Nghiên cứu mô hình Chaebol Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho tập đoàn
kinh tế Việt Nam
Mục lục
Phần I. Hàn Quốc
I.Giới thiệu về Hàn Quốc
1.1. Đất nước - con người
1.2.Chính trị
1.3.Kinh tế
II.Mô hình Chaebol Hàn Quốc
2.1.Khái niệm
2.2.Lịch sử hình thành và phát triển của Chaebol
2.3. Đặc điểm Chaebol
III. Ưu nhược điểm và tác động của Chaebol tới nền kinh tế Hàn Quốc
3.1.Chế độ tập trung hoá và tính hình thức cao trong việc ra quyết định
3.2.Vị trí độc quyền trong nước
3.3.Khuynh hướng đa dạng hoá của Chaebol
IV. Đánh giá hoạt động của mô hình Chaebol từ sau khủng hoảng năm 1997
4.1.Những thành tựu đạt được sau cải tổ
4.1.1.Về cơ cấu kinh doanh
4.1.2.Về cơ cấu vốn
4.1.3.Về quản lý công ty
4.2.Những tồn tại chủ yếu
4.2.1.Trên phương diện vĩ mô
4.2.2.Trên phương diện vi mô
4.3.Tình hình hiện nay
4.3.1.Nguy cơ tan rã
4.3.2.Cơ cấu sở hữu thay đổi
4.3.3.Chaebol thâm nhập vào các ngành, lĩnh vực kinh doanh khác
1
Phần II. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
I.Khả năng vận dụng kinh nghiệm Hàn Quốc trong việc quản lý các tổng công ty theo
nước nhà. Cơ hội mở ra cho các doanh nghiệp trong nước là rất rộng lớn, nhưng bên cạnh đó
cũng đặt ra nhiều thách thức. Tham gia sân chơi chung, bản thân các doanh nghiệp phải nỗ
lực không ngừng, phải tự hoàn thiện mình chứ không thể trông chờ vào sự bảo hộ, giúp đỡ
từ phía nhà nước. Một thành phần kinh tế giữ vai trò quan trọng về phía các doanh nghiệp là
các tổng công ty lớn, mà hiện nay đa phần là tổng công ty nhà nước. Không nằm ngoài xu
hướng phát triển chung, các doanh nghiệp này muốn phát triển thành tập đoàn kinh tế lớn
mạnh thì phải học hỏi kinh nghiệm của các nước đi trước để cải cách có hiệu quả.
Hàn Quốc là một nước láng giềng xa của Việt Nam trong khu vực Châu Á nhưng
những bài học về cải tổ mô hình tập đoàn gia đình của họ - các Chaebol thì không hề xa lạ
với thực trạng tổng công ty của ta. Hàn Quốc hiện là một trong 30 nước OECD với thu nhập
bình quân đầu người cao ( hơn 16.000 USD) và tốc độ tăng trưởng khá ổn định ( 3 - 4%/
năm). Đạt được thành tựu ấy phải kể đến vai trò rất lớn của các Chaebol và một chính phủ
rất năng động. Sự kết hợp chặt chẽ hai yếu tố: doanh nghiệp và chính phủ mà chính phủ vẫn
giữ vai trò kiểm soát là biện pháp tỏ ra khá hữu hiệu để đưa nền kinh tế Hàn Quốc đi lên.
Nhìn vào thành công của Hàn Quốc và ngẫm lại thực trạng của mình là một điều cần thiết.
Để làm được những kỳ tích mà Hàn Quốc đã làm được, chính phủ Việt Nam, doanh nghiệp
Việt Nam còn phải học hỏi nhiều những kinh nghiệm của người đi trước. Thiết nghĩ, để tìm
ra lối đi cho các tổng công ty với mong ước phát triển thành tập đoàn lớn mạnh thì việc nên
làm là nghiên cứu mô hình Chaebol Hàn Quốc, tìm ra những ưu điểm và nét tương đồng để
vận dụng linh hoạt và tránh những nhược điểm mà họ đã mắc phải.
