Tóm tắt Luận văn Tiến sĩ – Nguyễn Thị Cẩm Vân – NCS31.11TKT
Tháng Hai 2015 1 www.mfe.edu.vn
NEU – MFE 2015
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Nghiên cứu sinh: Nguyễn Thị Cẩm Vân
Khoa Toán kinh tế - ĐH Kinh tế quốc dân
Bảo vệ chính thức ngày 7 / 2 / 2015
________________________________________
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Việt Nam đã thực sự chuyển đổi kể từ khi bắt đầu thực hiện công cuộc Đổi mới. Tăng trưởng
kinh tế với tốc độ khá cao và liên tục đã giúp Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém phát triển, thu nhập
thấp, trở thành quốc gia đang phát triển có mức thu nhập trung bình và tạo ra những tiền đề quan
trọng để đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH. Những năm gần đây, khủng hoảng tài chính và suy thoái
kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực trên nhiều mặt đến nền kinh tế nước ta: tốc độ tăng trưởng kinh
tế đã suy giảm; chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt là cơ cấu ngành theo hướng CNH, HĐH đã chững
lại, các điểm yếu của nền kinh tế càng bộc lộ rõ như: năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh
tế thấp, chậm cải thiện
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã được đề cập đến khá nhiều trong các tài liệu nghiên cứu
về chất lượng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu ngành mới chỉ được
xem xét qua những phân tích thống kê ban đầu về những thay đổi của tỷ trọng các ngành trong cơ
cấu GDP hay cơ cấu lao động. Cho đến nay, số lượng các công trình có nội dung nghiên cứu sâu
về chủ đề này còn rất hạn chế. Đáng chú ý có một số nghiên cứu: của Nguyễn Khắc Minh (2009)
về nguồn tăng trưởng và thay đổi cơ cấu kinh tế ở Việt Nam; và của Nguyễn Thị Minh (2009, 2010)
về hiệu quả phân bổ giữa các ngành và về mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam… Các nghiên cứu đã có ở Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã cố gắng
phân tích theo các cách tiếp cận khác nhau và thực hiện trong những khoảng thời gian khác nhau
nền kinh tế. Sự chuyển dịch diễn ra theo hướng giảm tỷ trọng đóng góp của các ngành sơ cấp, tăng
tỷ trọng của các ngành chế biến chế tạo vào tăng trưởng đầu ra của nền kinh tế. Ngành công nghiệp
chế biến chế tạo không chỉ đóng vai trò then chốt trong tăng trưởng giá trị sản xuất của nền kinh
tế qua các thời kỳ mà cơ cấu ngành còn chuyển dịch tích cực từ các ngành thâm dụng tài nguyên và
lao động đến các ngành thâm dụng vốn và công nghệ.
3. Các nhân tố đặc trưng riêng của từng ngành và sự khác nhau về định hướng thương mại của
các ngành tạo nên tính đa dạng trong tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam.
4. Chuyển dịch cơ cấu ngành có đóng góp quan trọng vào tăng trưởng năng suất lao động của
Việt Nam thời kỳ 1995 – 2014, và tầm quan trọng của chuyển dịch cơ cấu ngành thay đổi mạnh mẽ
qua các thời kỳ nghiên cứu, trong đó ảnh hưởng mạnh nhất ở thời kỳ 2000 - 2010.
5. Chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng CNH, HĐH có quan hệ chặt chẽ và có tác động thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời kỳ 1998 - 2011.
5.2. Những kết luận, đề xuất mới rút ra từ các kết quả nghiên cứu
Từ các kết quả nghiên cứu, luận án rút ra một số kết luận sau:
1. Cơ cấu ngành của khu vực sơ cấp chuyển dịch từ nông nghiệp sang khai khoáng rồi đến thủy
sản. So với các nền kinh tế khác, Việt Nam là một trong số rất ít các quốc gia mà khu vực sơ cấp đi
theo định hướng xuất khẩu. Đặc điểm này chứng tỏ CNH ở Việt Nam vẫn ở giai đoạn thấp.
2. Mặc dù đã có tín hiệu chuyển dịch tích cực trong cơ cấu ngành của khu vực chế biến chế tạo
nhưng sự chuyển dịch này diễn ra chậm. Các ngành thâm dụng tài nguyên và lao động vẫn chiếm ưu
thế hơn so với các ngành thâm dụng vốn và công nghệ.
3. Quá trình chuyển dịch chậm chạp đã tạo ra một cơ cấu ngành có hiệu quả và năng lực cạnh
tranh thấp. Xu hướng giảm giá trị gia tăng, tăng chi phí trung gian ở cả ba nhóm ngành nông nghiệp,
công nghiệp và dịch vụ là một đặc điểm quan trọng của quá trình CNH ở Việt Nam.
Tóm tắt Luận văn Tiến sĩ – Nguyễn Thị Cẩm Vân – NCS31.11TKT
Tháng Hai 2015 3 www.mfe.edu.vn
4. Các kết quả đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng tỷ trọng vốn, đặc biệt là tỷ trọng lao
động công nghiệp đối với tăng trưởng của các ngành phi nông nghiệp và của nền kinh tế. Đây là kết quả
chưa được trả lời rõ ràng trong các nghiên cứu trước.
