Nghiên cứu đề xuất các giải pháp để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế tỉnh Hậu giang theo hướng cạnh
tranh giai đoạn
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Tỉnh Hậu Giang được thành lập ngày 01 tháng 01 năm 2004 trên cơ sở
tách ra từ tỉnh Cần Thơ theo Nghị quyết số 22/2003/QH11 ngày 26 tháng 11
năm 2003 của Quốc hội khoá XI. Sau 10 năm thành lập, kinh tế-xã hội tỉnh
Hậu Giang đã có bước phát triển khá nhanh, tạo tiền đề quan trọng cho quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hậu Giang có lợi thế là trung tâm của
tiểu vùng Tây sông Hậu, đầu mối trung chuyển giữa vùng Tây sông Hậu và
bắc bán đảo Cà Mau qua quốc lộ 61, đường nối Vị Thanh-Cần Thơ, tuyến
đường thủy Thành phố Hồ Chí Minh-Cà Mau, Thành phố Hồ Chí Minh-Kiên
Giang. Những năm qua được sự quan tâm của Chính phủ, các bộ ngành ở
Trung ương đã tạo nhiều cơ hội cho tỉnh Hậu Giang sớm ổn định tổ chức bộ
máy, hỗ trợ vốn đầu tư kết cấu hạ tầng tạo tiền đề phát triển kinh tế-xã hội của
tỉnh. Bên cạnh đó, Hậu Giang có điểm mạnh nổi bật là sự lãnh đạo đúng đắn,
kịp thời của Tỉnh Ủy, quản lý điều hành năng động, sáng tạo của Ủy ban nhân
dân tỉnh, sự nỗ lực của các ngành, các cấp, sự đồng thuận của nhân dân, sự
liên kết với các tỉnh bạn, các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh nên đã huy
động được nhiều nguồn lực thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của
tỉnh 8 năm qua.
Chính nhờ sự tận dụng tối đa những cơ hội và sử dụng hiệu quả điểm
mạnh trên, Hậu Giang đã từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với
tốc độ cao so với vùng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt khá cao
12,38%/năm (năm 2011 đạt 14,12%; năm 2004 là 10,81%). Trong đó, khu
vực I: Nông, lâm, thủy sản tăng bình quân 4,55%/năm (năm 2004 là 3,99%);
khu vực II: Công nghiệp-xây dựng tăng bình quân 16,28%/năm (năm 2004 là
12,64%); khu vực III: Dịch vụ tăng bình quân 18,64%/năm (năm 2004 là
12,19%).
Giá trị sản xuất (theo giá so sánh 1994) tăng bình quân 15,59% (năm
tranh giai đoạn 2011-2015; 2016-2020 và tầm nhìn 2025 là vấn đề cần thiết.
Để góp một phần nhỏ về các ý tưởng vào phát triển kinh tế tỉnh Hậu
Giang, với sự đồng thuận của Hội đồng Khoa học tỉnh, Ủy ban Nhân dân tỉnh,
chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp để thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế tỉnh
Hậu giang theo hướng cạnh tranh giai đoạn từ 2011-2015, 2016-2020 và
tầm nhìn 2025”. Mục đích của đề tài là thông qua khái quát lý thuyết, để làm
cơ sở đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng kinh tế của tỉnh Hậu Giang trong giai đoạn 2004-2011. Đồng thời đề
xuất các giải pháp để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô
2
hình tăng trưởng kinh tế tỉnh Hậu Giang theo hướng cạnh tranh giai đoạn từ
2011-2015, 2016-2020 và tầm nhìn đến năm 2025.
2. Mục tiêu nghiên cứu
• Mục tiêu chung
Phân tích, đánh giá những kết quả đạt được và những hạn chế trong quá
trình thực hiện các giải pháp hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi
mô hình tăng trưởng kinh tế tỉnh Hậu Giang trong 6 năm (2005-2011), trên cơ
sở đó nghiên cứu đề xuất các giải pháp bổ sung nhằm thúc đẩy chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng cạnh tranh
giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2025.
• Mục tiêu cụ thể
(1) Phân tích, đánh giá thực trạng các giải pháp hỗ trợ chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng kinh tế trên địa bàn nghiên cứu trong thời
gian qua.
(2) Phân tích, đánh giá tác động của các giải pháp hỗ trợ đến thực trạng
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế tỉnh
Hậu Giang theo hướng cạnh tranh giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm
2025.
