1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Hoạt động đầu tư phát triển đối với 1 Doanh nghiệp là vô cùng quan trọng
vì nó quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của Doanh nghiệp đó. Tuy nhiên,
phải làm sao cho hoạt động đầu tư của Doanh nghiệp trở nên có hiệu quả cao nhất
không phải là 1 điều đơn giản đối với tất cả các doanh nghiệp. Cho đến nay khái
niệm đầu tư phát triển không còn gì xa lạ với những doanh nghiệp sản xuất cũng như
kinh doanh sản phẩm dịch vụ, song việc nhìn nhận, thực hiện có hiệu quả các nội
dung của hoạt động đầu tư phát triển trong Doanh nghiệp đối với mọi doanh
nghiệp không phải là dễ dàng.
Không ngoại lệ, công ty CP Khoáng sản Bình Định cũng nhận thức rõ được
tầm quan trọng của hoạt động đầu tư phát triển. Từ khi thành lập năm 2001, công ty
BIMICO Bình Định luôn quan tâm chú trọng đến hoạt động đầu tư phát triển của
công ty. Đến nay trải qua hơn 10 năm hoạt động, công ty đã đạt những kết quả kinh
doanh đáng kể.
Tuy nhiên, công ty cũng không tránh khỏi có những khó khăn và hạn chế
trong hoạt động đầu tư phát triển, khiến cho hoạt động đầu tư phát triển không đạt
được kết quả và hiệu quả như mong muốn. Qua quá trình tìm hiểu tình hình thực
tế hoạt động đầu tư phát triển của công ty cùng những kiến thức đã được học, em đã
quyết định chọn đề tài: “Đầu tư phát triển tại công ty cổ phần Khoáng sản Bình
Định” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Hệ thống hoá và làm rõ những vấn đề về lý luận có tính khoa học đối với
hoạt động sử dụng vốn đầu tư phát triển tại công ty CP Khoáng sản Bình Định
Đánh giá thực trạng sử dụng vốn đầu tư phát triển tại công ty CP Khoáng
sản Bình Định.
Đề xuất các giải pháp cụ thể để tăng cường sử dụng hiệu quả vốn đầu tư phát
triển tại công ty CP Khoáng sản Bình Định trong thời gian sắp tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: tập trung nghiên cứu tình hình sử dụng vốn đầu tư tại
tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm đạt các kết quả, thực hiện được các mục
tiêu nhất định trong tương lai. Tuy nhiên, đứng dưới các góc độ khác nhau thì nó cụ
thể như sau:
− Theo quan điểm tài chính: đầu tư là một chuỗi các hoạt động chi tiêu để chủ
đầu tư nhận về một chuỗi các dòng thu nhằm hoàn vốn sinh lời.
− Theo góc độ tiêu dùng: đầu tư là hình thức hạn chế tiêu dùng hiện tại để thu
về một mức độ tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai.
Để có thể hiểu rõ bản chất của hoạt động đầu tư chúng ta cần làm rõ những
yếu tố như: nguồn lực đầu tư, hoạt động đầu tư, đối tượng của hoạt động đầu tư.
Nguồn lực đầu tư: theo nghĩa hẹp được hiểu là bao gồm tiền vốn, còn theo
nghĩa rộng nó bao gồm vốn bằng tiền, đất đai, máy móc, lao động.
Mục tiêu của hoạt động đầu tư: bao gồm những lợi ích về mặt tài chính gắn
liền với doanh nghiệp, chủ đầu tư; những lợi ích về mặt kinh tế và những lợi ích về
mặt xã hội mà do hoạt động đầu tư tạo nên.
Đối tượng của hoạt động đầu tư: đầu tư vào tài sản hữu hình (tài sản vật chất),
đầu tư vào tài sản vô hình (nghiên cứu và phát triển, dịch vụ, quảng cáo, thương
hiệu), đầu tư vào tài sản sản xuất hay đầu tư vào tài sản lâu bền.
Đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật
chất, nguồn lực trí tuệ và lao động để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và kiến trúc hạ
tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực,
thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này nhằm duy
trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế
- xã hội, tạo ra việc làm và nâng cao đời sống cho mọi thành viên trong xã hội.