5. Các phát hiện của luận án sẽ giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách nhận diện được những
đặc trưng trong chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, và giúp gợi ý một số khuyến
xuống. Và như vậy, con đường lịch sử mạnh mẽ của chuyển dịch cơ cấu là tất cả các nước dịch
chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp và sau đó đến dịch vụ.
Các tài liệu đã trình bày một số lập luận để ủng hộ ý tưởng rằng: trong quá trình CNH, HĐH,
sự mở rộng của công nghiệp chế biến chế tạo là động cơ chính của tăng trưởng kinh tế. Bởi vì so
với các ngành khác, công nghiệp chế biến chế tạo cung cấp nhiều cơ hội hơn để tích lũy vốn, khai
thác tính kinh tế theo quy mô, tiếp thu công nghệ mới, có khả năng tạo ra năng suất cao hơn so với
Tóm tắt Luận văn Tiến sĩ – Nguyễn Thị Cẩm Vân – NCS31.11TKT
Tháng Hai 2015 4 www.mfe.edu.vn
các ngành khác thông qua việc mở rộng sản xuất. Sự năng động của khu vực chế biến chế tạo cũng
có ảnh hưởng quan trọng đến các khu vực còn lại của nền kinh tế thông qua các mối liên kết sản
xuất.
1.4. Các lý thuyết về sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Hầu hết các lý thuyết kinh điển của kinh tế phát triển như: lý thuyết “cất cánh” của Walt Rostow
(1960), các lý thuyết nhị nguyên (1954), lý thuyết tăng trưởng cân đối (1953), lý thuyết tăng trưởng bất
cân đối (1958), mô hình đàn ngỗng bay (1960s), lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của Moshe Syrquin
(1988), và lý thuyết kinh tế cơ cấu mới của Lin (2010) đều coi chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một
trong những nội dung quan trọng của sự phát triển trong thời kỳ CNH. Các lý thuyết đều thống nhất
rằng sự dịch chuyển các nguồn lực ra khỏi khu vực nông nghiệp truyền thống và các hoạt động sơ cấp
khác có năng suất thấp đã duy trì việc tăng năng suất, đó là đặc trưng của phát triển kinh tế. Và trong
quá trình CNH, sự lớn mạnh của khu vực chế biến chế tạo là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế. Các lý thuyết này cũng chỉ ra rằng hình thức chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước chậm phát
triển trong thời kỳ CNH, HĐH diễn ra rất phong phú, đa dạng, khó tìm thấy một khuôn mẫu chung duy
nhất cho mọi quốc gia. Đồng thời, các lý thuyết này nêu ra một giải pháp mang tính nguyên tắc là phải
xây dựng một cơ cấu kinh tế có sự liên kết, thúc đẩy lẫn nhau trong quá trình CNH, và vai trò của chính
phủ không thể được xem nhẹ trong quá trình này.
1.5. Tổng quan nghiên cứu về sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Luận án này trình bày tổng quan nghiên cứu theo ba phương pháp tiếp cận phân tích:
Thứ nhất, đã có rất nhiều các nghiên cứu về nguồn tăng trưởng sản lượng và thay đổi cơ cấu
dựa trên mô hình vào - ra. Một số nghiên cứu điển hình của: H.Chenery (1986); De Melo (1982),
Takahiro Akita và Agus Hermawan (2000), Mitsuhiro Hayashi (2005) … đã áp dụng tiếp cận vào -
hướng CNH, HĐH có tác động thúc đẩy tăng trưởng NSLĐ và trình độ phát triển ở Bến Tre thời kỳ
1998 - 2011.
Tóm lại, các nghiên cứu đã có ở Việt Nam về chủ đề này đã cố gắng phân tích theo các cách tiếp
cận khác nhau và trong những khoảng thời gian khác nhau, nhưng tác giả vẫn chưa tìm thấy một nghiên
cứu tổng hợp, sử dụng các phương pháp tiếp cận khác nhau để đánh giá một cách đầy đủ và chính xác về
quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế kể từ sau Đổi mới. Nghiên cứu này hy vọng có thể bổ sung
cho các nghiên cứu trước bằng cách sử dụng ba mô hình định lượng để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt
ra. Chương 2.
THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1989 – 2014
Chương 2 của luận án trình bày một số phân tích ban đầu về thực trạng chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 1989 – 2014
2.1. Một số chính sách liên quan đến sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam
Các chính sách có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu nền kinh tế bao gồm: chính sách
công nghiệp, chính sách thuế, chính sách tín dụng và chính sách cán cân thanh toán quốc tế… Cùng
với các chính sách cạnh tranh, khuyến khích chuyển giao khoa học và công nghệ, đầu tư và xúc tiến
xuất khẩu, phát triển nguồn nhân lực và các hình thức hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ…, hệ thống
các chính sách đã và đang từng bước đáp ứng được yêu cầu của CNH, HĐH đất nước trong quá trình
hội nhập với thế giới.
