Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
MỞ ĐẦU
1. Lý Do Chọn Đề Tài
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội hiện nay, đô thị hóa công nghiệp hóa đang
diễn ra hết sức mạnh mẽ và đi cùng với tốc độ phát triển kinh tế, nhiều vấn đề môi
trường bức xúc đã nảy sinh liên quan đến các hoạt động dân sinh, công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, dịch vụ… và các ảnh hưởng tương quan giữa chúng đang cần có sự
nghiên cứu giải quyết hợp lý nhằm hướng tới pháp triển bền vững. Trong các vấn đề
về môi trường, chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) và công nghiệp là một vấn đề
nghiêm trọng, thu hút nhiều sự quan tâm của dư luận.
TP.HCM là một thành phố lớn và đông dân nhất nước với lượng dân số gần 10
triệu người, khối lượng CTRSH hiện nay thải ra mỗi ngày từ 4.500 – 5.000 tấn
CTRSH, từ 1.000 – 1.100 tấn CTR xây dựng, khoảng hơn 1.000 tấn CTR công
nghiệp, trong đó có khoảng 200 tấn chất thải nguy hại, 7 – 9 tấn CTR y tế. Hiện nay
thành phố ta chưa có hệ thống phân loại CTR tại nguồn. Chính vì vậy mà vấn đề đặt
ra ở đây là làm thế nào cải thiện được môi trường khi lượng CTR tăng quá nhanh mà
không có biện pháp quản lý phù hợp.
Quận 4 là quận nội thành, có hạ tầng tương đối hoàn chỉnh. Toàn bộ lượng CTR
được thu về bãi chôn lấp Gò Cát và Phước Hiệp. Tuy nhiên các bãi chôn lấp hiện hữu
của thành phố đang lâm vào tình trạng quá tải, không còn chỗ chôn lấp và phải mở
của một số bãi chôn lấp mới như bãi chôn lấp Đa Phước…. Từ thực tế khảo sát cho
thấy rằng trong thành phần CTRSH , CTR thực phẩm chiếm tỷ lệ lớn nhất, từ 70 –
80%. Đây chính là nguyên nhân góp phần vào việc làm tăng chi phí xử lý CTR, trong
khi đó những thành phần này lại chính là nguồn nguyên liệu dồi dào cho các nhà máy
sản xuất phân compost. Ngoài ra, còn có các thành phần có khả năng tái chế như :
giấy , nhựa , nilon… Nếu được phân loại và tái chế không chỉ giúp giảm chi phí quản
lý và xử lý CTR mà còn tiết kiệm nhiều tài nguyên và giảm tác động tiêu cực đến môi
trường. Chính vì những lý do đó phân loại rác tại nguồn là cần thiết và cấp bách.
2. Mục Đích Nghiên Cứu
Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp thu gom - vận chuyển nhằm mục đích phân
loại chất thải rắn đô thị tại nguồn ở Q4, TP. HCM
dựng bảng câu hỏi phỏng vấn và điều tra trên 100 hộ. Đối tượng được phỏng vấn là
những người dân thuộc nhiều thành phần dân cư khác nhau như cán bộ, nhân viên,
công nhân, viên chức, lao động buôn bán,…
.
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 2 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
4.3. Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia
Tác giả đã tham khảo ý kiến của những người có kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa
học nói chung và phân loại CTR tại nguồn ở các sở, phòng,…. về những nội dung
của đề tài.
4.4. Phương pháp quan sát
Tác giả đã quan sát và ghi lại những thói quen hàng ngày của người dân về lưu trữ và
thải bỏ rác cũng như ý thức của người dân về vấn đề vệ sinh môi trường. Bên cạnh
đó, tác giả đã quan sát nắm bắt cách thức thu gom, vận chuyển CTR của đội vệ sinh
tại điểm nghiên cứu nhằm bổ sung cho việc cũng như áp dụng mô hình phân loại rác
sau này.