4
Đầu tư phát triển làm gia tăng tài sản cho nền kinh tế mà không phải là sự chu
chuyển từ đơn vị này sang đơn vị kia của nền kinh tế.
Vốn đầu tư
Căn cứ theo nguồn hình thành và mục tiêu sử dụng: vốn đầu tư được hiểu là
tiền tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, là tiền tiết kiệm
trình đổi mới của nền kinh tế nước ta thời gian qua. Với chính sách đổi mới, các
nguồn vốn đầu tư cả trong nước và nước ngoài ngày càng được đa dạng hóa và gia
tăng về quy mô, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế đạt được cũng rất thỏa đáng.
Cuộc sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận dân cư ngày càng được cải thiện.
• Đầu tư tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đầu tư có tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua những chính
sách tác động đến cơ cấu đầu tư. Trong điều hành chính sách đầu tư, nhà nước có
thể can thiệp trực tiếp như thực hiện chính sách phân bổ vốn, kế hoạch hóa, xây
dựng cơ chế quản lý đầu tư hoặc điều tiết gián tiếp qua các công cụ chính sách như
thuế, tín dụng, lãi suất để xác lập và định hướng 1 cơ cấu đầu tư dẫn dắt sự dịch
chuyển cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý hơn.
Kinh nghiệm của nhiều nước đi trước cho thấy nếu có chính sách đầu tư hợp
lý sẽ tạo đà cho sự tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỷ trọng phân bổ vốn
cho các ngành khác nhau sẽ mang lại hiệu quả và kết quả khác nhau. Vốn đầu tư
cũng như tỷ trọng vốn đầu tư cho các ngành và các vùng kinh tế có ảnh hưởng trực
tiếp tới sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và cũng đồng thời
đến tốc độ tăng trưởng chung của cả nền kinh tế. Không những thế, giữa đầu tư và
tăng trưởng kinh tế cũng như dịch chuyển cơ cấu kinh tế có mối quan hệ khăng khít
với nhau. Việc đầu tư vốn nhằm mục đích mang lại hiệu quả kinh tế cao, tăng
trưởng nhanh trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế cũng sẽ dẫn đến hình thành cơ cấu
đầu tư hợp lý. Ngược lại tăng trưởng kinh tế cao kết hợp với việc chuyển dịch cơ
cấu đầu tư hợp lý sẽ tạo nguồn vốn đầu tư dồi dào, định hướng đầu tư vào các
ngành hiệu quả hơn.
• Đầu tư tác động làm tăng năng lực khoa học công nghệ của đất nước
Đầu tư và đặc biệt là đầu tư phát triển trực tiếp tạo mới và cải tạo chất lượng
và năng lực sản xuất, phục vụ của nền kinh tế và các đơn vị cơ sở. Chính vì vậy,
6
đầu tư cũng là điều kiện tiên quyết cho quá trình đổi mới và nâng cao năng lực công
nghệ của quốc gia theo cơ cấu kỹ thuật của đầu tư, trong giai đoạn vừa qua, tỷ trọng
giá trị máy móc thiết bị trong tổng vốn đầu tư của Việt Nam chiếm khoảng 28%
sắm, lắp đặt máy móc thiết bị tiến hành các công tác xây dựng cơ bản khác và thực
hiện các chi phí gắn liền với hoạt động trong một chu kỳ chứa các cơ sở vật chất kỹ
thuật vừa được tạo ra. Đây chính là biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tư đối với
các đơn vị đang hoạt động, khi các cơ sở vật chất, kỹ thuật của các cơ sở này hao
mòn, hư hỏng cần phải tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật chất kỹ
thuật đã hư hỏng, hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện hoạt động
mới của sự phát triển khoa học kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã
hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi
thời. Đó chính là hoạt động đầu tư.
1.3. Đặc điểm của đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Đầu tư phát triển: là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật
chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và cấu trúc hạ
tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn
nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản này
nhằm duy trì tiềm lực mới cho nền kinh tế - xã hội, tạo ra việc làm và nâng cao đời
sống của mọi thành viên trong xã hội.