Nhận thấy tính cấn thiết của vấn đề, chúng em đã nghiên cứu đề tài " Nghiên cứu mô
hình Chaebol Hàn Quốc và bài học kinh nghiệm cho các Tập đoàn kinh tế Việt Nam" nhằm
hiểu rõ hơn về các Chaebol Hàn Quốc và tổng công ty nước ta trong xu hướng toàn cầu hoá.
4
I.Giới thiệu về Hàn Quốc
1.1.Đất nước - con người
Sau hơn bốn thập kỷ thực hiện chiến lược phát triển kinh tế, Hàn Quốc đã đạt được
nhiều thành tựu đáng kinh ngạc và được cả thế giới biết đến như " Kỳ tích trên sông Hàn".
Hơn 48 triệu người dân Hàn Quốc hoàn toàn có quyền tự hào về những gì đất nước mình
người theo tôn giáo thì 49% theo đạo Phật, 49% theo Kitô giáo, 1% là tín đồ đạo Khổng, còn
lại là tôn giáo khác. Các giá trị đạo Khổng ngày nay vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống
thường ngày của người dân xứ Hàn, người con trai cả đảm nhận trách nhiệm trụ cột trong
gia đình. Thêm vào đó tâm lý trọng nam cũng vẫn khá phổ biến ở Hàn Quốc.
Trong thành phần dân cư Hàn Quốc thì người Triều Tiên chiếm đại đa số. Dân tộc
thiểu số duy nhất là bộ phận nhỏ người Hoa.
Nhờ kinh tế phát triển nên chể độ ăn uống và chăm sóc y tế đều được cải thiện. Trong
những năm gần đây, ngân sách dành cho Bộ Y Tế và Phúc lợi đã tăng lên. Năm 2005, ngân
sách Chính phủ dành cho Bộ Y Tế lên tới 8906 tỷ won ( tương đương 9,2 tỷ USD). Tỷ lệ
chi cho y tế trong chi tiêu toàn hộ gia đình cũng tăng theo. Năm 2003 chi tiêu cho y tế bình
quân đầu người là 840.133 won, tăng gần 10 lần so với chi năm 1985 chỉ là 85.000 won.
1.2.Chính Trị
Dù ngày nay là một nước cộng hoà nhưng suốt chiều dài lịch sử, Hàn Quốc đã trải qua
nhiều năm tháng dưới chế độ độc tài hay phi dân chủ. Chỉ mãi đến cuối thập niên 80 của thế
kỷ XX, các nguyên tắc dân chủ mới bắt đầu được tôn trọng. Người đứng đầu nước là tổng
thống do dân trực tiếp bầu ra năm năm một lần và chỉ được giữ một nhiệm kỳ duy nhất.
Tổng thống là người hoạch định chính sách và người làm luật chủ yếu. Tổng thống hiện nay
của Hàn Quốc là ông Roh Moo-hyun ( Lỗ Vũ Huyền).
1.3.Kinh tế
Nền kinh tế Hàn Quốc là một nền kinh tế thị trường trong đó nhà nước đóng một
vai quan trọng.
Nếu cách đây 30 năm tổng sản phẩm quốc nội của Hàn Quốc chỉ đứng ngang với
với các nước nghèo ở Châu Phi và Châu Á thì hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội của Hàn
Quốc xếp thứ 10 trên thế giới. Năm 2005 GDP danh nghĩa của Hàn Quốc ước đạt khoảng
789 tỷ USD, GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) ước đạt khoảng 1.097 tỷ USD. Thu
nhập bình quân đầu người tính theo GDP danh nghĩa và theo sức mua tương đương lần lượt
là 16.270 USD và 22.620 USD(xếp thứ 33 và 34 thế giới).
6
Có rất nhiều yếu tố đã tạo nên sự phú cường của Hàn Quốc trong đó có ba yếu tố
chính là xuất cảng ngày càng nhiều, mức tiêu thụ tăng cao và đầu tư tăng trong lĩnh vực gia
1984
1985-
1989
1990-
1994
1995-
1999
2000-
2005
T?c đ? tăngGDP
.
Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia
II.Mô hình Chaebol Hàn Quốc
2.1.Khái niệm :
Chaebol (hay Jaebol) là tên của các tổ hợp công nghiệp có quy mô lớn thuộc sở hữu
của gia đình hoặc nhóm gia đình ở Hàn Quốc. Đây là một hình thức khối kinh tế tư nhân của
Hàn Quốc. Tiếng Hàn Quốc có nghĩa là “khối kinh doanh” hoặc tơ rớt (như tơ rớt dầu),
thường được dùng với nghĩa “đại doanh nghiệp” (tiếng Anh là “big business”).
Các đại doanh nghiệp kiểu “gia đình trị” này đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế
Hàn Quốc từ những năm 1960, một số đã trở thành những tên tuổi nổi tiếng thế giới như
Samsung, Hyundai và LG… Mỗi Chaebol bao gồm từ 40-50 công ty không có liên quan với
nhau về mặt kinh tế kỹ thuật nhưng thuộc sở hữu của một gia đinh, dòng họ. Về kết cấu, các
Chaebol Hàn Quốc là các khối kinh tế tư nhân, trong đó các thành viên của một gia đình
đóng vai trò chủ đạo. Một nghiên cứu của Shin(1985) cho thấy: 26% chủ tịch của các công
ty nòng cốt là các nhà sáng lập, 19% là con cái của họ, 21% là tuyển dụng từ nội bộ công
tyvà 35% là số tuyển dụng từ bên nngoài.Mặc dù, hơn 50% CEO không phải là thành viên
của gia đình nhưng những vị trí quản lý trọng yếuở tất cả các công ty đều do người sáng lập
nắm giữ. Về nguồn gốc truyền thống, chúng vẫn là các doanh nghiệp kiểu gia đình phong
kiến di thực lại và phát triển lên dưới chế độ TBCN. Các dòng họ sáng lập ban đầu là những
tộc trưởng tạo dựng công ty, do đó cơ cấu tổ chức của nó mang hình thức tập đoàn đẳng
Samsung Life
Insurrance
17.530,0 52,2 33.941,1 9.853
LG
International
17.311,1 26.9 1644,8 3.836
LG
Electronics
14.765,5 36,5 16.662,1 65.284
Hyundai
Motor
14.491,2 65,8 10.131,1 47.174
(Nguồn: theoUNSTAD,1998)
2.2.Lịch sử hình thành và phát triển của Chaebol
Giữa thế kỷ XX, nền kinh tế Hàn Quốc là nền kinh tế nhỏ và dựa vào nông
nghiệp là chủ yếu. Tuy nhiên, vào năm1961, các chính sách của Tổng thống Park Chung
Hee đã thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá mau lẹ thông qua hoạt động kinh doanh quy mô
lớn. Chính sách công nghiệp hoá của chính phủ đề ra theo hướng đầu tư mới, nghĩa là
chaebol được bảo đảm vay vốn từ khu vực ngân hàng. Nhờ đó, chaebol đã đóng vai trò chủ
đạo trong việc phát triển các ngành công nghiệp, thị trường mới và sản xuất hàng xuất khẩu,
góp phần quan trọng đưa Hàn Quốc trở thành một trong những con hổ Đông Á.
Mặc dù chương trình công nghiệp hoá chủ đạo của Hàn Quốc mới bắt đầu từ đầu
những năm 1960 nhưng sự phân biệt đẳng cấp trong các doanh nghiệp đã xuất hiện trong
nền kinh tế- chính trị từ những năm 1950. Trong suốt thời kỳ là thuộc địa của Nhật hiếm có
người dân Hàn Quốc nào sở hữu hoặc điều hành doanh nghiệp quy mô lớn. Sau khi quân
Nhật rút khỏi Hàn Quốc năm 1945, một số doanh nhân Hàn Quốc chiếm được tài sản từ các
cơ sở sản xuất của Nhật, một số trong đó đã phát triển thành Chaebol vào những năm 1990.
Khi quân đội lên nắm chính phủ năm 1961, các lãnh đạo quân đội thông báo rằng
họ sẽ nhổ tận gốc nạn tham nhũng từng gây rắc rối cho chính quyền Rhee và loại bỏ những
bất công trong xã hội. Nhiều nhà tư bản công nghiệp lãnh đạo đã bị bắt và buộc tội tham
thuật cao. Chaebol cũng là nguyên nhân của sự thay đổi từ thâm hụt thương mại năm 1985
thành thặng dư thương mại năm 1986. Tuy nhiên, cán cân tài khoản vãng lai đã giảm từ hơn
14 tỷ USD năm 1988 xuống còn 5 tỷ USD năm 1989.Cuối thập niên 80, Chaebol đã độc lập
và vững mạnh về tài chính nên không cần sự hỗ trợ và bảo đảm tín dụng của chính phủ nữa.