4.5. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu
Từ những số liệu ghi nhận được ở các lần xử lý mẫu rác thải và các kết quả
phỏng vấn chúng tôi tiến hành thống kê và xử lý số liệu bằng các phần mềm như
Word, Excel ….kết quả của quá trình này lả các bảng số liệu được trình bày trong
khóa luận
5. Giới hạn đề tài
Do giới hạn về thời gian nên nội dung nghiên cứu của đề tài này chỉ đưa ra
tình trạng hệ thống quản lý chất thải rắn ở quận 4 và đưa vào thực hiện việc phân loại
tại nguồn tại quận 4. Tuy nhiên trong đề tài này chỉ giới hạn và đề cập đến vấn đề thu
gom phân loại CTR thực phẩm và CTR còn lại ở hộ gia đình tại quận 4( Chỉ tính
phần thu gom và vận chuyển, đề ra công nghệ xử lý hợp lý CTR, vạch tuyến thu gom,
định hướng cho quận 4 những phương hướng mới trong quản lý CTR và tìm ra những
công nghệ mới để xử lý CTR)
6. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Các dịch vụ đô thị
- Tại các trạm xử lý
Chất thải đô thị có thể xem như chất thải cộng đồng ngoại trừ ngoài các chất thải có
trong quá trình chế biến tại các khu công nghiệp và chất thải công nghiệp. Các loại
chất thải được sinh ra từ các nguồn được trình bày trong bảng 1.1
Bảng 1.1 Các nguồn gốc phát CTRĐT
Nguồn Các hoạt động và vị trí phát sinh chất
thải
Loại chất thải rắn
Nhà ở Những nơi ở riêng của một gia đình hay
nhiều gia đình. Những căn hộ thấp, vừa và
cao tầng…
Chất thải thực phẩm, giấy, bìa
cứng, nhựa dẻo, hàng dệt, đồ da,
chất thải vườn, đồ gỗ, thuỷ tinh,
hộp thiết, nhôm, kim loại khác, tàn
thuốc, rác đường phố, chất thải đặc
biệt (dầu, lốp xe, thiết bị điện, . . .),
chất thải sinh hoạt nguy hại.
Thương mại Cửa hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng, khách
sạn, dịch vụ, cửa hiệu in, . . .
Giấy, bìa cứng, nhựa dẻo, gỗ, chất
thải thực phẩm, thuỷ tinh, kim loại,
chất thải đặc biệt , chất thải nguy
hại…
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 5 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
Cơ quan Trường học, bệnh viện, nhà tù, trung tâm
chính phủ…
Giấy, bìa cứng, nhựa dẻo, gỗ, chất
CTR đô thị có thể thay đổi theo vị trí, theo mùa, theo điều kiện kinh tế. Sự thay đổi
khối lượng CTR theo mùa đặc trưng ở Bắc Mỹ được trình bày trong các bảng 1.2-
1.4, thành phần CTR đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý CTR.
Bảng 1.2 Thành phần CTRĐT phân theo nguồn phát sinh
Nguồn chất thải Phần trăm trọng lượng
Dao động Trung bình
Nhà ở và khu thương mại 60-67 62,0
Chất thải đặc biệt(dầu, lốp xe, bình điện) 3-12 5,0
Chất thải nguy hại 0,1-0,1 0,1
Cơ quan 3-5 3,4
Xây dựng và phá dỡ 8-20 14,0
Làm sạch đường phố 2-5 3,8
Cây xanh và phong cảnh 2-5 3,0
Lĩnh vực đánh bắt 1,5-3 1,7
Bùn đặc từ nhà máy xử lý 3-8 6
Tổng cộng 100
Nguồn : George Tchobanoglous, et al, Mc Graw – Hill Inc, 1993.