Đầu tư phát triển có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một quốc gia,
là một lĩnh vực hoạt động nhằm tạo ra và duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật
chất, kỹ thuật của nền kinh tế. Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, hoạt
động đầu tư là một bộ phận quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm
tăng thêm cơ sở vật chất kỹ thuật mới, duy trì sự hoạt động của các cơ sở vật chất,
kỹ thuật hiện có và vì thế là điều kiện để phát triển sản xuất kinh doanh dịch vụ của
các doanh nghiệp.
Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu tư
khác, đó là:
Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và nằm khê đọng trong suốt
quá trình thực hiện đầu tư. Đây là cái giá phải trả khá lớn của hoạt động đầu tư phát
triển bởi vì trong suốt quá trình đầu tư nó vẫn nằm dưới dạng các công trình dở
8
dang, do vốn lớn nên các nhà đầu tư cần phải cân nhắc lựa chọn đầu tư vào đâu cho
9
suất với số năm tồn tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án. Vì thế cần có chủ
trương đầu tư, quyết định đầu tư đúng đắn và đầu tư phải theo quy hoạch, kế hoạch,
cần phải có cơ sở khoa học để lựa chọn địa điểm mà doanh nghiệp hoạt động trên
đó. Nếu công trình không tiến hành cẩn thận có thể ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh
tế không chỉ một hai năm mà là lâu dài.
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao đòi
hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị. Sự chuẩn bị này được thể hiện trong việc soạn
thảo các dự án đầu tư (lập dự án đầu tư) có nghĩa là phải thực hiện đầu tư theo dự án
được soạn thảo với chất lượng tốt. Đó là quá trình thực hiện đầu tư và quá trình vận
hành khai thác. Quá trình thực hiện đầu tư ảnh hưởng tới việc lựa chọn địa điểm,
đến giá thành, chi phí xây dựng (giá đất) như chọn những nơi địa hình bằng phẳng
sẽ giảm được chi phí san bằng,… Quá trình vận hành khai thác ảnh hưởng đến khả
năng thu hồi vốn cao nếu địa lý thuận lợi, phải cân đối giữa giá thành xây dựng
công trình, chi phí vận chuyển và chi phí cung cấp sản phẩm với khả năng tiêu thụ
yếu tố đầu ra. Ngoài ra việc lựa chọn địa điểm còn ảnh hưởng đến dân cư, địa bàn,
môi trường sống.
1.4. Phân loại đầu tư phát triển trong doanh nghiệp.
Để tạo thuận lợi cho quản lý việc sử dụng vốn đầu tư nhằm đem lại hiệu quả
kinh tế xã hội cao, có thể phân chia vốn đầu tư thành các khoản mục sau:
− Trên góc độ quản lý vĩ mô, vốn đầu tư được phân thành bốn khoản mục lớn
như sau:
Những chi phí tạo ra tài sản cố định (mà sự biểu hiện bằng tiền là vốn cố
định).
Những chi phí tạo ra tài sản lưu động (mà sự biểu hiện bằng tiền là vốn lưu
động) và các chi phí thường xuyên gắn với một chu kỳ hoạt động của tài sản cố
định vừa được tạo ra.
Những chi phí chuẩn bị đầu tư chiếm khoảng 0,3 – 15% vốn đầu tư.
Chi phí dự phòng.
− Trên góc độ quản lý vi mô tại các cơ sở, những khoản mục trên đây lại được
Vốn đầu tư là một nguồn lực quan trọng cho hoạt động đầu tư. Đứng trên góc
độ vĩ mô, nguồn vốn hình thành vốn đầu tư phát triển bao gồm nguồn vốn trong
nước và nguồn vốn nước ngoài.
a. Nguồn vốn đầu tư trong nước: được hình thành từ phần tích lũy của nội bộ
nền kinh tế. Nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn vốn nhà nước và nguồn
vốn khu vực dân doanh:
Nguồn vốn nhà nước bao gồm: nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn vốn
tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp nhà
nước. Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn và có ý nghĩa quan trọng cho hoạt động
11
đầu tư phát triển kinh tế Việt Nam thời gian qua.
• Nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Đây là nguồn đầu tư chủ yếu, quyết định sự phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở
kỹ thuật xã hội, là nền tảng để thực hiện CNH – HĐH đất nước. Nhà nước của bất
kỳ quốc gia nào cũng quan tâm đến hoạt động đầu tư này. Đặc biệt là ở các nước
đang phát triển như nước ta là yếu tố vật chất có ý nghĩa quyết định để thực hiện tốt
nhất các chủ trương, chính sách phát triển KTXH của đất nước. Ở Việt Nam đây là
điều kiện vật chất ổn định và củng cố chế độ chính trị, nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước cũng như không ngừng cải thiện đời sống nhân dân. Vốn ngân sách đầu tư
hiện nay chia làm hai loại:
Vốn ngân sách TW dùng để đầu tư xây dựng các dự án (trồng rừng phòng
hộ, rừng đầu nguồn, các công trình chủ yếu của nền kinh tế…)
Vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các địa phương đầu tư vào những vấn đề
quan trọng của địa phương.
Trong những năm gần đây, quy mô vốn đầu tư nhà nước không ngừng gia tăng
nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau. Trong những năm 2005 – 2010 đầu tư
cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn chiếm khoảng 25%, công nghiệp 7,9%, GTVT
và bưu chính viễn thông là 28,7%.
Tuy nhiên nguồn vốn này có một số hạn chế như hiệu quả sử dụng thấp, tỷ lệ
thất thoát cao, vốn đầu tư thường dàn trải, không trọng tâm trọng điểm, hệ thống
622.977, số lượng đăng ký mới đạt 77.548 doanh nghiệp, với số vốn đăng ký đạt
trên 513 nghìn tỷ đồng.
Vốn của hộ gia đình: là phần thu nhập của hộ gia đình không bị tiêu dùng,
được tiết kiệm để đầu tư và tiền tích lũy từ các hoạt động kinh doanh mà không phải
là công ty.
• Thị trường vốn:
Là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán chứng khoán và các giấy ghi nợ trung
và dài hạn. Đây không phải là các sự kiện mua đi bán lại hay chuyển đổi các giấy tờ
có giá từ tay của một chủ thể này sang tay một chủ thể khác một cách đơn thuần nếu
nhìn nhận từ bên ngoài. Về thực chất, đây là quá trình vận động tư bản ở hình thái
tiền tệ - là quá trình chuyển tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh. Thị trường vốn
mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn tiết
kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các
tổ chức tài chính, chính phủ và chính quyền địa phương tạo ra một nguồn vốn
13
khổng lồ cho nền kinh tế. Đây được coi là một lợi thế mà không một phương thức
huy động nào có thể làm được. Gần đây việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp ra
công chúng đã huy động được một nguồn vốn đáng kể. Kênh huy động này ngày
càng có nhiều doanh nghiệp tham gia. Từ gần 3.000 tài khoản của nhà đầu tư tham
gia thị trường chứng khoán khi mới mở cửa vào năm 2000, tính đến tháng 12/2011,
con số này đã tăng lên 1.17 triệu tài khoản, tính đến cuối năm 2011, đã có 708 doanh
nghiệp niêm yết cổ phiếu trên cả hai Sở giao dịch chứng khoán và chứng chỉ quỹ, với
tổng số lượng chứng khoán niêm yết đạt 26,82 tỷ đơn vị. Tổng giá trị vốn hóa thị
trường tính tại thời điểm ngày 31/12/2011 đạt 535,673 nghìn tỷ đồng, suy giảm 32%
so với thời gian trước đó.
b. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là
dòng lưu chuyển vốn quốc tế, đó là quá trình chuyển giao nguồn lực tài chính
giữa các quốc gia trên thế giới. Theo tính chất lưu chuyển của vốn, có thể phân
loại các nguồn vốn nước ngoài chính như sau:
nhiên nó lại có ưu điểm rõ ràng là không gắn liền với các ràng buộc về chính trị xã
hội. Mặc dù vậy thủ tục vay tương đối khắt khe, thời gian trả nợ nghiêm ngặt, mức
lãi suất cao là những trở ngại không nhỏ đối với các nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự thận trọng trong
kinh doanh ngân hàng, nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng thương mại thường
được sử dụng chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn.