(3) Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bổ sung nhằm thúc đầy chuyển
pháp để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng
kinh tế giai đoạn từ năm 2011-2015; 2016-2020 và tầm nhìn 2025.
Giới hạn sử dụng số liệu thứ cấp đến năm 2011, một số nội dung cập
nhật đến năm 2012.
6. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và đề nghị, đề tài gồm 3 chương chính:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả và thảo luận
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
1.1 Tình hình nghiên ngoài nước
Về lý thuyết cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế đã được các
học giả tiền bối nghiên cứu khá kỹ lưỡng, trong đó phải nói đến lý luận tái
sản xuất Tư bản và hình thái Tư bản của Karl Marx.
Trong nền kinh tế hiện đại, cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế
được các nhà nhiên cứu các nước quan tâm nghiên cứu trên bình diện toàn
cầu và từng quốc gia, chẳng hạn:
Mô hình dựa vào tài nguyên của D. Ricardo: cho rằng đất đai là
nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Vì thế, khu vực đóng góp quan trọng cho
tăng trưởng kinh tế là nông nghiệp. Của cải, hay sản lượng quốc gia có được
là từ đất. Nhưng đất thì có giới hạn, sử dụng quá nhiều thì đất sẽ bạc màu,
làm cho năng suất giảm, vì vậy mức giá sẽ tăng, tức lạm phát tăng.
Mô hình nhị nguyên (mô hình hai khu vực): lý giải rằng, nguồn gốc
của tăng trưởng dựa vào hai yếu tố chính là lao động và vốn. Tăng trưởng
kinh tế dựa vào hai khu vực chính là nông nghiệp và công nghiệp. Tiêu biểu
cho mô hình này mô hình Lewis của trường phái Tân cổ điển và Harry
T.Oshima.
Mô hình Harrod-Domar: lại giải thích rằng nguồn gốc của tăng
triển nông thôn. Trung Quốc đã thực thi một loạt giải pháp toàn diện, song
đặc biệt nhấn mạnh một số giải pháp: tăng cường khả năng tự chủ, sáng tạo,
xây dựng đất nước theo mô hình đổi mới, sáng tạo, coi đây là điều cốt yếu của
chiến lược phát triển, nâng cao sức mạnh tổng hợp của đất nước.
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy cần tránh tăng trưởng tốc độ
cao mà quên đi vấn đề môi trường, chú ý xây dựng nền kinh tế tiết kiệm năng
lượng, nguyên liệu và bảo vệ môi trường; phát triển hợp lý vấn đề tam nông.
Trung Quốc coi trọng quy hoạch tổng thể sự phát triển thành thị và nông thôn,
khai thác phát triển hiệu quả nguồn tài nguyên quan trọng hàng đầu là đất đai,
coi trọng sự phát triển con người. Trong đổi mới mô hình tăng trưởng cần đề
cao vai trò của các địa phương điển hình là Quảng Đông, từ tỉnh có nền nông
nghiệp lạc hậu trở thành tỉnh có nền kinh tế đứng đầu Trung Quốc. Quảng
Đông kiên trì sự lãnh đạo của Đảng, theo con đường CNXH đặc sắc Trung
Quốc, kiên định lấy dân làm gốc và tư tưởng giải phóng, dám thử, dám làm,
cải cách kinh tế theo hướng thị trường XHCN, xử lý chính xác quan hệ giữa
cải cách, phát triển và ổn định.
Về đổi mới mô hình doanh nghiệp, Trung quốc cũng chia sẻ kinh
nghiệm xây dựng mô hình công ty quản lý, đầu tư vốn và tài sản Nhà nước tại
các doanh nghiệp cũng như phương pháp quản trị công ty, minh bạch hóa
6
thông tin, mối quan hệ giữa công ty với cổ đông chiến lược và các công ty
khác thuộc danh mục đầu tư.
Kỳ họp quốc hội Trung Quốc tháng 3 năm 2011 đã thông qua kế hoạch
5 năm lần thứ 12, Trung Quốc sẽ chuyển hóa toàn bộ mô hình kinh tế, từ
phương thức tăng trưởng phụ thuộc vào đầu tư và xuất khẩu sang phương
thức tăng trưởng mới mà động lực chính là người tiêu dùng Trung Quốc.