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 6 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
Bảng 1.3 Thành phần CTRDT theo tính chất vật lý
Thành phần Phần trăm trọng lượng
Khoảng giá trị Trung bình
Chất thải thực phẩm 6-25 15
Giấy 25-45 40
Bìa cứng 3-15 4
Chất dẻo 2-8 3
Vải vụn 0-4 2
Cao su 0-2 0,5
Gia vụn 0-2 0,5
Sản phẩm vườn 0-20 12
phần và tính chất của CTR sinh ra
a. CTR có thành phần hữu cơ cao:
Là loại CTR sinh ra từ các hoạt động sinh hoạt của các khu dân cư, sinh ra từ
khu vực thương mại, nhà hàng, chợ, các khu văn phòng,… Loại chất thải này có các
thành phần như các loại thịt, cá hư hỏng, các loại thực phẩm dư thừa, rau củ, quả và
các thực phẩm khác. Chúng có thành phần hữu cơ cao, là loại CTR có tính chất phân
huỷ nhanh, khả năng thối rữa cao đặc biệt với những khu vực có nhiệt độ và độ ẩm
cao, khả năng gây ô nhiễm môi trường lớn do sự phân rã các chất hữu cơ trong thành
phần của chúng.
b. CTR là rác rưởi
Loại CTR này thường sinh ra ở khu dân cư, văn phòng, công sở, khu thương
mại, nhà hàng, chợ, các khu vui chơi giải trí,… Thành phần chủ yếu của chúng là các
loại giấy, bao bì, giấy carton, plastic, nilon,…. với thành phần chủ yếu là các chất vô
cơ, xenlulo và các loại nhựa có thể đốt cháy dược.
Ngoài ra trong loại chất thải này còn có chứa các loại chất thải là các kim loại
như sắt thép, kẽm, đồng, nhôm, …. Là các loại chất thải không có thành phần hữu cơ
và chúng không có khả năng tự phân huỷ. Tuy nhiên loại chất thải này hoàn toàn có
thể tái chế lại mà không thải lại môi trường trừ khi chúng tồn tại dưới dạng các muối
hay ion thì lại gây tác hại lớn đến môi trường.
c. CTR là sản phẩm của quá trình cháy
Loại CTR này chủ yếu là tro tàn hay các nhiên liệu cháy còn dư lại trong quá
trình cháy tại các lò đốt hay lò hơi, lò đốt dầu. Các loại tro tàn thường sinh ra từ các
cơ sở công nghiệp, các hộ gia đình khu sử dụng nhiên liệu đốt lấy nhiệt, để sử dụng
cho mục đích sinh hoạt. Tro sinh ra thường ở dạng bột mịn hay dạng bánh xỉ khi sử
dụng làm nguyên liệu. Xét về tính chất thì loại chất thải này là vô hại nhưng chúng lại
rất dễ gây ra hiện tượng ô nhiểm môi trường do việc phát sinh bụi.
d. Chất thải độc hại
Các chất thải rắn hoá học, sinh học, chất gây phóng xạ, chất cháy, chất gây
nổ… khi thải bỏ ra môi trường có ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng với môi trường.
Chúng được sinh ra từ các nhà máy, các khu công nghiệp mà tại đó hoá chất được sử
- Khối lượng riêng: Khối lượng riêng (hay mật độ) của rác thải thay đổi theo
thành phần, độ ẩm, độ nén của chất thải. Trong công tác quản lý CTR, khối lượng
riêng là một thông số quan trọng phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển và xử
lý chất thải. Qua đó có thể phân bổ và tính được nhu cầu trang thiết bị phục vụ
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 9 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
công tác thu gom, vận chuyển, khối lượng rác thu gom và thiết kế quy mô bãi
chôn lấp chất thải,…
Khối lượng riêng được xác định bởi khối lượng của vật liệu trên một đơn vị
thể tích (kg/m
3
). Dữ liệu về khối lượng riêng thường cần thiết để định mức tổng
khối lượng và thể tích chúng cần phải quản lý. Khối lượng riêng của các hợp phần
trong chất thải rắn đô thị được trình bày ở bảng 1.5
Bởi vì khối lượng riêng của chất thải rắn thay đổi một cách rõ rang theo vị trí
địa lý, mùa trong năm và thời gian lưu trữ, trong đó tốt nhất là sử dụng các giá trị
trung bình đã được lựa chọn. khối lượng riêng của chất thải sinh hoạt thay đổi từ
120 đến 590kg/m
3
. Đối với xe vận chuyển có thiết bị ép CTR có thể lên đến
830kg/m
3
.