Quyết tâm CNH, HĐH nền kinh tế được thể hiện trong rất nhiều: chiến lược, quy hoạch, kế
hoạch, đề án, chương trình (phát triển vùng kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm, ngành, khu kinh tế, khu
công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao…)… đã được phê duyệt và công bố rộng rãi. Tuy
nhiên, do có quá nhiều chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án… tầm nhìn đến năm
2020, 2030 được xây dựng với nguồn lực hạn chế cả về tài chính và nhân lực nên các chính sách có
sự phân tán, thiếu trọng tâm, và chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn.
Vậy, dưới tác động của hệ thống các chính sách kinh tế đan xen nhau, quá trình chuyển dịch cơ
Khoảng cách lớn về NSLĐ giữa các ngành kinh tế đã dẫn đến sự dịch chuyển lao động từ ngành
có năng suất thấp sang các ngành có năng suất cao hơn. Sự dịch chuyển này góp phần nâng cao NSLĐ
và cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, mức NSLĐ thấp và tốc độ tăng NSLĐ
chậm chạp của các ngành và nền kinh tế, đi cùng với quá trình chuyển dịch chậm chạp của lao động
ra khỏi các ngành có năng suất thấp đã tạo ra một cơ cấu ngành phát triển theo chiều rộng có giá trị
gia tăng và năng lực cạnh tranh thấp, chưa thực sự tạo ra các ngành phát triển theo chiều sâu có giá
trị gia tăng và năng lực cạnh tranh cao.
Trên đây là những kết quả nghiên cứu ban đầu về thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam. Những kết luận này sẽ tiếp tục được kiểm chứng sâu hơn
bằng các nghiên cứu định lượng trong chương tiếp theo. Chương 3.
CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH CHUYỂN DỊCH CƠ
CẤU NGÀNH KINH TẾ VÀ ƯỚC LƯỢNG THỰC NGHIỆM CHO NỀN KINH TẾ
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1989 - 2014
Chương 3 trình bày cơ sở phương pháp luận ba mô hình định lượng về CDCCN kinh tế và áp
dụng ba mô hình này để phân tích sự CDCCN và nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 1989 - 2014.
Tóm tắt Luận văn Tiến sĩ – Nguyễn Thị Cẩm Vân – NCS31.11TKT
Tháng Hai 2015 7 www.mfe.edu.vn
A. CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN CÁC MÔ HÌNH PHÂN TÍCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH KINH TẾ
3.1. Mô hình vào - ra phân tích nguồn tăng trưởng đầu ra và thay đổi cơ cấu
Các ký hiệu:
X
i
là sản lượng trong nước của ngành i, X là véc tơ tổng đầu ra của nền kinh tế;
n
ij
.
Dạng ma trận của mô hình vào - ra trong nền kinh tế mở:
EAX)D(FEV)D(FX
trong đó, D là ma trận đường chéo (các phần tử trên đường chéo là
i
d
).
Hay
E)(DFDA)(IX
1
(3.1)
với DA là ma trận hệ số vào - ra hàng hoá trong nước.
Những thay đổi sản lượng được xác định bởi công thức:
(1)(2)
XXΔX
ΔFDR
(1)(1)
Mở rộng cầu trong nước (DD)
i
= NSLĐ trung bình của khu vực i;
r
i
= tăng trưởng năng suất ở khu vực i;
Q =
ii
qλ
, năng suất trung bình của nền kinh tế;
/Qqλk
iii
, tỷ trọng sản lượng của khu vực i.