Để tăng tỷ trọng của tiêu dùng cá nhân trong GDP (từ 35% lên 45%),
Đảng cộng sản Trung Quốc chủ trương tăng phần của tiền lương trong giá trị
gia tăng bằng biện pháp nâng mức lương tối thiểu cho các đối tượng lao động
có thu nhập thấp (70% tổng số lao động) là lao động nông thôn và lao động
Một trong những nguyên nhân đưa Nhật Bản đến thời kỳ suy thoái kéo dài là
do mô hình kinh tế định hướng xuất khẩu không còn phù hợp với vị trí nền
kinh tế lớn thứ hai thế giới. Chính điều đó đã buộc Nhật Bản nghiên cứu và
chuyển đổi thành một nền kinh tế tiêu thụ như Mỹ thì mới giúp nền kinh tế
này phát triển bền vững hơn.
Do vẫn duy trì định hướng xuất khẩu nên mặc dù nằm cách xa trung
tâm của cuộc khủng hoảng ở Mỹ và Anh, nền kinh tế Nhật Bản đã được ghi
nhận là rơi nhanh nhất và sâu nhất trong cuộc khủng hoảng hiện nay. Từ nhận
thức đó, Nhật đang tìm cách thúc đẩy chuyển đổi mô hình kinh tế với việc
phát triển thị trường nội địa làm trọng tâm. Theo đó, chính phủ Nhật đã tìm
cách tăng nhu cầu trong nước và bảo vệ đời sống nhân dân theo triết lý
“tương thân tương ái”.
Khoảng cách nông thôn và thành thị phải được thu hẹp. Thông qua đó
sẽ ưu tiên hỗ trợ dân chúng, trợ giúp những gì thiết yếu cho trẻ em, giáo dục,
y tế và điều dưỡng trong một xã hội Nhật Bản đang già đi. Chính sách này
như chuyển “từ bê tông sang con người”. Nhiều dự án cơ sở hạ tầng đang
được xem xét lại để chuyển đổi cấu trúc chính sách tài chính.
Như vậy, lần đầu tiên kể từ Chiến tranh thế giới II, trọng tâm chú ý ở
Nhật Bản sẽ là những hộ gia đình chứ không phải là các công ty. Cam kết sửa
đổi lại chính sách hậu chiến tranh của Nhật Bản và thiết lập một xã hội dựa
trên khái niệm “tương thân tương ái” của mình, ông Hatoyama nói rằng “thời
kỳ thay đổi thật sự đang nằm phía trước”.
Trong quá khứ Nhật Bản đã cho thế giới tận hưởng những sản phẩm
công nghệ tiên tiến của họ, nếu chính sách mới ưu tiên công nghệ xanh và vì
con người này thành công, Tokyo có thể trao món quà mô hình phát triển kinh
tế mới cho các nước láng giềng và thế giới.
Malaysia: sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu,
Malaysia đã nghiên cứu và đưa ra chính sách mới về kinh tế như: tất cả những
người bản xứ, cũng như những người thuộc các chủng tộc khác, đều được
phép tham gia đấu thầu các công trình, dự án một cách cạnh tranh và minh
giá trị cao và phấn đấu trở thành một trung tâm sinh học hàng đầu thế giới.
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, đã
xác định trọng tâm quan trọng trong phát triển kinh tế giai đoạn 2011-
2015 là: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ chủ yếu phát triển theo
chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng
quy mô vừa chú trọng chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Tái cấu trúc đầu tư
với trọng tâm là đầu tư công chỉ có thể thành công trên cơ sở tiếp tục đổi mới
tư duy và phương pháp xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh
tế-xã hội hàng năm và 5 năm để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả
nhất các nguồn nội lực và ngoại lực cho đầu tư phát triển theo quy hoạch.
9
Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển
đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng cạnh tranh là dựa vào tiến bộ
khoa học kỹ thuật và nguồn nhân lực chất lượng cao. Dựa trên cơ sở máy móc
thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất cao cấp để chuyển sang phát triển theo
chiều sâu, khai thác tốt nhất tiềm năng, lợi thế, nâng cao chất lượng, hiệu quả
và sức cạnh tranh, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tốc độ và chất lượng
tăng trưởng kinh tế, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội và
bảo vệ môi trường. Để sau năm 2020, Thành phố Hồ Chí Minh sẽ là một
trong những thành phố hiện đại, phát triển nhanh và năng động nhất khu vực
Đông Nam Á và Châu Á-Thái Bình Dương. Thành phố Hồ Chí Minh sẽ vươn
lên trở thành một trung tâm đa chức năng, trong đó nổi bật là một trung tâm
tài chính của khu vực với các ngành dịch vụ cao cấp giữ vai trò chi phối.