Khối lượng riêng của CTR được xác định bằng phương pháp cân trọng lượng
để xác định tỷ lệ giữa trọng lượng của mẫu với thể tích của nó, có đơn vị là kg/m
3
(hoặc lb/yd
3
)
Bảng 1.5 Khối lượng riêng các thành phần của CTRDT
điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật kị khí phân huỷ gây thối rữa.
Độ ẩm của chất thải rắn được biểu diễn bằng 2 cách:
- Phương pháp trọng lượng ướt, độ ẩm của mẫu được biểu diễn bằng %
của trọng lượng ướt vật liệu;
- Phương pháp trọng lượng khô, độ ẩm của mẫu được biễu diễn bằng %
của trọng lượng khô vật liệu;
- Phương pháp trọng lượng ướt thường được sử dụng trong lĩnh vực
quản lý chất thải rắn. Độ ẩm theo phương pháp trọng lượng ướt được
biểu diễn dưới dạng toán học như sau:
Công thức:
Trong đó: M : độ ẩm %
W : trọng lượng ban đầu của mẫu (kg,g)
d : trọng lượng của mẫu sau khi sấy khô ở 105
0
c (kg,g)
1.1.4.2 Tính chất hoá học
Các chỉ tiêu hoá học quan trọng của chất thải rắn đô thị gồm chất hữu cơ, chất tro,
hàm lượng cacbon cố định, nhiệt trị.
- Chất hữu cơ: lấy mẫu nung ở 950
0
c, phần bay hơi đi là chất hữu cơ hay còn gọi là
tổn thất khâu nung, thông thường chất hữu cơ giao động khoảng 40-60%, giá trị trung
bình là 53%.
- Chất tro : là thành phần còn lại sau khi nung ở 950
0
c, tức là chất tro dư hay chất vô
cơ.
- Hàm lượng cacbon cố định : là hàm lượng cacbon còn lại sau khi đã loại các chất
vô cơ khác không phải là cacbon trong tro khi nung ở 950
Giấy 4-8 6,0 5,000-8,000 7,200
Cacton 3-6 5,0 6,000-7,500 7,000
Plastic 6-20 10,0 12,000-16,000 14,000
Vải 2-4 2,5 6,500-8,000 7,500
Cao su 8-20 10,0 9,000-12,000 10,000
Da 8-20 10,0 6,500-8,500 7,500
Rác vườn 2-6 4,5 1,000-8,000 2,800
Gỗ 0,6-2 1,5 7,500-8,500 8,000
Thuỷ tinh 96-99
+
98,0 50-100 60
Can thiết(đồ hợp) 96-99
+
98,0 100-500 300
Nhôm 90-99
+
96,0
Kim loại khác 94-99
+
98,0 100-500 300
Bụi, tro,… 60-80 70,0 1,000-5,000 3,000
Rác sinh hoạt 4,000-5,500 4,500
Nguồn : George Tchobanoglous, et al, Mc Graw – Hill Inc, 1993.
1.1.4.3 Tính chất hoá học
Các thành phần hữu cơ (không kể các thành phần như plactic, cao su, da) của hầu hết
chất thải rắn có thể phân loại về phương diện sinh học sau:
- Các thành phần có thể hoà tan trong nước như: đường, tinh bột, amino acid và
nhiều chất hữu cơ khác.
- Bán celluloso: các sản phẩm ngưng tụ của đường 5 và 6 cacbon.
- Cellulose: sản phẩm ngưng tụ của đường gluloso 6 cacbon.
