quan hệ thương mại với các đối tác bên ngoài (và nếu có thì
chủ yếu là các nước khối xã hội chủ nghĩa trước đây) thành một nền kinh tế mở, có
quan hệ thương mại với gần 240 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, thu hút vốn
đầu tư từ trên 80 nước và vùng lãnh thổ.
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

24

Phần lớn các đối tác này đã có những thỏa thuận song phương hoặc đa phương về
thương mại với Việt Nam (lớn nhất là trong khuôn khổ WTO). Tuy nhiên cũng có
những đối tác mà quan hệ thương mại, đầu tư được phát triển dựa trên nhu cầu tự
nhiên, theo các thông lệ quốc tế chung mà không có thỏa thuận nào cụ thể.
Theo thống kê chưa đầy đủ từ Bộ Công thương thì kể từ đầu những năm 90 đến nay,
với các nỗ lực hội nhập nói chung và hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng của mình,
Việt Nam đã ký kết gần 12.000 Điều ước quốc tế. Xét riêng trong lĩnh vực thương
mại, Việt Nam đã gia nhập WTO, ký kết 07 Hiệp định thương mại tự do, 88 Hiệp
định thương mại song phương, 54 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 61 Hiệp định
khuyến khích và bảo hộ đầu tư.
Bảng – Các Hiệp định Thương mại Tự do mà Việt Nam đã ký kết
8 FTA Việt Nam đã ký kết
1. Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) (1996)
2. Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA) (2004)
3. Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) (2006)
4. Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện ASEAN – Nhật Bản (AJCEP)(2008)
5. Hiệp định Đối tác Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản (VJEPA) (2009)
6. Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Australia và New Zealand (AANZFTA)
(2010)
7. Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Ấn Độ (AIFTA) (2010)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status