Tỉnh Đồng Nai xác định mô hình tăng trưởng kinh tế đến năm 2020
tầm nhìn 2025 là chuyển từ tăng trưởng chủ yếu theo chiều rộng sang phát
triển theo chiều sâu dựa trên việc sử dụng hiệu quả 4 nhóm yếu tố chủ yếu: tài
nguyên, vốn đầu tư, nguồn nhân lực chất lượng cao và tiến bộ khoa học kỹ
thuật bao gồm máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ sản xuất hiện đại, phần
mềm quản lý tiên tiến đảm bảo nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh.
2.1 Cơ sở lý thuyết
2.1.1 Khái luận tăng trưởng kinh tế và mô hình tăng trưởng kinh tế
2.1.1.1 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự
gia tăng về qui mô sản lượng của nền kinh tế của một quốc gia trong một thời
gian nhất định, được đo lường bằng chỉ tiêu qui mô và tốc độ tăng GDP, GNP
và các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác.
Tăng trưởng kinh tế đóng vai trò quyết định cho phát triển xã hội, là
nền tảng vật chất của tiến bộ và văn minh xã hội. Tuy nhiên nội hàm tăng
trưởng kinh tế là tăng lên về số lượng, khái niệm này chưa thể hiện đầy đủ
chất lượng của sự tăng trưởng, do vậy trên thực tế không phải sự phát triển
nào cũng có lợi cho xã hội. Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc năm
1996 đã chỉ ra 5 loại tăng trưởng xấu cần tránh, đó là:
- Tăng trưởng không việc làm: không tạo ra việc làm mới.
- Tăng trưởng không lương tâm: chỉ quan tâm một bộ phận người giàu
có, nhưng không cải thiện điều kiện sống của đại đa số quần chúng.
- Tăng trưởng không tiếng nói: không gắn với sự phát triển về dân chủ.
- Tăng trưởng không gốc rễ: làm đạo đức xã hội bị suy thoái.
- Tăng trưởng không tương lai: làm hủy hoại môi trường sống.
Nhiệm vụ của chúng ta là cần phải lựa chọn những loại tăng trưởng tốt,
loại bỏ những loại tăng trưởng xấu nhằm hướng tới mục tiêu: tăng trưởng
kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững.
2.1.1.2 Mô hình tăng trưởng kinh tế
• Khái niệm
Mô hình tăng trưởng kinh tế: Là sự phản ánh khái quát những đặc tính
chủ yếu của phương thức tăng trưởng kinh tế thể hiện các yếu tố tăng trưởng
và mối quan hệ tương hỗ giữa chúng với nhau trong từng điều kiện lịch sử cụ
thể nhất định.
Cho đến nay trên thế giới đã có nhiều mô hình tăng trưởng kinh tế.
Các mô hình tăng trưởng kinh tế đều hướng tới lý giải nguồn gốc của tăng
theo tiêu chí sử dụng nguồn lực để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế, do đó
chúng tôi sẽ phân tích về các mô hình sau: tăng trưởng kinh tế theo chiều
rộng, tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu và mô hình kết hợp giữa chiều rộng
và chiều sâu nhằm phát triển và tăng trưởng kinh tế theo hướng nâng cao
chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh.
• Chất lượng của tăng trưởng
Hiện nay, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về chất lượng tăng
trưởng, mỗi cách tiếp cận có ưu và nhược điểm riêng. Chúng tôi sử dụng các
tiêu chí sau đây để đánh giá chất lượng tăng trưởng:
13
- Tăng trưởng kinh tế, thông qua tăng thu nhập quốc dân được đo bằng
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) một cách ổn định, bền vững của kinh tế.
- Tăng trưởng kinh tế phải là cơ sở để giúp tăng trưởng công ăn việc
làm cho người dân trên phạm vi toàn tỉnh, nhất là lực lượng lao động trong
nông nghiệp, nông thôn.
- Tăng trưởng kinh tế sẽ là cơ sở để tăng thu nhập GNP, sức mua cho
người dân trong tỉnh, từ đó cải thiện thường xuyên đời sống của người dân,
phát triển thị trường nội địa của tỉnh.