Sự phát sinh mùi hôi
Mùi hôi có thể sinh ra khi chất thải chứa trong khoảng thời gian dài ở trong nhà, trạm
trung chuyển và bãi đổ. Mùi hôi phát sinh đáng kể ở các thùng chứa trong nhà vào
mùa khô có khí hậu nóng ẩm. Sự hình thành mùi hôi là do sự phân huỷ kỵ khí của các
thành phần hữu cơ dễ phân huỷ trong chất thải rắn.
Sự sản sinh ruồi
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 13 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
Vào thời gian hè của những vủng nóng ẩm, sự nhân giống và sinh sản của ruồi là một
vấn đề đáng quan tâm ở những thùng chứa chất thải rắn bên trong nhà. Ruồi có thể
phát triển nhanh trong khoảng thời gian không đến hai tuần sau khi trứng được cấy
vào.
1.1.5 Tốc độ pháp sinh chất thải rắn
Việc tính toán tốc độ phát thải CTR là một trong những yếu tố quan trọng trong việc
quản lý CTR thải bởi vì từ đó người ta có thể xác định được lượng CTR phát sinh
trong tương lai ở một khu vực cụ thể từ đó có kế hoạch quản lý từ khâu thu gom, vận
chuyển tới công tác quản lý.
Phương pháp xác định tốc độ phát thải CTR cũng gần giống như phương pháp xác
định tổng lượng CTR. Người ta sử dụng một số loại phân tích sau đây để định lượng
CTR ở một khu vực.
• Đo khối lượng
• Phân tích thống kê
• Dựa trên các đơn vị thu gom CTR ( ví dụ thùng chứa)
• Phương pháp xác định tỉ lệ CTR
• Tính cân bằng vật chất
Lượng vào Lượng ra
Nguyên liệu + nhiên liệu
Hình 1.1 : Sơ đồ cân bằng vật chất
Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phát sinh chất thải rắn
- Sự phát triển kinh tế và nếp sống
chuyển thẳng ra khu chôn lấp, vì CTR vườn đã từng được xe vận chuyển đến nơi
chôn lấp.
1.1.6 Phương pháp dùng để xác định khối lượng CTR
Đơn vị đo
Việc xác định khối lượng chất thải rắn sinh ra, tách riêng để tái sử dụng và thu gom
để tiếp tục xử lý hoặc thải bỏ ở bãi chôn lấp nhằm cung cấp đầy đủ số liệu cần thiết
cho công tác xây dựng và quản lý chất thải rắn một cách có hiệu quả. Do đó trong bất
cứ nghiên cứu quản lý chất thải rắn cũng phải cẩn thận khi lựa chọn các thông tin
cần thu thập về lượng chất thải phát sinh : tính theo khối lượng hay thể tích sao cho
các thông tin thu thập được có thể phục vụ công tác thiết kế sau này. Các phương
pháp đo lường sử dụng để xác định khối lượng chất thải bao gồm :
(1) Đo thể tích và khối lượng
Cả thông số thể tích và khối lượng đều được dùng để đo đạc lượng chất thải rắn. Tuy
nhiên, sử dụng thông số thể tích xác định khối lượng CTR có thể gây nhầm lẫn.
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 15 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
Ví dụ: 1m
3
CTR chưa được nén sẽ có khối lượng khác với 1m
3
CTR đã được nén
trong xe thu gom và cả hai giá trị sẽ khác khối lượng 1m
3
CTR tiếp tục được ép ở bãi
chôn lấp.
Đẻ tránh nhầm lẫn, lượng CTR nên được biểu diễn dưới dạng khối lượng. Khối lượng
là thông số biểu diễn chính xác nhất lượng CTR vì có thể cân trực tiếp mà không cần
kể đến mức độ ép nén. Biểu diễn bằng khối lượng cũng cần thiết trong quá trình vận
chuyển CTR vì lượng chất thải được phép chuyên chở trên đường thường quy định
bởi giới hạn khối lượng hay là thể tích.