Một bộ phận của nguồn vốn này có thể dùng để đầu tư phát triển. Tỷ trọng của nó
có thể gia tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu dài, đặc biệt là tăng
trưởng xuất khẩu của nước đi vay là sáng sủa. Đối với Việt Nam việc tiếp cận với
các nguồn vốn này vẫn còn khá hạn chế.
• Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Đây là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư và phát triển không chỉ đối với các
nước nghèo mà cả đối với các nước phát triển. Nguồn vốn này khác cơ bản với các
nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận này không phát sinh nợ cho nước tiếp
nhận. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận
thích đáng khi dự án đầu tư hoạt động có hiệu quả. Đầu tư trực tiếp nước ngoài
mang theo toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên nó có thể thúc đẩy
phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật, công
nghiệp hay cần nhiều vốn. Vì thế nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với
quá trình CNH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước
15
nhận đầu tư. Do vậy để sử dụng hiệu quả vốn đầu tư FDI tùy thuộc chủ yếu vào
cách thức huy động và quản lý sử dụng nó tại nước tiếp nhận đầu tư chứ không phải
ở ý đồ của người đầu tư.
Không những là nguồn bổ sung vốn quan trọng, nguồn vốn FDI còn đóng góp
vào bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện cán cân thanh toán quốc tế.
Theo đánh giá, tỷ trọng đóng góp của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào GDP có
xu hướng tăng dần qua các năm. Bên cạnh đó nó còn đóng góp vào ngân sách một
phần đáng kể, đặc biệt nó góp phần tích cực vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ
và tốt hơn hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, bưu chính viễn thông … dần
TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu và các tài
sản khác có giá trị lớn, tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh, khi tham gia
vào quá trình sản xuất kinh doanh vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu,
nhưng giá trị của TSCĐ đã bị giảm dần và được chuyển vào giá trị sản phẩm, dưới
hình thức khấu hao.
Tài sản cố định trong doanh nghiệp, có nhiều công dụng khác nhau trong
hoạt động sản xuất kinh doanh, tùy theo mục đích nghiên cứu, để quản lý tốt cần
phải phân loại tài sản cố định. Phân loại tài sản cố định là việc sắp xếp, các tài sản
cố định trong doanh nghiệp thành các loại, các nhóm tài sản cố định có cùng tính
chất, đặc điểm theo các tiêu thức nhất định. Trong doanh nghiệp thường phân loại
TSCĐ theo một số tiêu thức sau:
• Phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện:
Tài sản cố định hữu hình: Là những TSCĐ có hình thái vật chất cụ thể như
đất đai, nhà cửa, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị sản xuất, thiết bị
truyền dẫn, dụng cụ quản lý, cây lâu năm và TSCĐ hữu hình khác,…
Tài sản cố định vô hình:Là những TSCĐ không có hình thái vật chất cụ thể
như giá trị quyền sử dụng đất, nhãn hiệu hàng hóa, bản quyền, bằng sáng chế,
phần mềm máy vi tính; giấy phép, giấy phép nhượng quyền, quyền phát hành,…
Cách phân loại này dùng làm căn cứ cho việc đề ra các quyết định đầu tư,
hoặc điều chỉnh phương hướng đầu tư, cho phù hợp với tình hình thực tế của
doanh nghiệp.
• Phân loại TSCĐ theo công dụng kinh tế
Căn cứ theo công dụng kinh tế, TSCĐ được phân thành 2 loại:
Tài sản cố định dùng trong sản xuất kinh doanh: Là những TSCĐ tham
gia trực tiếp, hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
như nhà cửa, vật kiến trúc, thiết bị động lực, máy móc thiết bị sản xuất,. . và những
TSCĐ không có hình thái vật chất khác.