- Tăng trưởng kinh tế sẽ góp phần vào phát triển tri thức, trình độ học
vấn, y tế và văn hóa tinh thần cho đông đảo người dân trong tỉnh.
- Tăng trưởng với việc tăng của cải hay vốn tự có của kinh tế tỉnh,
nghĩa là tăng nội lực của tỉnh (tức là tài sản hiện có trừ đi nợ nước ngoài và tài
nguyên không tái tạo được đã khai thác).
- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường thiên nhiên.
2.1.2 Cơ cấu kinh tế
Theo C. Marx, cơ cấu kinh tế của xã hội là toàn bộ những quan hệ sản
xuất phù hợp với quá trình phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất
vật chất. C.Márx đồng thời nhấn mạnh, khi phân tích cơ cấu, phải chú ý đến
cả hai khía cạnh là chất lượng và số lượng, cơ cấu chính là sự phân chia về
bảo hộ nông nghiệp của Mỹ đã làm cho xuất khẩu nông sản của Mỹ bị đình
trệ trong thập niên 1920 và thập niên 1930.
Từ lập luận như thế, các nhà kinh tế học Mỹ Latinh chủ trương rằng:
muốn phát triển kinh tế thì phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm
dần tỷ trọng của khu vực sơ khai (nông, lâm, ngư nghiệp và khai thác khoáng
sản) và tăng dần tỷ trọng của khu vực chế tạo và khu vực dịch vụ. Trong quá
trình chuyển dịch cơ cấu đó, công nghệ là thiết yếu. Quan sát mô hình phát
triển kinh tế của Phổ, theo đó trong khi nông nghiệp còn đang là khu vực chủ
đạo của nền kinh tế, thì công nghiệp nặng đã được Nhà nước ưu tiên phát
triển làm động lực cho công nghiệp hóa, các nhà kinh tế học theo trường phái
cơ cấu chủ trương rằng nhà phát triển kinh tế cần phải có sự can thiệp của
Nhà nước.
Trường phái cơ cấu còn cho rằng quan hệ kinh tế quốc tế (thập niên
1940 đến 1960) là quan hệ các nước đang phát triển cung cấp nguyên liệu thô,
còn các nước phát triển cung cấp hàng hóa chế tạo. Vì vậy, các nước đang
phát triển muốn phát triển nền công nghiệp trong nước phải dựa vào như cầu
trong nước.
Kết quả của lý thuyết nói trên về phát triển kinh tế đã làm ra đời chiến
lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu được áp dụng rộng rãi ở các nước
đang phát triển từ thập niên 1950.
Từ thành công của Marshall sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các
nhà kinh tế học phát triển ở các nước phát triển cho rằng các nước đang phát
triển có thể đẩy mạnh phát triển kinh tế nếu họ nhận được nhiều vốn và nếu
15
Nhà nước can thiệp hợp lý. Nhân vật tiêu biểu cho các nhà kinh tế này là Walt
W. Rostow.
Rostow cho rằng để trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, cần phải
trải qua bốn giai đoạn: (1) xã hội truyền thống; (2) chuẩn bị các tiền đề để cất
cánh; (3) cất cánh; (4) trưởng thành; và (5) chuyển sang xã hội tiêu dùng quy
mô lớn. Các nước đang phát triển ở vào các giai đoạn thứ nhất và thứ hai.
16
vào sự can thiệp của nhà nước. Nói cách khác, họ đề cao phát triển kinh tế
thân thiện với thị trường. Các biện pháp cần thực hiện là xóa bỏ những hạn
chế thị trường, tư nhân hóa, tự do hóa thương mại, giảm đầu tư công
cộng như một cách để giảm sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế, tự do
hóa thương mại và tự do hóa tài khoản vốn, v.v Một chương trình tổng hợp
những biện pháp như vậy được gọi là Đồng thuận Washington. Lý luận tân cổ
điển về phát triển kinh tế này được các tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc
tế và Nhóm Ngân hàng Thế giới tán thành. Ngoài ra còn có Lý thuyết phát
triển kinh tế lấy xã hội làm trung tâm; Lý thuyết phát triển kinh tế lấy con
người làm trung tâm và lý thuyết phát triển bền vững.