Khối lượng CTR thường được xác định trên cơ sở số liệu tổng hợp từ các nghiên
cứu về tính chất thải, số liệu thống kê lượng chất thải phát sinh trước đây hoặc kết
hợp cả hai tính chất này. Các phương pháp chung dùng để đánh giá lượng CTR phát
sinh bao gồm:
(1) Phương pháp sinh tổng lượng CTR trên xe
Theo phương pháp này, số lượng xe vận chuyển và tính chất chất thải tương ứng
được ghi lại số liệu. Tốc độ phát sinh chất thải được xác định dựa trên số liệu thực tế.
(2) Phương pháp phân tích khối lượng - thể tích
Việc sử dụng số liệu khối lượng - thể tích bằng cách đo khối lượng thể tích mỗi xe
vận chuyển, thống kê số lượng xe vận chuyên đến bãi chôn lấp, sẽ cung ứng những
thông tin chính xác hơn khối lượng của CTR tại khu vực khảo sát.
(3) Phương pháp ước tính dựa trên tốc độ gia tăng dân số và lượng CTR
Theo phương pháp này, đầu tiên cần ước tính dân số khu vực trong tương lai dựa trên
các phương pháp tính toán dân số. Dựa trên các số liệu thống kê lượng rác của khu
vực, tính toán lượng rác phát sinh trên người/ ngđ của các năm qua và dự đón những
năm tiếp theo. Với số liệu dân số và tốc độ phát sinh trên người/ngđ đã dự đoán, hoàn
toàn có thể tính lượng rác phát sinh của khu vực nghiên cứu trong tương lai.
1.2 Tổng quan về hệ thống quản lý CTR tại TP. HCM
1.2.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải tại TP. HCM
1.2.1.1 khu dân cư
Hiện nay thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 8 triệu người sống tại 24
quận / huyện với mật độ dân số khác nhau ( Xem bảng 1.8 )
Nếu kể cả khách vãn lai, công nhân làm việc thời vụ trong nhà máy,
khu công nghiệp,… Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng gần 10 triệu người
với hơn 1.356.000 căn hộ, bao gồm biệt thự, nhà riêng lẻ, nhà liên kết, chung
cư. Bên cạnh đó là gần 450 chợ ( 16 chợ lớn) và siêu thị lớn nhỏ, hàng chục
ngàn nhà hàng, khách sạn và cữa hàng, gần 300 sân vận động, rạp hát, nhà văn
hoá và gần 5.000 công sở, trường học, viện và trung tâm nghiên cứu.
Ngoài các đối tượng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt nói trên, một đặc
thù khác của thành phố Hồ Chí Minh là có hàng chục ngàn quán ăn trên vỉa
16 Quận Tân Bình 2.238 522
17 Quận Tân Phú 1.607 388
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 18 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
18 Quận Thủ Đức 47.760 292
19 Quận Bình Tân 5.189 318
20 Huyện Nhà Bè 100.410 84
21 Huyện Bình
Chánh
25.269 280
22 Huyện Củ Chi 434.500 325
23 Huyện Cần Giờ 704.220 77
24 Huyện Hóc
Môn
109.180 356
Nguồn: UBND quận 4 tháng năm 2006
1.2.1.2 Công nghiệp và khu công nghiệp
Ngoài dịch vụ, du lịch, ngân hàng,… thành phố Hồ Chí Minh còn là thành phố công
nghiệp với hơn 100 nhà máy, xí nghiệp, gần 25.000 cơ sở sản xuất vùa và nhỏ. Từ
năm 1990 trở lại đây, thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành và xây dựng được 12
khu công nghiệp, 3 khu chế xuất (KCX) và một khu công nghệ cao (KCNC) với hơn
700 nhà máy đã hoạt động trên tổng số 1000 dự án đăng ký (Bảng 1.9)
Tất cả các cơ sở công nghiệp đều có chất thải rắn, bao gồm chất thải không nguy hại
và chất thải nguy hại.