Tài sản cố định dùng ngoài sản xuất kinh doanh: Là những TSCĐ, dùng
17
cho hoạt động sản xuất kinh doanh phụ trợ trong doanh nghiệp; và những TSCĐ
nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng thuê TSCĐ.
Vai trò của tài sản cố định
Là một trong những cơ sở đầu tiên được hình thành trong quá trình từ thời
18
điểm doanh nghiệp bắt đầu đi vào sản xuất kinh doanh. Bất kỳ doanh nghiệp nào
khi bắt đầu đi vào hoạt động cũng đều phải trải qua các giai đoạn tiền đề sau:
+ Chi phí ban đầu về đất đai: tiền thuê đất, mua đất, đền bù giải phóng
mặt bằng.
+ Chi phí xây dựng, lắp đặt nhà xưởng công trình, hạ tầng cơ sở.
+ Chi phí mua sắm máy móc phương tiện vận tải.
+ Chi phí mua sắm máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất.
Cùng với các chi phí khác, các chi phí cho tài sản cố định hữu hình thực sự trở
thành một trong những yếu tố không thể thiếu được trong quá trình hình thành, vận
hành sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Một khi hệ thống nhà xưởng, văn phòng và vật kiến trúc không đảm bảo cho
hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động quản lý, sẽ gây ra một sự cản trở rất
lớn tới sự thành công của doanh nghiệp. Do đặc điểm được sử dụng trong một thời
gian dài nên tầm quan trọng của hệ thống nhà xưởng lại càng lớn, cần phải tính toán
một cách kỹ lưỡng để tránh gây ra những hậu quả lâu dài.
Đầu tư vào máy móc thiết bị công nghệ lại là một trong những hoạt động cần
chú ý hàng đầu. Nhất là trong thời đại khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ và
thay đổi nhanh chóng như hiện nay. Một dây chuyền công nghệ sản xuất thích hợp
với các công nghệ mới đạt được các hiệu quả, sẽ giúp cho doanh nghiệp đạt được
sản lượng lớn với giá thành thấp và chiếm lĩnh được thị trường.
Hệ thống phương tiện vận tải cũng đóng vai trò quan trọng đối với hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong rất nhiều doanh nghiệp, nó quyết định
đến doanh số bán hàng, khả năng đáp ứng kịp thời các nhu cầu thị trường, đặc biệt
với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại. Do đó các doanh nghiệp không
những cần thiết phải chú trọng hoạt động đầu tư cho hệ thống phương tiện giao
thông vận tải mà còn phải chú trọng vấn đề bảo hiểm tài sản, đặc biệt đối với cả các
+ Tiền thuê đất, hoặc tiền chuyển quyền sử dụng đất.
+ Chi phí đền bù và tổ chức thực hiện trong quá trình đền bù.
• Mua sắm tài sản cố định khác dùng cho hoạt động sản xuất.
Doanh nghiệp cần ý thức được tầm quan trọng của việc mua sắm và đổi mới
trang thiết bị theo hướng hiện đại, nhập các máy móc thiết bị hoặc mua trong nước
các loại máy trong nước đã sản xuất với giá cả và công nghệ phù hợp với điều kiện
của doanh nghiệp cũng như điều kiện khí hậu, từng bước tăng tỷ lệ nội địa hóa của
sản phẩm công nghệ.
Chi phí này bao gồm:
Chi phí cho thiết bị máy móc cần lắp toàn bộ hoặc từng bộ phận trên nền
máy cố định.
Chi phí cho thiết bị không cần lắp đặt trên nền máy cố định.
Chi phí cho các máy móc thiết bị dụng cụ phục vụ cho quá trình quản lý,
kinh doanh, báo cáo tổng hợp.
Vốn đầu tư sửa chữa lớn tài sản cố định bao gồm:
Chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định: sửa chữa các tài sản hư hỏng sau một
thời gian sử dụng mà cần vốn lớn.
20
Chi phí nâng cấp tài sản cố định: nâng cấp các tài sản cố định cho phù
hợp với sự biến động của khoa học công nghệ, giúp cải tiến sản phẩm tăng
năng suất để hạ giá thành, tăng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cả
trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như trong hoạt động quản lý.