2.1.3 Tính khách quan, tính xã hội của cơ cấu kinh tế, mô hình tăng
trưởng kinh tế
Tính khách quan: do sự phát triển của lực lượng sản xuất, nên phân
công lao động trong nền kinh tế xã hội biến đổi ngày càng sâu sắc. Hệ quả các
ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế được thay đổi sẽ hình thành một cơ cấu kinh
tế với tỉ lệ cân đối tương ứng với các bộ phận, tỉ lệ đó, từ đó đòi hỏi mô hình
tăng trưởng kinh tế sẽ hình thành và vận động phù hợp. Mọi sự tác động của
nhà nước vào cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế không tuân thủ qui
luật khách quan thì sẽ có nguy cơ không thiết lập được cơ cấu kinh tế, mô
hình tăng trưởng kinh tế tối ưu. Thực tiễn quá trình thiết lập cơ cấu kinh tế và
mô hình tăng trưởng.
Tính chất lịch sử xã hội: sự biến đổi của cơ cấu kinh tế, mô hình kinh tế
luôn gắn liền với sự thay đổi của các yếu tố về chính trị, xã hội của thế giới,
của từng quốc gia, trong từng thời kỳ lịch sử, nhất là ảnh hưởng bởi chiến
lược, tầm nhìn, mục tiêu và chính sách của nhà nước từng thời kỳ. Bởi vì cơ
cấu kinh tế được hình thành còn để phục vụ cho các mục tiêu về chính trị-xã
hội. Sự khác nhau đó bị chi phối bởi quan hệ sản xuất, bởi các đặc trưng văn
hoá xã hội, bởi các yếu tố lịch sử của mỗi dân tộc, bởi chính sách cụ thể của
từng quốc gia.
Cuộc khủng hoảng tài chính-tiền tệ và suy thoái kinh tế của các quốc
gia lớn trên thế giới năm 2008 đến nay, đã tác động xấu đến kinh tế Việt Nam
nói chung và Hậu Giang nói riêng, nhưng nó cũng mang lại nhiều nhân tố tích
cực hay “động lực” cho việc tìm đến cơ hội như: phá vỡ cục bộ hay toàn cục
cơ cấu kinh tế cũ, mô hình kinh tế đang vận hành, vì với cơ cấu kinh tế cũ và
mô hình hiện hành không đảm bảo khả năng cạnh tranh, không đảm bảo kinh
tế phát triển bền vững, không khai thác hiệu quả các tiềm lực. Nó giúp tái
thiết mô hình kinh tế, cơ cấu kinh tế mới, trật tự kinh tế mới, tạo dựng nền
móng vững chắc cho sự phát triển bền vững theo xu hướng toàn cầu hóa, có
khả năng cạnh tranh.
2.1.5 Vai trò của Nhà nước đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế
- Thiết lập và hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách có ảnh hưởng
đến hình thành, hoàn thiện cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế.
18
- Tạo lập và đổi mới tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước các cấp
phù hợp với yêu cầu của việc tạo lập cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng
kinh tế.
- Nhà nước tạo lập một môi trường kinh doanh thuận lợi cho quá trình
thiết lập, hoàn thiện cơ cấu kinh tế, mô hình kinh tế.
- Nhà nước còn có vai trò kiểm tra, giám sát, điều chỉnh chúng trong
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mô hình kinh tế đảm bảo cho nền kinh
tế phát triển bền vững.
- Nhà nước đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, phát triển khoa học công
nghệ, giáo dục, y tế, nhằm tạo điều kiện tốt cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
mô hình tăng trưởng kinh tế.
2.1.6 Cơ cấu và mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và tỉnh
Hậu Giang
2.1.6.1 Cơ cấu và mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Về mô hình tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế Việt Nam
rộng. Tuy vậy, dây chỉ là nhóm yếu tố ban đầu, chứ không phải duy nhật. Thí
dụ Nhật Bản là một nước gần như không có tài nguyên thiên nhiên nhưng nhờ
tập trung sản xuất các sản phẩm có hàm lượng lao động, tư bản, công nghệ
cao, nền kinh tế dựa trên đầu tư chiều sâu có sức cạnh tranh cao.
Lao động: Trước đây, chúng ta chỉ quan niệm lao động là yếu tố vật
chất đầu vào giống như yếu tố vốn tài chính và được xác định bằng số lượng
dân số, nguồn lao động của mỗi quốc gia, địa phương.