Chất thải nguy hại là chất thải có một trong bảy tính chất sau:
- Chất cháy, nổ
- Chất ăn mòn
- Chất hoạt tính
- Chất độc hại
- Chất làm ngộ độc
2 Trung tâm chuyên khoa 64
3 Trung tâm y tế 24
4 Phòng khám đa khoa 65
5 Trạm y tế 288
6 Phòng khám tư nhân 5540
7 Nhà thuốc 7150
Nguồn : Sở tài nguyên và Môi trường TP.HCM, năm 2006
Tất cả các cơ sở y tế đều phát sinh chất thải rắn, kể cả các nhà máy dược phẩm và nhà
thuốc, với các loại sau:
- Chất thải lâm sàn
- Chất thải phóng xạ
- Chất thải hoá học
- Các bình chứa khí có áp
- Chất thải sinh hoạt
1.2.2 Hệ thống quản lý CTR tại TP.HCM
1.2.2.1 Sơ đồ thu gom và vận chuyển
Hệ thống thu gom vận chuyển chất thải rắn của thành phố Hồ Chí Minh được
mô tả tại Hình 1.2
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 21 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Chứa trong
thùng ( Trực
tiếp)
NGUỒN
THẢI CTR
SINH HOẠT
THƯỜNG
ĐIỂM HẸN
THU GOM
BỘ ÉP
RÁC KÍN
TRẠM TRUNG
CHUYỂN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
STT Trạm trung chuyển Diện tích
(m
2
)
Công suất
(tấn/ ngày)
Khoảng cách đến
công trường xử lý
(km)
1 Bô xà bần 42 – 44 Võ Thị
Sáu, F.Tân Định – Q1
456,00 100 23,30
2 TTC kín hiện đại 42- 44 Võ
Thị Sáu, F. Tân Định Q1
4.143,00 400 23,30
3 TTC 345/2 Lạc Long Quân 612,00 650 21,24
4 TTC xà bần 150 Lê Đại
Hành
1.622,25 400 22,20
5 TTC rác Cầu Đổ, F.12 – Q.
Gò Vấp
3.001,00 800 15.30
6 Trạm ép rác kín 348 Phan
Văn Trị, F.11- Q. Bình
Thạnh
1.803,00 120 21,10
7 Trạm ép rác kín Lô A –
- Khối lượng chất thải rắn tăng nhanh
- Chất thải rắn từ các huyện lân cận đổ về thành phố Hồ Chí Minh
- Thành phần ngày càng phức tạp
- Nhiều chất thải sinh hoạt nguy hại
- Chất thải công nghiệp ( kể cả nguy hại) đổ chung
- Phế liệu sau khi phân loại đưa về TP.HCM tái sinh tái chế
- Các loại hình công nghiệp phức tạp
- Chất thải nông nghiệp ngày càng tăng
(2) . Tồn trữ tại nguồn
- Lẫn lộn nhiều thành phần khác nhau
- Sử dụng túi PVC
- Chất thải rắn công nghiệp chưa phân loại
- Cơ sở y tế tư nhân
(3) . Thu gom
- Hệ thống thu gom CTR dân lập
- Phí thu gom ( chất thải rắn sinh hoạt và y tế)
GVHD : Th.S. VŨ HẢI YẾN Trang 24 SVTH : TRẦN BÁ LUẬN
Nghiên Cứu Và Đề Xuất Các Giải Pháp Thu Gom - Vận Chuyển Nhằm Phục Vụ Công Tác Phân Loại CTR Tại Nguồn Ở Q4
- Phân loại tự phát
- Hệ thống thùng công cộng 240l
- Vớt rác trên sông
- Công nghiệp
- Cơ sở y tế tư nhân
(4) . Trung chuyển và vận chuyển
- Thiếu và không có quy hoạch trạm / bô trung chuyển
- Thiếu xe chở CTR đạt tiêu chuẩn vệ sinh
- Ô nhiễm môi trường trên đường vận chuyển
(5) . Xử lý
- Chưa lựa chọn được công nghệ và chưa có nhà máy xử lý chất thải rắn sinh
hoạt