Môc lôc
Nội dung
Trang
Phần thứ nhất - Mở đầu
2
1. Lý do chọn đề tài
2
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Đối tượng nghiên cứu
4
4. Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu
4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
4
6. Phương pháp nghiên cứu
4
7. Thời gian nghiên cứu
4
Phần thứ hai - Nội dung
5
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài
5
1.Cơ sở lý luận
5
2.Cơ sở khoa học
5
Chương II: Thực trạng của đề tài
6
1.Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
6
rung lên những hồi chuông cảnh báo về nguy cơ lịch sử vẻ vang của một dân tộc
sẽ bị chôn vùi trong làn sóng kinh tế thị trường.
Là một giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử ở một trường trung học phổ
thông (THPT), bản thân tôi luôn trăn trở, day dứt về hiện tượng học sinh từ chối
và miễn cưỡng học môn Lịch sử. Tôi từng cố gắng thuyết minh với các em học
1
Sử là rất cần thiết, vì Sử không chỉ giúp các em làm nghề Sử, mà còn có thể làm
báo, làm chính trị, kể cả làm khoa học mà có tư duy về Sử thì cũng có lợi. Thế
nhưng, không thể thuyết phục được vì không nhìn đâu xa, các em cũng hiểu gần
mình nhất là cô giáo dạy Sử luôn là người nghèo nhất, ít cơ hội nhất. Mặc dù bộ
môn Lịch sử luôn giữ vị trí quan trọng trong chương trình đào tạo học sinh
THPT và rất có ưu thế trong việc giáo dục đạo đức và lý tưởng sống cho thế hệ
trẻ. Tuy nhiên, do nhận thức chưa đầy đủ hoặc phiến diện về vai trò, ý nghĩa,
chức năng của bộ môn Lịch sử nên chúng ta không đối xử với bộ môn này như
bộ môn khác. Nhiều ý kiến cho rằng, trong thời kỳ khoa học công nghệ (KHCN)
đang phát triển nhanh chóng, Sử học cũng như các môn khoa học nhân văn
khác, không thể có vị trí ngang hàng với khoa học tự nhiên - kĩ thuật. Trong khi
đó, ở phương Tây đã có ý kiến về việc "Khai tử khoa học Lịch sử" và biến môn
học này trong nhà trường thành việc kể chuyện Lịch sử.
Ở Việt Nam, việc dạy và học Lịch sử trong các trường THPT lâu nay vẫn
theo phương pháp truyền thống. Chỉ là những bài giảng suông với hàng loạt
những sự kiện và con số khô khan được nhồi nhét vào đầu học sinh. Chính điều
này đã gây nên sự chán nản và đối phó của học sinh trong việc học Sử.
Lịch Sử là cái hồn của dân tộc, là nguồn cội của sự phát triển đi lên, như
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy:
"Dân ta phải biết Sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam"
Vậy làm thế nào để học sinh thích Sử và làm thế nào để phát huy tính tích
cực của học sinh trong dạy học môn Lịch sử? Đây là những vấn đề luôn day dứt
những nhà giáo dạy Sử. Có rất nhiều biện pháp đã được các thầy cô giáo sử
học sinh yếu kém cũng được hoạt động một cách tích cực dưới sự hướng dẫn
của giáo viên và các học sinh khác. Đặc biệt đối với học sinh khá giỏi, việc giáo
viên sử dụng phương pháp này sẽ giúp các em nắm chắc kiến thức và hiểu sâu
hơn về bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử Đây cũng chính là mục
đích nghiên cứu của đề tài.
3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là một số bài học Lịch sử ở lớp 11, 12
(chương trình cơ bản).
4. Giới hạn phạm vi nội dung nghiên cứu
3
Đề tài xoay quanh việc nghiên cứu giảng dạy và học tập với việc: "Khai
thác hình thức phát vấn học sinh trong dạy học môn Lịch sử" ở một số bài
học cụ thể trong chương trình THPT.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài này, bản thân tôi đã phải làm các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu các tài liệu về "phương pháp dạy học Lịch sử''
- Nghiên cứu sách giáo khoa, sách giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng bộ môn
Lịch sử và các tài liệu liên quan bộ môn này.
- Tích cực thao giảng và dự giờ đồng nghiệp, trao đổi và nghiêm túc rút kinh
nghiệm qua từng tiết dạy.