10
Đến thập niên 1990, Hàn Quốc là một trong các NICs lớn mạnh nhất, tự hào về mức sống có
thể so sánh với các nước công nghiệp.
Tổng thống Kim Young-sam đã bắt đầu thử thách Chaebol nhưng cho đến cuộc
khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 thì những hạn chế của hệ thống này mới bộc lộ rõ
nét. Trong số 30 Chaebol lớn nhất thì 11 đã sụp đổ từ giữa tháng 7 năm 1997 đến tháng 6
năm 1999. Chaebol được đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất hướng tới xuất khẩu, bỏ
qua thị trường trong nước và đặt nền kinh tế trước mọi sự suy sụp của thị trường nước
ngoài. Trong quá trình cạnh tranh lẫn nhau, các Chaebol đã tạo ra công suất vượt quá khả
năng chống chịu của mình: vào thời kỳ tiền khủng hoảng Hàn Quốc với số dân xếp thứ 26
trên thế giới đã có 7 nhà máy sản xuất ô tô lớn.
Nhiều Chaebol đã mắc nợ chồng chất do rót vốn mở rộng hoạt động của mình,
không chỉ các ngân hàng công nghiệp nhà nước mà cả các ngân hàng độc lập và các chi
nhánh cung cấp dịch vụ tài chính thuộc sở hữu của các ngân hàng đó. Hậu quả của khủng
hoảng khi các Chaebol không trả được nợ làm cho các ngân hàng không thể thu lại nợ và
xoá sổ nợ xấu mà không bị phá sản. Thí dụ điển hình nhất là sự sụp đổ của tập đoàn Daewoo
giữa năm 1999 với khoản nợ chưa thanh toán là 80 tỷ USD. Vào thời điểm đó, đây là vụ phá
sản doanh nghiệp lớn nhất trong lịch sử. Các cuộc điều tra cũng cho thấy nạn tham nhũng
lộng hành trong các Chaebol, đặc biệt là hối lộ và kế toán không trung thực.
2.3.Đặc điểm
Mặc dù kinh doanh theo những phương thức khác nhau, nhưng các Chaebol vẫn có
các đặc trưng chủ yếu sau:
-Các Công ty thành viên của Chaebol hoạt động kinh doanh chuyên ngành hoặc đa
ngành (chủ yếu là đa ngành)
Mọi quyết định quan trọng của Chaebol đều chỉ được quyết định ở cấp cao nhất, tức
chủ tịch và mọi nhân viên bắt buộc phải tuân thủ. Tuy nhiên các quan chức ở các cấp làm
nhánh)
12
+ Loại thứ hai: Cơ cấu Công ty cổ phần (mô hình của Daewoo Group)
Chủ sở hữu (Công
ty mẹ)
Công ty cổ phần
Chi nhánh hay công ty chi
nhánh
+ Loại thứ ba : Cơ cấu sở hữu hỗn hợp (mô hình của Samsung Group)
Chủ sở hữu (Công
ty mẹ)
Công ty cổ phần
Các tổ chức trung gian
Chi nhánh hay công ty chi
nhánh
-Về cơ cấu quyền lực trong chính quyền cũng như trong kinh doanh, các TNC hoàn
toàn nhất quán với các giáo lý của Khổng Tử và các giá trị truyền thống Hàn Quốc. Vì vậy,
mô hình này dường như chỉ thực hiện được trong một nền chuyên chế độc tài. Tất cả mọi
người dân và xã hội đã chấp nhận nó như một tập quán và truyền thống kinh doanh.