Nhưng các mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại đã nhấn mạnh đến khía
cạnh phi vật chất của lao động gọi là vốn nhân lực, đó là lực lượng lao động
có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng sản xuất, lao động có thể
vận hành được máy móc thiết bị phức tạp, những lao động có sáng kiến và
phương pháp mới trong hoạt động kinh tế, những lao động có ý thức kỷ luật
cao và có sức khỏe tốt. Vì vậy, vốn nhân lực có thể đầu tư thông qua giáo dục,
đào tạo hay y tế. Thu nhập đem lại của loại vốn này phụ thuộc vào khả năng
sở hữu của từng cá nhân. Vốn nhân lực có đặc điểm khác biệt tạo nên đặc
trưng khi so với các nhân tố khác như: bản thân vốn nhân lực có thể tự sinh ra
và tăng lên trong quá trình lao động. Khả năng này được hiểu là quá trình gia
tăng kinh nghiệm của người lao động trong quá trình sản xuất làm năng suất
lao động tăng lên. Mặt khác, vốn nhân lực có khả năng chia sẻ, chuyển giao
mà không làm giảm đi nguồn lực ban đầu. Ví như, khi chia sẻ tri thức của
người lao động này sang người lao động khác, không làm giảm tri thức của
người đã chia sẻ.
Đối với các nước tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng thì sự đóng góp
của quy mô, số lượng lao động, giá lao động rẻ rất quan trọng. Nhưng số
lượng lực lượng lao động đông đảo không phải là động lực mạnh mẽ cho tăng
trưởng nếu như quốc gia đó có vốn nhân lực thấp. Đặc biệt là các nước, các
20
địa phương đang tăng trưởng, nơi mà lao động nông nghiệp-nông thôn còn
chiếm tỷ trọng cao trong tổng số lực lượng lao động.
Vốn: vốn sản xuất là biểu hiện bằng tiền của những tài sản nhằm phục
lại nền kinh tế - hàng hoá, dịch vụ - chất lượng trang thiết bị công nghệ, kỹ
21
s
g =
k
năng quản lý, tác động của nó không trực tiếp như năng suất bộ phận mà
phải thông qua sự biến đổi của các yếu tố hữu hình, đặc biệt là lao động và
vốn. (Cách gọi khác của TFP là MFP - Multifactor productivity).
Năng suất nhân tố tổng hợp phản ảnh hiệu quả sử dụng các thành tựu
của tiến bộ công nghệ, nghiên cứu triển khai khoa học kỹ thuật vào hoạt động
kinh tế; cũng như tác động của các yếu tố thể chế, chính sách, quá trình mở
cửa, hội nhập, vốn nhân lực; tất cả tạo nên hiệu quả, năng suất sử dụng lao
động cao hơn và tạo nên phần còn lại của thu nhập sau khi loại trừ tác động
của yếu tố vốn và lao động.
Trong khi vốn và lao động được xem như là các nhân tố vật chất có thể
lượng hoá được mức độ tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế và được coi
là những nhân tố tăng trưởng theo chiều rộng. TFP được coi là nhân tố phi vật
chất tác động đến tăng trưởng, được coi là nhân tố tăng trưởng theo chiều sâu.
Nâng cao TFP tức là nâng cao hơn kết quả sản xuất với cùng số lượng đầu
vào. Điều này là rất quan trọng đối với người lao động, doanh nghiệp và toàn
nền kinh tế. Đối với người lao động, nâng cao TFP sẽ góp phần nâng thu
nhập, điều kiện lao động được cải thiện. Đối với doanh nghiệp thì có khả
năng mở rộng tái sản xuất. Còn đối với nền kinh tế sẽ nâng cao sức cạnh tranh
trên trường quốc tế, nâng cao phúc lợi xã hội. Sự đóng góp của TFP ngày
càng cao trong quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh của các quốc
gia trên thế giới. Nhiều quốc gia phát triển có mức đóng góp của TFP vào
tăng trưởng kinh tế chiếm từ 50% đến 75%. Trong khi các quốc gia đang phát
triển TFP đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thường thấp hơn 50%.