- Thường xuyên kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh từ đó có sự
điều chỉnh, bổ sung kịp thời và hợp lý.
6. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài sáng kiến này, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp Lịch sử kết
hợp với các phương pháp đặt tình huống nêu vấn đề rồi phân tích, giải thích, so
sánh, tổng hợp và khái quát… nhằm giúp học sinh nắm vững, hiểu rõ bản chất
của các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà giáo viên đưa ra.
7. Thời gian nghiên cứu
Sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện trong thời gian từ tháng 9.2010 đến
tháng 2.2013
sinh.
CHƯƠNG II - THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI
1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Mong muốn tìm ra những con đường, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy
học bộ môn Lịch sử ở trường THPT là vấn đề chung của những nhà giáo dục -
đào tạo và nhiều tổ chức ban ngành có liên quan. Đã có nhiều bài viết, nhiều
sáng kiến kinh nghiệm nghiên cứu về vấn đề này. Tất cả những bài viết, những
sáng kiến kinh nghiệm ấy đều hướng tới việc tìm hiểu thực trạng của việc dạy và
học Lịch sử hiện nay. Từ đó đi tìm ra nguyên nhân và cuối cùng nêu ra những đề
xuất, giải pháp nhằm khắc phục thực trạng của việc dạy và học bộ môn Lịch sử
ở trường THPT.
5
Với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả dạy học bộ
môn Lịch sử ở trường THPT, tác giả mạnh dạn chọn đề tài này làm sáng kiến
kinh nghiệm dạy học của mình.
2. Tình hình đề tài hiện nay
Vấn đề tác giả nghiên cứu tuy không mới mẻ nhưng có ý nghĩa quan trọng
trong việc nâng cao ý thức của học sinh trong việc chủ động lĩnh hội kiến thức.
Qua đó giúp các em yêu thích học bộ môn Lịch sử hơn.
Mặc dù hiện nay một thực tế rất phổ biến ở các trường THPT đó là học sinh
chỉ trả lời được câu hỏi của giáo viên thông qua nhìn sách giáo khoa và nhắc lại,
thậm chí một số học sinh còn đọc nguyên xi sách giáo khoa để trả lời câu hỏi.
Hoặc các em chỉ trả lời được những câu hỏi dễ, đơn giản (như trình bày) còn
một số dạng câu hỏi tổng hợp, phân tích, giải thích tại sao hay so sánh thì các
em còn rất lúng túng hay trả lời mang tính chung chung. Vì thế, việc khai thác
tốt hình thức phát vấn đối với học sinh sẽ khơi dậy tinh thần tự giác và khả năng
sáng tạo của học sinh. Đồng thời tạo ra mối liên hệ bên trong của học sinh và
giữa học sinh với giáo viên.
CHƯƠNG III - GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Khai thác hệ thống câu hỏi mở
hướng mũi nhọn của những cuộc chiến tranh xâm lược vào các quốc gia ở Châu
Á. Vậy trong bối cảnh lịch sử như thế, số phận của các quốc gia Đông Nam Á
sẽ ra sao?
Với việc sử dụng loại câu hỏi nêu vấn đề này sẽ làm cho học sinh dễ nhận
thấy bản chất của những sự kiện, hiện tượng lịch sử hay của một giai đoạn Lịch
sử mà các em thấy cần phải chú ý.
1.2. Thiết kế câu hỏi gợi mở để giải quyết câu hỏi nhận thức
Ở bài 17 "Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa từ sau ngày 2 - 9 - 1945 đến
trước ngày 19 - 12 - 1946" (Lịch sử 12).
7
Khi dạy mục III - Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính
quyền cách mạng. Giáo viên tổ chức cho học sinh tìm hiểu sự bắt tay hòa hoãn
giữa quân Trung Hoa Dân quốc và Pháp thông qua Hiệp ước Hoa - Pháp
(28.2.1946). Theo Hiệp ước này Pháp nhường cho Trung Hoa Dân quốc một số
quyền lợi về kinh tế trên đất Trung Quốc. Ngược lại Pháp sẽ đưa quân ra Bắc
thay thế quân Trung Hoa Dân quốc làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật Bản.
Điều này đã vi phạm trắng trợn đến chủ quyền của dân tộc Việt Nam. Trước tình
hình đó, Đảng và Chính phủ ta phải có chủ trương, sách lược mềm dẻo để đối
phó với âm mưu thâm độc của kẻ thù.