Tóm tắt Luận văn Tiến sĩ – Nguyễn Thị Cẩm Vân – NCS31.11TKT
Tháng Hai 2015 8 www.mfe.edu.vn
Tốc độ tăng năng suất tổng thể được tính theo công thức:
(3.17) )]/Qq)(qλ(λ)q)(qλ[( λrk R
'
a
'
ss
'
s
'
a
'
mm
'
mii
+ 𝛃
𝟑
𝐤𝐜𝐧
𝐢𝐭
+ 𝛃
𝟒
𝐤𝐝𝐯
𝐢𝐭
+𝛃
𝟓
𝐥_𝐜𝐧
𝐢𝐭
+ 𝛃
𝟔
𝐥_𝐝𝐯
𝐢𝐭
+ 𝐜
𝐢
+ 𝐮
𝐢𝐭
(3.3b)
trong đó ý nghĩa của hệ số: 𝜷
𝟑
(𝜷
𝟒
) được giải thích là sự khác biệt giữa ảnh hưởng của tỷ trọng vốn
công nghiệp (vốn dịch vụ) đến tăng trưởng kinh tế so với sự ảnh hưởng của tỷ trọng vốn nông nghiệp
đến tăng trưởng kinh tế; 𝜷
𝟓
+ 𝛃
𝟔
𝐥_𝐜𝐧
𝐢𝐭
+ 𝐜
𝐢
+ 𝐮
𝐢𝐭
(𝟑. 𝟑𝐜)
Mô hình 3 đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu đầu vào đến tăng trưởng của ngành công nghiệp:
𝐥𝐧𝐠𝐝𝐩𝐜𝐧
𝐢𝐭
= 𝛃
𝟏
𝐥𝐧𝐤𝐜𝐧
𝐢𝐭
+ 𝛃
𝟐
𝐥𝐧𝐥𝐜𝐧
𝐢𝐭
+ 𝛃
𝟑
𝐤𝐧𝐧
𝐢𝐭
+ 𝛃
𝟒
𝐤𝐝𝐯
𝐢𝐭
+𝛃
𝐤𝐜𝐧
𝐢𝐭
+𝛃
𝟓
𝐥_𝐧𝐧
𝐢𝐭
+ 𝛃
𝟔
𝐥_𝐜𝐧
𝐢𝐭
+ 𝐜
𝐢
+ 𝐮
𝐢𝐭
(𝟑. 𝟑𝐞)
Mô hình 5 đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu đầu vào đến tăng trưởng của các ngành phi
nông nghiệp:
𝐥𝐧𝐠𝐝𝐩𝐩𝐧𝐧
𝐢𝐭
= 𝛃
𝟏
𝐥𝐧𝐤𝐩𝐧𝐧
𝐢𝐭
+ 𝛃
𝟐
𝐥𝐧𝐥𝐩𝐧𝐧
𝐢𝐭
+ 𝛃
𝟑
ngành diễn ra theo hướng giảm tỷ trọng của các ngành sơ cấp và tăng tỷ trọng của các ngành chế biến
chế tạo trong cơ cấu đóng góp vào tăng trưởng tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế.
Cơ cấu của khu vực sơ cấp có những thay đổi rõ rệt: thời kỳ 1989 - 1996, mở rộng đầu ra của
ngành nông nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất đến tăng trưởng sản lượng của khu vực sơ cấp; thời kỳ 1996
- 2000, sự mở rộng đầu ra nhanh chóng của ngành khai khoáng chi phối tăng trưởng đầu ra của khu vực
sơ cấp; đến thời kỳ 2000 - 2007, tăng trưởng sản lượng của ngành thủy sản giải thích hơn một nửa cho
tăng trưởng đầu ra của khu vực sơ cấp. Cơ cấu của cầu đối với các sản phẩm sơ cấp cũng có sự chuyển
dịch rõ nét: thời kỳ 1989 - 1996, mở rộng cầu trong nước, đặc biệt là đối với các sản phẩm nông nghiệp,
là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng đầu ra của khu vực sơ cấp; thời kỳ 1996 - 2000, tăng trưởng đầu
ra sơ cấp dựa vào mở rộng xuất khẩu, chủ yếu là mở rộng xuất khẩu của nhóm ngành khai khoáng; thời
kỳ 2000 - 2007, tăng trưởng đầu ra của khu vực sơ cấp bị chi phối bởi mở rộng xuất khẩu, nhưng mở
rộng xuất khẩu tập trung vào các sản phẩm nông nghiệp và thủy sản. So sánh với một số nền kinh tế
khác, Việt Nam là một trong số rất ít các quốc gia mà khu vực sơ cấp là khu vực định hướng xuất khẩu.
Ngành công nghiệp chế biến chế tạo đóng vai trò quan trọng đối với quá trình CNH, HĐH ở
Việt Nam. Sự mở rộng đầu ra của các ngành thâm dụng tài nguyên và lao động tuy vẫn đóng vai trò
quan trọng đối với tăng trưởng đầu ra của ngành công nghiệp chế biến chế tạo nhưng quy mô ảnh
hưởng đang giảm dần. Trong đó, các ngành chế biến thực phẩm và dệt may đóng góp hơn một nửa
cho tăng trưởng đầu ra của nhóm ngành thâm dụng tài nguyên và lao động thời kỳ 1989 - 2007. Các
ngành thâm dụng vốn và công nghệ ngày càng mở rộng ảnh hưởng đối với tăng trưởng đầu ra của
ngành công nghiệp chế biến chế tạo và của nền kinh tế.