Sau đó ICOR: là một chỉ số cho biết muốn có thêm một đơn vị sản
lượng trong một thời kỳ nhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn
2.1.7 Nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng kinh tế tỉnh Hậu Giang theo hướng cạnh tranh
Từ lý thuyết và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô
hình tăng trưởng kinh tế chung. Trong điều kiện cụ thể của tỉnh Hậu Giang,
nhóm nghiên cứu khái quát nội dung chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi
mô hình tăng trưởng kinh tế theo hướng tăng năng lực cạnh tranh gồm:
• Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Một là, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng tập trung
phát triển các ngành mà Hậu Giang có lợi thế lâu dài trong trong việc nâng
cao năng lực cạnh tranh trong khu vực Tây Nam Bộ, cả nước và toàn cầu,
nhằm làm cho tỷ trọng giá trị gia tăng cao, từng bước giảm tỷ trọng các ngành
gia công, sơ chế và khai thác tài nguyên thô.
Hai là, tiếp tục chuyển dịch nội bộ khu vực công nghiệp, theo hướng
phát triển công nghiệp chế biến, phát triển khu công nghiệp, xây dựng cụm
công nghiệp ngành có lợi thế so sánh về địa kinh tế của tỉnh, kết hợp với
chuyển dịch cơ cấu ngành, hình thành chuỗi giá trị và mạng lưới liên kết sản
xuất, kinh doanh trong vùng Tây Nam bộ, cả nước và thế giới, đẩy mạnh
chuyên môn hóa sản xuất, nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm.
Ba là, chuyển dịch cơ cấu khu vực dịch vụ theo hướng phục vụ hiệu
quả phát triển chuyển dịch khu vực nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng, cơ
cấu thành phần kinh tế, cơ cấu khu vực khu kinh tế, cơ cấu đầu tư và cơ cấu
thị trường, nhằm phục vụ tối ưu nhất cho đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh.
• Về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế
Một là, duy trì tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng, vừa từng bước chiều
sang phát triển theo chiều sâu, trên cơ sở nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng
23
tài nguyên thiên nhiên về đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản
trên địa bàn tỉnh hiện có, bảo vệ ngày càng tốt hơn môi trường, sinh thái. Trên
cơ sở nâng cao từng bước chất lượng nguồn nhân lực trên tất cả các mặt thể
lực, trí lực, kỹ năng, kỹ xảo, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ quản lý.
lý giải sự khác biệt về phát triển kinh tế giữa các tỉnh, thành phố của Việt
Nam, theo đó đã có 47 tỉnh, thành phố của Việt Nam được xếp hạng và đánh
24
giá. Lần thứ hai, năm 2006 hai lĩnh vực quan trọng của môi trường kinh
doanh là thiết chế pháp lý và đào tạo lao động-được đưa vào xây dựng chỉ số
PCI.
Từ năm 2006 trở đi, tất cả các tỉnh thành của Việt Nam đều được đưa
vào bảng xếp hạng, đồng thời các chỉ số thành phần cũng được tăng cường
thêm. Năm 2009, phương pháp luận PCI được điều chỉnh để phản ánh kịp
thời sự phát triển năng động của nền kinh tế và các thay đổi trong môi trường
pháp lý tại Việt Nam. Sau khi loại bỏ chỉ số Ưu đãi doanh nghiệp nhà nước,
PCI còn 9 chỉ số thành phần, nhưng đến năm 2013, chỉ số PCI của Việt Nam
sử dụng thang điểm từ 10 (cao nhất) đến 1 (thấp nhất) cho 10 chỉ tiêu: gia
nhập thị trường, tiếp cận đất đai, tính minh bạch, chi phí thời gian, chi phí
không chính thức, ưu đãi với doanh nghiệp nước ngoài, tính năng động, chính
sách phát triển kinh tế tư nhân, đào tạo lao động và thiết chế pháp lý.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
2.2.1.1 Dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu thứ cấp: được thu thập từ kết quả đã xử lý và công bố chính
thức có liên quan đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế do Cục Thống kê,
sở Kế hoạch và Đầu tư, sở Công thương và các sở khác cung cấp từ năm
2004-2011. Đây là số liệu quan trọng để làm căn cứ cho việc phân tích, đánh
giá hiện trạng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng
kinh tế của tỉnh Hậu Giang từ năm 2004-2011.
2.2.1.2 Dữ liệu sơ cấp
Dữ liệu sơ cấp: được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 03 nhóm
đối tượng thông qua bảng câu hỏi bán cấu trúc được thiết kế sẵn, bao gồm: (1)
Lãnh đạo các Sở, ban ngành của tỉnh Hậu Giang và các chuyên gia kinh tế (40
mẫu); (2) chuyên viên quản lý nhà nước tỉnh Hậu Giang (40 mẫu). Các mẫu