Giáo viên đưa ra câu hỏi nhận thức sau:
8
2. Loại câu hỏi về quá trình, diễn biến phát triển của sự kiện, hiện tượng
lịch sử
Ví dụ:
- Hãy trình bày diễn biến của chiến dịch Biên giới thu đông năm 1950.
(Lịch sử 12)
- Nêu diễn biến của cách mạng tháng Tám năm 1945. (Lịch Sử 12)
C©u hái nhËn thøc Dù kiÕn tr¶ lêi C©u hái gîi më
Vì sao Đảng, Chính
phủ và Hồ Chí
sẽ là cuộc chiến
rất bất lợi cho
quân ta)
Hai là: Hòa với
Pháp để đuổi
Tưởng về nước,
loại bớt một kẻ
thù nguy hiểm,
kéo dài thời gian
hòa bình để chuẩn
bị lực lượng về
mọi mặt chống
Pháp sau này
Đảng ta đã lựa
chọn con đường
thứ 2 vì đất nước
ta lúc này vô
cùng khó khăn
không thể một
lúc đánh nhau với
nhiều kẻ thù.Bởi
lúc này Pháp đã
đưa quân ra Bắc
với danh nghĩa
chính thống
9
Tuy đây là loại câu hỏi ít suy luận song lại đòi hỏi trí nhớ của học sinh.
Người giáo viên phải biết nhiều sự kiện, địa danh, nhân vật để giúp học sinh
phát triển trí nhớ. Đối với loại câu hỏi này cũng nên cần chia câu hỏi thành
nhiều câu hỏi nhỏ, đồng thời lập các bảng niên biểu và mối liên hệ giữa các sự
học sinh giải quyết các câu hỏi có tính chất nhận thức kiến thức. Một hệ thống
câu hỏi tốt nêu ra trong quá trình giảng dạy phải phù hợp với khả năng của các
em, có tác dụng kích thích tư duy phát triển. Đồng thời với việc hỏi và trả lời
câu hỏi phải tạo ra được mối liên hệ bên trong của học sinh và giữa học sinh với
giáo viên. Tức là khi mỗi câu hỏi đưa ra, mỗi học sinh và cả giáo viên phải thấy
rõ vì sao trả lời được? Vì sao không trả lời được? Câu hỏi quá khó hay chưa đủ
sự kiện, tư liệu để các em trả lời. Và lúc đó người giáo viên phải làm nhiệm vụ
hướng dẫn học sinh, khơi gợi tư duy cho học sinh về câu hỏi đưa ra. Làm được
điều này cũng là thành công của người giáo viên trong việc phối hợp nhịp nhàng
và hiệu quả của quá trình làm việc tích cực giữa thầy và trò.
Cụ thể
Khi dạy bài 3 "Trung Quốc" (Lịch sử 11), giáo viên đưa ra câu hỏi so sánh:
Tại sao trong cùng bối cảnh lịch sử mà Nhật Bản tiến hành Duy tân thành công,
còn Trung Quốc Duy tân thì thất bại?
Với câu hỏi này học sinh sẽ chưa thể trả lời đầy đủ, giáo viên phải định
hướng, khơi gợi kiến thức đã học ở bài Nhật Bản:
- Nhật Bản tiến hành cuộc Duy tân Minh Trị trong hoàn cảnh đất nước chưa
bị Đế quốc xâm lược. Minh Trị là người đứng đầu chính phủ đã thực hiện Cải
cách triệt để, táo bạo Sau đó, học sinh sẽ nhớ lại nội dung của cuộc Cải cách
Minh Trị.
- Trung Quốc tiến hành Duy tân trong hoàn cảnh đất nước đang bị Đế quốc
tăng cường sâu xé. Chủ trương Duy tân của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi
không những không nhận được sự đồng thuận của cả triều đình mà còn vấp phải
sự chống đối quyết liệt của phái thủ cựu trong triều đình phong kiến đứng đầu là
Thái hậu Từ Hi.
Với cách giải quyết câu hỏi đó học sinh phần nào đã lí giải được nguyên
nhân thất bại của cuộc vận động Duy tân năm Mậu Tuất (1898) ở Trung Quốc.