Bên cạnh đó, mẫu hình tăng trưởng của Việt Nam trong thời kỳ 1989 - 2007 đã có những thay
đổi đáng kể do những thay đổi về cơ cấu đóng góp của các thành phần của cầu cuối cùng đối với tăng
trưởng. CNH hướng về xuất khẩu đã tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế ở Việt Nam. Thời kỳ 1989 - 1996, mở rộng cầu cuối cùng trong nước là nguồn
chính đóng góp vào tăng trưởng giá trị sản xuất của nền kinh tế. Thời kỳ 1996 - 2000, tuy mở rộng
cầu trong nước vẫn là thành phần chủ đạo đóng góp vào tăng trưởng (chiếm 56,9%) nhưng mở rộng
xuất khẩu cũng đóng vai trò quan trọng không kém (chiếm 51,8%). Nếu so sánh được thực hiện giữa
Tóm tắt Luận văn Tiến sĩ – Nguyễn Thị Cẩm Vân – NCS31.11TKT
Tháng Hai 2015 10 www.mfe.edu.vn
mở rộng trong nước và mở rộng xuất khẩu trong các ngành: nông nghiệp, công nghiệp chế biến chế
DD
EE
IS
IO
Tổng
DD
EE
IS
IO
Tổng
DD
EE
IS
IO
Tổng
I
Nhóm ngành
nông - lâm -
thủy sản
8.79
5.98
-2.25
4.43
17
5.69
4.46
1.72
-1.72
10.2
-1.7
-0.08
-0.39
0.38
0.33
-0
-0.26
0.08
0.15
3
Thuỷ sản
3.41
1.63
0.28
-1.18
4.14
1.09
0.73
0.02
0.03
1.87
0.05
1.45
-0.1
1.03
2.44
II
Nhóm ngành
công nghiệp
34.8
18.9
Ngành công
nghiệp chế
biến - chế tạo
22.8
15.4
4.62
-5.6
37.2
20.5
20.7
-6.97
8.75
43
12.1
38.1
-8.3
18.8
60.8
Tóm tắt Luận văn Tiến sĩ – Nguyễn Thị Cẩm Vân – NCS31.11TKT
Tháng Hai 2015 11 www.mfe.edu.vn
STT
Ngành
1989 - 1996
1996 - 2000
2000 - 2007
DD
EE
IS
IO
Sản xuất đồ
uống, thuốc lá
1.41
0.26
-0.1
-0.29
1.28
2.62
0.02
-0.21
0.37
2.8
0.9
1.24
-0
-0.09
2.04
7
Dệt, sản xuất
trang phục, đồ
da và các sản
phẩm liên quan
0.69
4.64
0.2
-0.74
4.79
2.16
8.49
0.95
từ giấy, sản
phẩm của nhà
xuất bản
1.11
0.18
-0.22
-0.08
0.99
0.79
0.3
0.06
0.24
1.39
0.6
0.62
-0.12
0.58
1.69
10
Sản xuất hoá
chất và sản
phẩm hoá chất
0.38
0.41
0.48
0.29
1.55
0.77
0.64
0.98
-0.16
0.1
0.63
0.39
0.36
0.8
0.73
2.28
0.53
3.38
0.36
-
0.73
3.55
13
Sản xuất các
sản phẩm từ
khoáng phi
kim loại khác
2.43
0.46
-0.53
0.56
2.92
2.31
0.15
0.4
-0.3
2.57
-1
1.01
0.66
-0.35
0.07
1.39
-0.1
1.89
-0.25
-0.47
1.07
3
0.11
7.08
-
0.49
9.7
16
Các ngành chế
tác khác
0.25
-0.03
2.63
0.18
3.04
6.13
4.04
-12.1
7.73
5.85
7.9
11.2
0.84
1.45
-0.7
12.8
12.2
2.14
-3.31
-0.3
10.7
9.41
0.64
3.83
-0.3
13.5
17
Sản xuất điện,
nước, khí đốt
1.55
0.73
1.44
-0.34
3.39
1.59
1.94
-3.22
0.55
0.87
1.04
0.64
13.9
-12.4
7.51
26.2
13.8
1.95
8.02
-
2.31
21.9
19
Thương nghiệp
1.77
1.98
0.01
2.05
5.81
7.53
5.66
-9.24
7.7
11.6
2.33
1.93
4.39
-
2.47
6.18
20
Vận tải
0.7
0.34
2.78
22
Hoạt động
ngân hàng, tài
chính, bảo
hiểm
0.71
0.95
-0.67
0.42
1.4
0.26
0.73
-0.71
0.17
0.45
0.53
-0.1
1.2
-
0.06
1.54
23
Thông tin và
truyền thông
0.27
0.26
-0.08
0.03
0.51
0.99
25
Văn hoá, giáo
dục, y tế
4.55
0.37
-0.33
0.35
4.93
4.61
0.43
-1.3
-0.19
3.55
3
0.02
0.03
0.03
3.08
26
Các dịch vụ
khác
8.64
0.63
-0.46
0.61
9.42
1.08
trưởng năng suất lao động Việt Nam thời kỳ 2000–2010 là sự dịch chuyển lao động từ ngành có năng suất
thấp sang các ngành có năng suất cao hơn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy trong các thời kỳ 1995–1999
và 2011–2014, tăng trưởng năng suất của các ngành là nguồn chính của sự gia tăng năng suất lao động tổng
thể của nền kinh tế.
Tóm tắt Luận văn Tiến sĩ – Nguyễn Thị Cẩm Vân – NCS31.11TKT
Tháng Hai 2015 13 www.mfe.edu.vn Hình 3.1. Nguồn tăng trưởng năng suất lao động Việt Nam, 1995 – 2014.
Nguồn: Tính toán của tác giả theo số liệu của GSO.