-Về cơ chế điều hành, trong mỗi Chaebol đều có một cơ quan điều hành riêng, cho
dù tên gọi khác nhau, các cơ quan này đều có chức năng giúp chủ tịch tập đoàn phối hợp
hoạt động của các công ty chi nhánh, điều hành nhân sự, tài chính, đầu tư nghiên cứu và
triển khai (R&D). Bằng các hoạt động cụ thể, các cơ quan điều hành góp phần nâng cao tính
hiệu quả của tập đoàn nói chung, các công ty chi nhánh nói riêng. Do quan hệ đẳng cấp, chủ
tịch Chaebol có vai trò chi phối các thành viên khác của hội đồng. Nhìn chung, chủ tịch
Chaebol mang tính độc đoán, gia trưởng, đó là đặc thù nổi bật nhất trong các tổ chức kinh
doanh Hàn Quốc
III. Ưu nhược điểm và tác động của Chaebol tới nền kinh tế Hàn Quốc
Sau hơn 30 năm tiến hành công nghiệp hoá, kinh tế Hàn Quốc phát triển nhanh
chóng. Hàn Quốc từ một trong những nước nghèo nhất thế giới đã trở thành một nước có
Nhật Bản ở tính hình thức cao. Việc phê chuẩn quyết định được xem như là công cụ thể hiện
quyền lực và sự kiểm soát nhiều hơn là sự tham gia của những người quản lý cấp dưới. Do
ảnh hưởng của đạo Khổng, chế độ gia trưởng và lòng trung thành mà trong hệ thống ra
quyết định của Chaebol không có sự chống đối của nhà quản lý cấp dưới. Các quyết định
thường đạt được sự nhất trí cao.
Sự tập trung hoá quyền lực cho phép các nhà quản lý cấp cao ở các Chaebol có thể
ra quyết định một cách nhanh chóng, giảm thiểu các chi phí và phân bổ nguồn lực giữa các
công ty chi nhánh đạt được hiệu quả hơn. Tuy nhiên nó cũng tạo ra mâu thuẫn gay gắt về lợi
14
ích giữa cổ đông nắm quyền kiểm soát và các cổ đông nhỏ khác. Ví dụ: cổ đông nắm quyền
kiểm soát đều muốn đa dạng hoá kinh doanh, tái đầu tư lợi nhuận vào các lĩnh vực kinh
doanh cơ bản, trong khi các cổ đông nhỏ lại muốn đa dạng hoá thông qua thị trường vốn.
Nhiều cổ đông lớn và các chủ tịch tập đoàn sử dụng tài sản của tập đoàn vào mục đích riêng
như mục đích chính trị làm ảnh hưởng đến lợi ích của các cổ đông nhỏ. Các cổ đông nhỏ
cũng phải gánh chịu khoản chi phí bất hợp lý này.
3.2. Vị trí độc quyền trong nước
Chính phủ không ngừng bảo trợ cho các Chaebol vì tính hữu dụng của chúng trong
quá trình công nghiệp hoá. Các Chaebol được hưởng quyền ưu đãi đặc biệt trong huy động
vốn. Các công ty thuộc Chaebol được vay vốn với mức lãi suất thấp hơn nhiều so với các
công ty không thuộc Chaebol và các công ty vừa và nhỏ. Ví dụ: Năm 1970 lãi suất vay vốn
với các công ty thuộc Chaebol là 7,2 % trong khi mức lãi suất trên thị trường là 35,2%.
Khoảng 50% tổng các khoản cho vay của ngân hàng nằm dưới sự kiểm soát của chính phủ là
ưu tiên giành cho các Chaebol lớn. Với mức lãi suất vay vốn thấp hơn so với các công ty
không thuộc Chaebol, các công ty thuộc Chaebol có lợi thế không công bằng về chi phí, từ
đó có thể đưa ra mức giá cạnh tranh mà các công ty khác không thể theo đuổi. Chính phủ
cũng thực hiện biện bảo vệ sản phẩm của các Chaebol bằng kiểm soát hàng nhập khẩu. Sự
thành công của các Chaebol trong các thập kỷ 70, 80, 90 chính là do chính sách tạo ra vị trí
độc quyền cho các Chaebol của chính phủ với mục đích giảm thiểu rủi ro bằng việc giảm
cạnh tranh trong nước đối với các Chaebol.
Nhờ lợi nhuận độc quyền nên các Chaebol có thể tích luỹ vốn một cách nhanh chóng