Đồng thời khi dạy đến phần Duy tân ở Việt Nam dưới triều Nguyễn, giáo
viên có thể liện hệ đến Duy tân ở Nhật Bản và Duy tân ở Trung Quốc để các em
11
Chủ động, kiên quyết
Cách đánh
Sáng tạo bằng nhiều
hình thức
Lực lượng
Đông đảo quần chúng
nhân dân
Sau khi khai thác bảng so sánh và sơ đồ giáo viên giúp học sinh tổng kết
như sau: Trong khi các đội quân chính qui trên các mặt trận chủ yếu: "Án binh
bất động'' (như ở phòng tuyến Chí Hòa), thì các đội nghĩa quân họ chỉ với một
ngọn tầm vông, một hỏa mai đánh bằng rơm con cúi, hay một dao phay cũng có
thể:
"Đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không
Xô cửa xông vào liều mình như chẳng có"
(Trích Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc - Nguyễn Đình Chiểu)
Qua cách so sánh và tổng kết như thế giáo viên sẽ giúp học sinh nắm
vững, hiểu rõ nội dung của bài học, thậm chí của cả một vấn đề lịch sử lớn.
4. Loại câu hỏi phân tích, giải thích
Đây là loại câu hỏi nêu lên đặc trưng bản chất của các sự kiện, hiện tượng
lịch sử bao gồm sự giải thích, phân tích có thêm cả những đánh giá nhận định
của học sinh đối với sự kiện hiện tượng lịch sử nào đó. Loại câu hỏi này thường
áp dụng cho những học sinh khá giỏi. Đặc biệt trong quá trình thảo luận để đưa
ra ý kiến, những học sinh khá giỏi có thể bổ trợ kiến thức cho đối tượng học sinh
trung bình và yếu kém.
Ví dụ: Ở bài 11 "Tình hình các nước tư bản giữa hai cuộc chiến tranh thế
giới (1918 - 1939)" (Lịch sử 11). Sau khi dạy xong mục II - Thiết lập trật tự thế
giới mới theo hệ thống Véc xai - Oasingtơn, giáo viên đưa ra câu hỏi:
Tại sao trật tự thế giới mới vừa được thiết lập thì mâu thuẫn mới lại tiếp tục nảy
sinh trong thế giới TBCN?
Với câu hỏi này học sinh sẽ phải phân tích được đặc điểm của trật tự thế
tộc và dân chủ, cứu nước và cứu dân và đây cũng là hai nhiệm vụ gắn liền với
nhau không thể tách rời.
- Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi ra đời cũng đã xác định trong
Cương lĩnh là phải gắn liền 2 nhiệm vụ này.
14
- Nhiệm vụ nào được thực hiện trước là do hoàn cảnh lịch sử ở mỗi thời
kì, mỗi giai đoạn khác nhau nhưng không bao giờ Đảng ta sao lãng cả hai nhiệm
vụ đó.
- Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử cụ thể của thời kì 1936 - 1939 mà Đảng
ta đề ra mục tiêu dân chủ nhưng không quên mục tiêu dân tộc, vẫn giải quyết
những vấn đề lớn của dân tộc như: truyền bá Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, chủ nghĩa
yêu nước, tập hợp lực lượng, lãnh đạo và tổ chức quần chúng đấu tranh với
nhiều hình thức khác nhau. Thông qua các phong trào đấu tranh này đội ngũ cán
bộ, đảng viên được rèn luyện và ngày càng trưởng thành. Vì thế, phong trào dân
chủ 1936 - 1939 thực sự là một cuộc diễn tập, chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa
tháng Tám sau này, nó cũng mang mục tiêu dân tộc sâu sắc.
Hay ở bài 17 "Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ sau ngày 2 - 9 - 1945
đến trước ngày 19 - 12 - 1946" (Lịch sử 12). Khi dạy mục III - Đấu tranh chống
ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng. Giáo viên nên đưa ra
câu hỏi: Trong số các kẻ thù có mặt trên đất nước ta lúc này thì đâu là kẻ thù
nguy hiểm nhất. Vì sao?