Bảng 3.8 cho thấy xu thế tăng liên tục của mức NSLĐ Việt Nam trong thời kỳ 1995 – 2014, song
tốc độ tăng trưởng NSLĐ lại giảm và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng đối với
tăng trưởng NSLĐ tổng thể nền kinh tế, trong đó, chuyển dịch cơ cấu có ảnh hưởng mạnh nhất ở thời kỳ
2000 - 2010.
Bảng 3.8. Đóng góp của chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành
vào tăng trưởng NSLĐ tổng thể nền kinh tế
Thời kỳ
NSLĐ
(triệu
đồng/người)
Tăng trưởng
NSLĐ
(%)
Đóng góp của
chuyển dịch cơ cấu
cho tăng trưởng
NSLĐ
1995 –
1999
+ 0.4957*kdv
it
+ 1.5823*l_cn
it
+ 0.6905*l_dv
it
+ 7.1664 + u
it
Kết quả này cho thấy: mỗi sự gia tăng tỷ trọng vốn (lao động) vào các ngành công nghiệp và dịch
vụ có tác động mạnh hơn đến tăng trưởng kinh tế so với tăng tỷ trọng vốn (lao động) nông nghiệp. Điều đó
-0.03
-0.02
-0.01
0
0.01
0.02
0.03
0.04
0.05
0.06
0.07
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
lnGDPnn
it
= 0.1556*lnknn
it
+ 0.2059*lnlnn + 1.2277*kcn
it
+ 1.0877*kdv
it
+ 0.9873*l_cn
it
+ 0.8267*l_dv
it
+ 9.4623 + u
it
Kết quả ước lượng chứng tỏ tăng tỷ trọng vốn và lao động vào các ngành công nghiệp và dịch vụ đều có
tác động thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng. Hơn nữa, một sự gia tăng tỷ trọng vốn dịch vụ sẽ có tác động
đến tăng trưởng nông nghiệp ít hơn là sự gia tăng tỷ trọng vốn công nghiệp.
Kết quả ước lượng mô hình (3.3d):
lnGDPcn
it
= 0.5475*lnkcn
it
+ 0.2515*lnlcn
it
+ 0.2251*knn
it
+ 1.2062*kdv
Kết quả ước lượng chứng tỏ: tăng tỷ trọng vốn vào các ngành nông nghiệp, công nghiệp đều có tác
động thúc đẩy tăng trưởng của ngành dịch vụ mạnh hơn là tăng tỷ trọng vốn dịch vụ; và mỗi sự gia tăng tỷ
trọng lao động dịch vụ có tác động đến tăng trưởng của ngành dịch vụ ít hơn là tác động của sự gia tăng
tương ứng về tỷ trọng lao động công nghiệp. Hơn nữa, mỗi sự gia tăng như nhau về tỷ trọng lao động nông
nghiệp và dịch vụ đều có tác động như nhau đến tăng trưởng của ngành dịch vụ.
Kết quả ước lượng mô hình (3.3f):
lnGDPpnn
it
= 0.5142*lnkpnn
it
+ 0.2923*lnlpnn
+ 0.2477*kcn
it
+ 1.041*l_cn
it
+ 7.3401 + u
it
Kết quả này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của ngành công nghiệp trong việc thúc đẩy tăng trưởng
của các ngành phi nông nghiệp. Hơn nữa, mỗi sự gia tăng tỷ trọng lao động công nghiệp sẽ có ảnh hưởng
đến tăng trưởng của các ngành sản xuất phi nông nghiệp lớn hơn ảng hưởng của sự gia tăng tương ứng tỷ
trọng vốn công nghiệp.
Các kết quả ước lượng cho thấy CDCCN kinh tế có quan hệ chặt chẽ với tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam thời kỳ 1998 - 2011. Các kết quả này cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của ngành công nghiệp trong
việc thu hút vốn và lao động để tạo ra sự CDCCN kinh tế và đóng góp vào tăng trưởng của các ngành và
nền kinh tế. KẾT LUẬN, MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ
Tóm tắt Luận văn Tiến sĩ – Nguyễn Thị Cẩm Vân – NCS31.11TKT
không kém, cho đến thập niên đầu của thế kỷ 21, mở rộng xuất khẩu đã trở thành nguồn chính giải thích
cho tăng trưởng đầu ra của nền kinh tế.
Tính đa dạng trong tăng trưởng và CDCCN phản ánh một phạm vi rộng các khuynh hướng của quá
trình CNH. Sự khác nhau giữa các ngành phần lớn là do các nhân tố đặc trưng riêng cho từng ngành và sự
khác nhau về định hướng thương mại. Quá trình CDCCN cho thấy có sự thay đổi đáng kể trong vai trò của
các ngành sơ cấp và các ngành CNCBCT trong quá trình CNH, HĐH đất nước. Cơ cấu ngành thay đổi theo
hướng giảm tỷ trọng của các ngành sơ cấp, tăng tỷ trọng đóng góp của các ngành CNCBCT. Hơn nữa, trong
cơ cấu ngành CNCBCT cũng có sự chuyển dịch từ các ngành thâm dụng lao động đến các ngành thâm dụng
vốn.