2.2. Đầu tư vào hàng tồn trữ.
Ta thường nói một cách đơn giản hàng dự trữ của doanh nghiệp bao gồm tồn
kho nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm. Tuy nhiên trên thực tế để
nghiên cứu kỹ về vấn đề này cần phải tiếp cận nó ở những góc độ khác nhau và đặt
trong những mối quan hệ cụ thể.
Xuất phát từ vai trò của hàng dự trữ đối với hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, nó được sử dụng để đảm bảo sự ổn định cho sản xuất và đáp ứng nhu cầu
của khách hàng. Vì vậy đầu tư vào hàng tồn trữ là việc làm không thể thiếu đối với
công nhân rảnh rỗi và các chi phí phát sinh khác…)
Dựa trên cơ sở thực tiễn, vai trò của hàng dự trữ được biểu hiện trong
mối quan hệ giữa việc khống chế lượng hàng dự trữ trong kho và hai loại nhu
cầu:
Nhu cầu độc lập: là nhu cầu do thị trường quyết định. Ví dụ như nhu cầu
đối với các thành phẩm như xe ô tô, máy giặt gia dụng và linh kiện dễ hỏng
như tấm phanh xe, vòng đệm cao su. Những nhu cầu này lúc nào thì sẽ nảy
sinh? Mỗi lần bao nhiêu? Không theo kế hoạch sắp xếp của doanh nghiệp nó
được gọi là nhu cầu độc lập. Tuy nhiên với phạm vi lao động và xu hướng thay
đổi nhất định trong một khoảng thời gian cùng những đặc trưng thay đổi, nhu
cầu này có thể dự đoán thông qua những số liệu lịch sử và các nhân tố tương
quan khác.
Nhu cầu phụ thuộc: là nhu cầu do nhu cầu của sản phẩm cuối cùng hay
hạng mục khác quyết định, nó có thể đoán trước và có thể khống chế được. Ví
dụ như: với một số lượng máy giặt cần sản xuất cho trước, thì số lượng nhu
cầu của nguyên vật liệu hoặc linh kiện như thùng giặt, máy định giờ, động cơ
điện, hoàn toàn có thể được quyết định căn cứ vào linh kiện, vì vậy nó được gọi
là nhu cầu phụ thuộc.
Tóm lại, nhu cầu xuất phát từ bên ngoài doanh nghiệp hay từ thị trường
là nhu cầu độc lập, còn gọi là nhu cầu khách hàng, những nhu cầu này nảy
sinh từ yêu cầu sản xuất bên trong doanh nghiệp gọi là nhu cầu phụ thuộc, hay
còn gọi là nhu cầu sản xuất. Nhu cầu độc lập có tính tùy cơ ứng biến cho nên
22
chỉ có thể dựa trên dự toán để tính toán. Nhu cầu phụ thuộc có tính xác định,
đặc trưng thay đổi theo thời gian đã được biết trước, vì vậy không cần dự toán
mà chỉ cần xác định theo kế hoạch sản xuất. Đáp ứng sự khác nhau về mặt tính
tồn kho của hai loại nhu cầu. Tức là do tính chất tùy cơ của nhu cầu độc lập
mà ta cần phải thiết lập lượng hàng tồn kho dự phòng nhằm tránh tổn thất do
thiếu hàng. Do tính xác định của nhu cầu phụ thuộc, về mặt lý thuyết thì không
cần thiết lập lượng tồn kho dự phòng, hơn nữa lý tưởng nhất là tất cả những
hàng cung cấp, khách hàng sẽ chuyển sang đặt hàng của doanh nghiệp khác và
hơn nữa uy tín của doanh nghiệp cũng bị tổn hại nghiêm trọng. Từ góc độ sản
xuất, trong quá trình sản xuất, thiếu hàng dẫn đến việc ngừng sản xuất đợi
nguyên liệu, ứ đọng bán thành phẩm, kéo dài thời gian giao hàng và dẫn đến
ngưng ca… chi phí của nó được tính lần lượt với ảnh hưởng của hoạt động
tương ứng.