Khi đưa ra câu hỏi này giáo viên có thể cho học sinh thời gian để thảo
luận và hỏi nhiều học sinh để lấy các câu trả lời và giải thích khác nhau của các
em. Tuy nhiên, sau đó giáo viên phải phân tích giúp các em hiểu được:
- Đối với 20 vạn quân Trung Hoa Dân quốc: Vào nước ta với danh nghĩa
quân đội Đồng minh để làm nhiệm vụ giải giáp quân đội Nhật Bản. Vì thế,
chúng không dám công khai đánh ta mà chỉ mượn tay sai Việt Quốc, Việt Cách
để kiếm cớ lật đổ chính quyền và tiêu diệt Đảng Cộng sản của ta. Đặc biệt, trong
thời gian này Trung Hoa Dân quốc cũng đang phải lo đối phó với Đảng Cộng
sản Trung Quốc và phong trào cách mạng trong nước nên sớm muộn cũng muốn
tranh lạnh do Mỹ phát động với Liên Xô và các nước XHCN làm cho thế giới
luôn trong tình trạng đối đầu, căng thẳng với các cuộc đấu tranh dân tộc, đấu
tranh giai cấp và đấu tranh giữa hai cực đối lập Xô - Mỹ; Đông - Tây.
17
- Thời kì sau "Chiến tranh lạnh" từ sau năm 1989: Là thời kỳ một trật tự thế
giới mới đang hình thành theo chiều hướng đa cực, nhiều trung tâm. Từ xu thế
đối đầu chuyển sang xu thế đối thoại. Thời kỳ này lại chia làm hai giai đoạn:
+ Giai đoạn từ cuối năm 1989 đến năm 1991
+ Giai đoạn từ 1991 đến 2000.
Như vậy, để trả lời tốt những dạng câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải nắm
vững kiến thức của nhiều bài học, thậm chí nhiều chương học.
Ở bài 23 "Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XX
đến chiến tranh thế giới thứ nhất 1914,, (Lịch sử 11). Để tổng kết và đánh giá
những hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, giáo viên có
thể nêu câu hỏi: Phân tích những điểm giống và khác nhau trong tư tưởng và
hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh?
Đây là dạng câu hỏi mang tính phân tích và tổng hợp cao vì vậy để phát
huy được tính sáng tạo của học sinh vừa đồng thời giúp học sinh hiểu rõ bản
chất của mỗi sự kiện, hiện tượng và nhân vật lịch sử thì cần có sự phối hợp làm
việc thống nhất giữa thầy và trò. Người giáo viên phải có sự hướng dẫn, gợi ý
cho học sinh để đạt được câu trả lời như sau:
- Về điểm giống nhau:
+ Cả hai phong trào đều là những phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân
chủ tư sản ở nước ta, đều do các văn thân sĩ phu yêu nước tư sản hóa khởi
xướng và lãnh đạo. Hai phong trào này đã đoạn tuyệt với con đường cứu nước
theo hệ tư tưởng phong kiến lỗi thời, đều tiếp thu và ảnh hưởng của các con
đường cứu nước mới trên thế giới đầu thế kỷ XX. Phan Bội Châu và Phan Châu
Trinh – những người lãnh đạo phong trào đều đỗ đạt cao ở chế độ phong kiến
đương thời nhưng lại chịu tác động và ảnh hưởng của tư tưởng cứu nước mới,
của Minh Trị Duy tân ở Nhật Bản, của Duy tân Mậu Tuất ở Trung Quốc.
Sau khi cho học sinh thảo luận, giáo viên định hướng học sinh trả lời để
đạt nội dung:
- Phong trào diễn ra sôi nổi theo khuynh hướng dân chủ tư sản mang
nhiều màu sắc (bên cạnh đấu tranh vũ trang đã có từ trước còn xuất hiện nhiều
hình thức mới như lập hội yêu nước, mở trường dạy học, ra sách báo, biểu tình,
diễn thuyết, bình văn )
19
- Lãnh đạo: Là những sĩ phu có nguồn gốc phong kiến nhưng chịu ảnh
hưởng của trào lưu dân chủ tư sản ở bên ngoài. Hoặc những trí thức tiểu tư sản
vươn lên đảm nhiệm sứ mệnh lãnh đạo phong trào.
- Lực lượng tham gia: được mở rộng hơn so với trước, không chỉ có nông
dân mà có cả tư sản, tiểu tư sản và công nhân.
Mặc dù phong trào yêu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX diễn ra rất sôi
nổi trên phạm vi rộng lớn nhưng tất cả các phong trào đó đều bị thực dân Pháp
đàn áp thất bại. Tuy nhiên, phong trào đã đạt một bước tiến mới, nó cũng biểu lộ
sâu sắc tinh thần yêu nước của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh tìm ra con
đường đúng đắn để giải phóng dân tộc.