Nếu trong thời kỳ 1989 - 2000, khu vực sơ cấp đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng đầu ra
của nền kinh tế thì đến đầu những năm 2000, đóng góp của khu vực này vào tăng trưởng đã giảm đi đáng
kể. Cơ cấu của khu vực sơ cấp cũng thay đổi theo thời gian: thời kỳ 1989 - 1996, mở rộng đầu ra của ngành
nông nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất đến tăng trưởng sản lượng của khu vực sơ cấp; thời kỳ 1996 - 2000, sự
mở rộng đầu ra nhanh chóng của ngành khai khoáng chi phối tăng trưởng đầu ra của khu vực sơ cấp; đến
thời kỳ 2000 - 2007, tăng trưởng sản lượng của ngành thủy sản giải thích hơn một nửa cho tăng trưởng đầu
Tóm tắt Luận văn Tiến sĩ – Nguyễn Thị Cẩm Vân – NCS31.11TKT
Tháng Hai 2015 16 www.mfe.edu.vn
ra của khu vực sơ cấp. Trong cả thời kỳ 1989 - 2007, cơ cấu của cầu đối với các sản phẩm sơ cấp cũng có
sự chuyển dịch rõ nét. Mở rộng cầu trong nước, đặc biệt là đối với các sản phẩm nông nghiệp, là động lực
chính thúc đẩy tăng trưởng đầu ra của khu vực sơ cấp thời kỳ 1989 - 1996. Trong thời kỳ tiếp theo 1996 -
2000, tăng trưởng đầu ra sơ cấp dựa vào mở rộng xuất khẩu, chủ yếu là mở rộng xuất khẩu của nhóm ngành
khai khoáng. Tương tự thời kỳ trước, thời kỳ 2000 - 2007 tăng trưởng đầu ra của khu vực sơ cấp bị chi phối
bởi mở rộng xuất khẩu, nhưng mở rộng xuất khẩu tập trung vào các sản phẩm nông nghiệp và thủy sản,
đồng thời thời kỳ này mối liên kết ngành giữa nông nghiệp và thủy sản với các ngành trong nền kinh tế
cũng được cải thiện. So sánh với một số nền kinh tế khác, Việt Nam là một trong số rất ít các quốc gia mà
khu vực sơ cấp là khu vực định hướng xuất khẩu. Điếu đó cho thấy những bước tiến trong quá trình CNH
ở Việt Nam vẫn còn hết sức khiêm tốn.
Đóng vai trò then chốt trong tăng trưởng giá trị sản xuất của Việt Nam qua các thời kỳ, ngành
CNCBCT ngày càng mở rộng tầm ảnh hưởng đối với tăng trưởng đầu ra của nền kinh tế, mặc dù phần đóng
góp đó vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng của ngành. Xét trên phương diện cơ cấu ngành CNCBCT,
trong quá trình sản xuất, điều này phản ánh quá trình sản xuất mới chỉ dừng lại ở mức sơ chế hoặc làm hàng
gia công. Sự dịch chuyển về cơ cấu của cầu trong ngành chế biến thực phẩm lần lượt trải qua các giai đoạn
Tóm tắt Luận văn Tiến sĩ – Nguyễn Thị Cẩm Vân – NCS31.11TKT
Tháng Hai 2015 17 www.mfe.edu.vn
tăng trưởng từ dựa vào mở rộng cầu trong nước đến dựa vào mở rộng cầu trung gian. Ngành dệt may luôn
là ngành định hướng xuất khẩu trong các thời kỳ nghiên cứu.
Các ngành thâm dụng vốn và công nghệ ngày càng mở rộng ảnh hưởng đối với tăng trưởng đầu ra
của khu vực CNCBCT và của nền kinh tế. Trong thời kỳ 1989 - 2000, ngành hóa chất đi theo định hướng
thay thế nhập khẩu, ngành sản xuất kim loại và các sản phẩm từ kim loại chuyển dịch từ dựa vào cầu trong
nước đến thay thế nhập khẩu, ngành sản xuất cao su - plastic dịch chuyển từ ngành định hướng xuất khẩu
đến thay thề nhập khẩu, ngành sản xuất các sản phẩm điện - điện tử từ dựa vào cầu trong nước đến định
hướng xuất khẩu. Trong thời kỳ 2000 - 2007, sự mở rộng đầu ra nhanh chóng của các ngành như sản xuất
kim loại và các sản phẩm từ kim loại, hóa chất, cao su - plastic là do sự mở rộng nhanh chóng của xuất
khẩu. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại đối với các ngành sản phẩm từ kim loại và hóa chất là cùng với sự mở
rộng nhanh của xuất khẩu, tăng trưởng đầu ra của hai ngành này phụ thuộc khá lớn vào đầu vào trung gian
nhập khẩu. Bên cạnh đó, với vai trò của một ngành thay thế nhập khẩu, ngành sản xuất các sản phẩm điện
- điện tử đã có những đóng góp to lớn vào tăng trưởng đầu ra của nền kinh tế. Mặc dù là một ngành có lợi
thế cạnh tranh và tiềm năng phát triển nhưng cho đến nay, ngành công nghiệp được coi là mũi nhọn này
mới chỉ dừng lại ở các hoạt động lắp ráp đơn giản (kể cả các thiết bị và linh kiện điện tử).