2.3. Đầu tư vào nghiên cứu đổi mới và phát triển KHKT – CN
Theo quan điểm hiện đại, có thể hiểu: đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển
khoa học kỹ thuật là hình thức của đầu tư phát triển nhằm hiện đại hóa dây chuyền
công nghệ và trang thiết bị cũng như trình độ nhân lực, tăng năng lực sản xuất kinh
doanh cũng như cải tiến đổi mới sản phẩm hàng hóa, dịch vụ, đây cũng là hoạt động
đầu tư vào lĩnh vực phần mềm của công nghệ như thông tin, thương hiệu và thể chế
doanh nghiệp.
Về đầu tư phát triển phần cứng của khoa học kỹ thuật – công nghệ ở doanh
nghiệp có nghĩa là hoạt động đầu tư phát triển những dây chuyền máy móc, trang
thiết bị hiện đại. Trước tiên là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để tiếp nhận dây
chuyền máy móc thiết bị mới. Hai là, thực hiện đầu tư vào việc nhập khẩu dây
chuyền sản xuất phù hợp. Ba là thực hiện việc tiếp nhận công nghệ của dây chuyền
máy móc dựa vào công nghệ được tiếp nhận.
Về đầu tư phát triển phần mềm của khoa học kỹ thuật – công nghệ ở doanh
nghiệp có nghĩa là hoạt động đầu tư phát triển nguồn nhân lực, phát triển công nghệ
bao gồm thương hiệu, bí quyết kinh nghiệm doanh, uy tín …, và phát triển cơ cấu
thể chế tổ chức.
Về công nghệ: cần tiến hành nội dung như sau: thứ nhất, là doanh nghiệp có
thể mua công nghệ theo các cách khác nhau đó là:
Mua đứt công nghệ tức là công nghệ thuộc quyền sở hữu độc quyền của doanh
nghiệp, doanh nghiệp là người duy nhất có quyền quyết định về công nghệ đó. Từ
đó doanh nghiệp có khả năng sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ hiệu quả nhất, tốt
24
nhất, tạo lợi thế cạnh tranh cao nhất cho doanh nghiệp. Tuy nhiên trong thực tế các
25
triển nguồn nhân lực thông qua đào tạo… đều đòi hỏi khối lượng vốn lớn. Do
đó, về nguồn huy động vốn có thể là rất đa dạng, việc đầu tư phát triển khoa
học công nghệ không chỉ huy động nguồn vốn nội lực mà còn có thể huy động
từ bên ngoài như ODA hay FDI. Từ đó đòi hỏi doanh nghiệp phải sử dụng vốn
sao cho có hiệu quả nhất. Về thời gian thì đầu tư phát triển khoa học công
nghệ có thời gian thực hiện lâu dài và thời gian vận hành kết quả lâu dài. Về
kết quả của hoạt động đầu tư vào khoa học công nghệ là những tài sản có giá
trị lớn như những công trình khoa học, trang thiết bị tiên tiến hay trình độ
nguồn nhân lực.
2.4. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động để duy trì và nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức, là điều kiện quyết định để doanh nghiệp có
thể đứng vững và dành thắng lợi trong môi trường cạnh tranh. Do đó trong các
doanh nghiệp, công tác đào tạo và phát triển cần phải được thực hiện một cách có tổ
chức và có kế hoạch.
Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập
có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra
sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động.
Trước hết, phát triển nguồn nhân lực chính là toàn bộ những hoạt động học tập
được tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người lao động. Các
hoạt động đó có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngày thậm chí vài năm, tùy
thuộc vào mục tiêu học tập và nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho
người lao động theo hướng đi lên, tức là nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề
nghiệp cho họ. Như vậy, xét về nội dung phát triển nhân lực bao gồm các hoạt
động: giáo dục, đào tạo và phát triển.
Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người
bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề nghiệp mới thích hợp
hơn trong tương lai.
Đào tạo: (hay còn gọi là đào tạo kỹ năng) được hiểu là các hoạt động học