6. Kết quả và bài học kinh nghiệm
Trong quá trình giảng dạy ở học kì I năm học 2011 - 2012, tôi đã mạnh
dạn vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này vào các tiết dạy và đã đạt được kết quả
rất khả quan. Trước hết bản thân tôi nhận thấy rằng những kinh nghiệm này rất
phù hợp với chương trình sách giáo khoa mới và với những tiết dạy theo hướng
đổi mới. Học sinh có hứng thú học tập hơn, tích cực chủ động sáng tạo để mở
rộng vốn hiểu biết, đồng thời cũng rất linh hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ
lĩnh hội kiến thức và phát triển kĩ năng. Không khí học tập sôi nổi, nhẹ nhàng và
học sinh yêu thích môn học hơn. Tôi cũng hi vọng việc áp dụng đề tài này học
sinh sẽ đạt được kết quả cao trong các kì thi và đặc biệt học sinh sẽ yêu thích
môn học này hơn.
* Kết quả cụ thể của học kì I năm học 2011 - 2012:
Líp SLHS
- Không nên đặt câu hỏi quá dễ làm cho học sinh thỏa mãn đi đến chủ
quan về vốn kiến thức của mình. Qua câu hỏi giáo viên giúp học sinh hiểu
rằng, sự trả lời đúng, đầy đủ câu hỏi do giáo viên nêu ra là tốt song để nắm
vững được bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử các em vẫn phải cố
gắng và nỗ lực hơn nữa.
- Cần tạo cơ hội cho học sinh trong cả lớp trả lời thông qua phương pháp
thảo luận nhóm. Tránh việc trình bày nhồi nhét làm cho không khí giờ học
21
căng thẳng, nặng nề khiến các em sợ học. Việc tạo ra một giờ học với không
khí thoải mái, nhẹ nhàng cũng là một trong những điều kiện tạo nên một giờ
dạy thành công.
Phần thứ ba - Kết luận và bài học kinh nghiệm
1. Kết luận
22
Việc khai thác hình thức phát vấn học sinh trong dạy học môn Lịch sử được
vận dụng hiệu quả trong các tiết học sẽ giúp học sinh đạt được kết quả học tập
cao nhất về tất cả các mặt giáo dục, giáo dưỡng và phát triển. Đây là hoạt động
tương hỗ giữa thầy và trò nhằm giúp cho học sinh độc lập lĩnh hội kiến thức một
cách thông minh và vận dụng một cách sáng tạo vào thực tế (học tập và cuộc
sống). Điều này đòi hỏi người giáo viên phải có ý thức học hỏi và tinh thần trách
nhiệm cao trong nghề nghiệp. Người giáo viên luôn luôn phải rèn luyện nghiệp
vụ thường xuyên, nắm vững lý luận và chuyên môn để nêu ra và hướng dẫn giải
quyết những câu hỏi thông minh nhất.
Vì thời gian có hạn, cùng với kinh nghiệm giảng dạy chưa nhiều, tôi chỉ
mạnh dạn trình bày quan điểm của mình trong việc sử dụng các loại câu hỏi để
phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Lịch Sử ở trường THPT. Với
sáng kiến kinh nghiệm này, tôi hy vọng góp một phần nhỏ vào việc giúp giáo
viên và học sinh trường THPT Trần Nhật Duật nói riêng, các đồng nghiệp và
học sinh các trường bạn nói chung thực hiện phương pháp vận dụng những
câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của học sinh để đạt kết quả cao hơn trong
dục, năm 2008.
5. Phan Ngọc Liên, Nguyễn Xuân Trường (đồng chủ biên), Hướng dẫn
thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Lịch sử lớp 11, Nxb Giáo dục, năm
2009.
6. Phan Ngọc Liên, Nguyễn Xuân Trường (đồng chủ biên), Hướng dẫn
thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Lịch sử lớp 12, Nxb Giáo dục, năm
2009.
7. Phan Ngọc Liên, Một số chuyên đề về phương pháp dạy học Lịch sử ở
trường phổ thông, Nxb Đại học Sư phạm, năm 2000.
8. Trần Văn Trị, Phương pháp dạy học Lịch sử, Nxb Giáo dục, năm 2000.
9. Nguyễn Văn Hồng, Mấy vấn đề về lịch sử Châu Á và lịch sử Việt Nam
một cách nhìn, Nxb Văn hóa dân tộc Hà Nội, năm 2001.
25