Hình mẫu tăng trưởng của ngành CNCBCT ở Việt Nam cũng diễn ra tương tự như ở một số nền
kinh tế thành công khác ở Đông Á đã trải nghiệm như Hàn Quốc, Đài Loan. Kết quả phân tích cho thấy
Việt Nam đang đi theo con đường tăng trưởng của các nước Đông Á láng giềng có đặc điểm là coi mở cửa
và hội nhập là yếu tố tiên quyết đối với tăng trưởng và mở rộng nền tảng công nghiệp (chuyển dịch cơ cấu).
Tuy nhiên, điểm đáng lưu ý trong quá trình CNH ở Việt Nam là tốc độ tăng giá trị gia tăng của các ngành
luôn thấp hơn so với tốc độ tăng giá trị sản xuất. Quá trình chuyển dịch chậm đã tạo ra một cơ cấu ngành
có năng lực cạnh tranh thấp. Các kết quả phân tích so sánh cho thấy trình độ phát triển của nền kinh tế Việt
Nam vẫn còn ở giai đoạn đầu của quá trình CNH, HĐH, mặc dù đã có những thay đổi đáng kể trong cơ cấu
của các thành phần đóng góp vào tăng trưởng sản lượng của các ngành và nền kinh tế.
Sự mở rộng đầu ra của khu vực dịch vụ đóng góp vào tăng trưởng chung của nền kinh tế biểu
hiện xu thế giảm. Hơn nữa, sự phát triển hướng nội của khu vực này chủ yếu để đáp ứng sự mở rộng
kinh tế.
2. Một số khuyến nghị chính sách
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu của chương 2 và chương 3, một số khuyến nghị chính sách được
đề xuất như sau:
Thứ nhất, Việt Nam cần xây dựng một lộ trình CNH rõ ràng, dài hạn, phù hợp với các điều kiện và
năng lực thực tế của nền kinh tế.
Thứ hai, khi xây dựng chiến lược tổng thể về phát triển công nghiệp, Việt Nam có thể tập trung vào
những lĩnh vực giàu triển vọng bao gồm: thứ nhất là những ngành Việt Nam đang có lợi thế so sánh tĩnh (bao
gồm những ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động giản đơn như: dệt may, giày dép; và những
ngành vừa có hàm lượng lao động cao vừa sử dụng nhiều nguyên liệu nông - lâm - thuỷ sản như: thực phẩm,
đồ uống ); thứ hai là những ngành, sản phẩm mà cầu của thế giới đang tăng đồng thời Việt Nam có lợi thế so
sánh động vì phát triển các ngành này sẽ làm chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu sản xuất và xuất khẩu trong tương
lai không xa. Những ngành hội tụ cả hai yếu tố trên (cầu thế giới lớn và có lợi thế so sánh động) có thể là: những
ngành có hàm lượng lao động cao, chủ yếu là lao động lành nghề, lao động có kỹ năng cao với nhiều trình độ
khác nhau (như đồ điện, điện tử gia dụng, xe máy, máy bơm nước và các loại máy móc khác, các loại bộ phận,
linh kiện điện tử ); và những ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao (như sản xuất các loại máy móc
liên quan công nghệ thông tin như máy tính cá nhân, điện thoại di động…). Các chính sách phát triển ngành
được xác định thuộc nhóm thứ nhất phải hướng vào tăng năng suất đi cùng với tăng việc làm, hướng đến những
khâu có hàm lượng công nghệ vào giá trị gia tăng cao hơn nhằm vừa tránh sức ép về gia tăng việc làm vừa
chuyển dịch trôi chảy từ tăng trưởng dựa vào tài nguyên và nhân công giá rẻ sang dựa vào lao động có tri thức
kỹ thuật cao và đổi mới công nghệ. Các chính sách liên quan đến các ngành được xác định thuộc nhóm thứ hai
cần chủ động chuyển hướng từ chiến lược hướng nội sang chiến lược hướng ngoại, và đẩy mạnh xuất khẩu sản
phẩm nguyên chiếc.
Thứ ba, thúc đẩy tăng trưởng của ngành công nghiệp chế biến chế tạo dựa vào tăng năng suất và cải
tiến công nghệ, hỗ trợ phát triển các ngành công nghiệp có công nghệ cao và theo chiều sâu. Một bước đi
cần thiết của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm ổn định thị trường
đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến chế tạo, điều này phần nào sẽ làm giảm sự phụ thuộc vào đầu
vào nhập khẩu, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển giao công nghệ vào Việt Nam, giúp hàng hóa Việt Nam
tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Hiện nay, các ngành công nghiệp hỗ trợ tạo ra những sản phẩm
có nhu cầu lớn cần được tập trung phát triển là: phụ liệu dệt may, giày dép, linh kiện điện tử…