Ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư quốc tế Bắc Sơn - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết đề tài khóa luận
Lãi suất bắt đầu xuất hiện từ khi quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa bắt đầu hình
thành. Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi chặt chẽ nhất trong nền kinh
tế. Diễn biến của nó được đưa tin hầu như hàng ngày trên báo chí, vì trực tiếp ảnh
hướng đến đời sống hàng ngày của mỗi người chúng ta. Lãi suất là một công cụ kinh
tế cực kỳ quan trọng và nhạy cảm đối với mọi nền kinh tế, nó đóng vai trò quan trọng
đặc biệt khi nền kinh tế ngày càng phát triển, đó là vai trò ổn định và góp phần hoàn
thiện chính sách tiền tệ tạo ra sự kích thích cần thiết để phát triển nền kinh tế mỗi quốc
gia và toàn thế giới.
Lãi suất trong những năm qua có nhiều biến động phức tạp, những biến động của
lãi suất đã ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung và cũng phần nào ảnh hưởng đến hoạt
động, lợi ích của các doanh nghiệp nói riêng. Lãi suất là một trong những phạm trù
trung tâm của nền kinh tế tác động đến chi phí sản xuất, quyết định tổng mức đầu tư và
tổng cầu tiền tệ. Từ việc nghiên cứu những vấn đề cơ bản của lãi suất, thấy rõ tầm
quan trọng của lãi suất, từ đó vận dụng thực tiễn vào Việt Nam nhận thấy lãi suất được
điều chỉnh dưới các chính sách lãi suất. Tùy vào từng thời điểm nhất định
thì lãi suất cần phải được điều chỉnh một cách linh hoạt để đảm bảo có thể kích thích
tăng trưởng kinh tế.
Hiện Việt Nam vẫn đang áp dụng cơ chế khống chế lãi suất, Nhà nước không ấn
định các mức lãi suất, mà quy định các mức lãi suất trần, lãi suất sàn tạo khung giới
hạn để từ đó các ngân hàng, các tổ chức tín dụng xác định lãi suất kinh doanh, điểm
qua diễn biến phải kể đến thời điểm 11/6/2008, lãi suất cơ bản đồng Việt Nam được
tăng từ 12%/năm lên 14%/năm. Trong đó, ngày 19/5/2008, Ngân hàng Nhà nước đã
tăng mạnh lãi suất cơ bản từ 8,75%/năm lên 12%/năm. Ngay sau khi nâng mức lãi suất
cơ bản, các Ngân hàng Thương mại và quốc doanh đồng loạt nâng lãi suất cho vay và
lãi suất huy động. Cả lãi suất cho vay và lãi suất huy động đều liên tiếp lập ‘’đỉnh’’.
Với mức lãi suất này, cùng với tác động khủng hoảng kinh tế đã tác động mạnh mẽ
đến nhu cầu vay vốn, khả năng trả nợ của doanh nghiệp, mối quan tâm lớn nhất của
doanh nghiệp và người dân là việc điều chỉnh chính sách lãi suất kịp thời, linh hoạt và
đặc biệt tránh đưa ra một cách đột ngột,làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh

khả năng thanh khoản, hoạt động cho vay, sinh lợi của một số Ngân hàng thương mại,
trong phần đề xuất, tác giả đưa ra nhận định chung rằng chính sách tiền tệ cần linh
hoạt và kết hợp với chính sách tài khóa. Nghiên cứu của tác giả phản ánh tác động của
chính sách lãi suất đến hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, còn trong
nghiên cứu của mình, phân tích tác động của biến động lãi suất đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, đó là công ty cổ phần đầu tư quốc tế Bắc Sơn.
3. Nghiên cứu của TS. Nguyễn Ngọc Bảo – Vụ trưởng cụ chính sách tiền tệ, ngân
hàng Nhà nước Việt Nam: “ Một số vấn đề về cơ chế điều hành lãi suất hiện nay của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với ổn định thị trường tiền tệ”.
Bài viết chỉ ra mối quan hệ giữa lãi suất chủ đạo trên thị trường( lãi suất cơ bản,
lãi suất chiết khấu, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở…). Việc áp dụng kịp thời cơ chế
điều hành lãi suất cơ bản đã ngăn chặn được nguy cơ xáo trộn thị trường tiền tệ và mất
2
khả năng thanh toán của Ngân hàng thương mại, tác dộng tích cực đối với hoạt động
kinh doanh của Ngân hàng thương mại và lãi suất thị trường. Nghiên cứu của em sẽ
phản ánh cụ thể những tác động của lãi suất đến hoạt động của doanh nghiệp nói
chung, công ty cổ phần đầu tư quốc tế Bắc Sơn nói riêng.
4. Luận văn “ Phân tích tác động chính sách lãi suất đến hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội” của sinh viên Đoàn Thị Hằng- lớp
K42F4- Đại học Thương mại.
Nội dung chính của luận văn này là phân tích, đánh giá tác động của chính sách
lãi suất đến hệ thống Ngân hàng thương mại, tác động của chính sách lãi suất đến hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội cũng như những ứng
phó của Ngân hàng Thương mại khi có sự thay đổi chính sách lãi suất. Trong nghiên
cứu của mình, em phân tích ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động kinh
doanh của công ty cổ phần đầu tư quốc tế Bắc Sơn và cũng đưa ra các giải pháp nhằm
hạn chế các tác động của lãi suất đến hoạt động của công ty.
5.Chuyên đề tốt nghiệp “ Phân tích tác động chính sách lãi suất đến hoạt động
đầu tư của công ty cổ phần tư vấn đô thị Việt Nam- VINACITY” của sinh viên Trần
Đại Nghĩa- lớp K43F3- Đại học Thương mại

làm yên lòng người tiêu dùng.
4. Đối tượng, mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
● Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu lý thuyết:
Hệ thống lại các lý thuyết về lãi suất, hoạt động kinh doanh, lý thuyết về ảnh
hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động kinh doanh.
Mục tiêu thực tiễn:
Khái quát về thực trạng lãi suất ở Việt Nam trong thời gian qua, cụ thể là từ năm
2010 đến nay. Qua đó đánh giá, phân tích những tác động của chính sách lãi suất đến
nền kinh tế nói chung và đến công ty cổ phần đầu tư quốc tế Bắc Sơn nói riêng.
Qua việc phân tích các tác động của chính sách lãi suất có thể đưa ra một số kiến
nghị, đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tác động của chính sách lãi suất đến hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
● Phạm vi nghiên cứu:
Chủ đề nghiên cứu: ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động kinh doanh
của công ty cổ phần đầu tư quốc tế Bắc Sơn và những giải pháp nhằm hạn chế những
tác động đó
Đối tượng nghiên cứu: Mặt hàng điện tử
Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn Hà Nội
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến nay
5. Phương pháp nghiên cứu:
Trên thực tế, để đi sâu vào tìm hiểu một vấn đề cần nghiên cứu chúng ta có thể
sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, sử dụng chúng tách biệt hoặc kết hợp với nhau
để đạt được mục tiêu phân tích của đề tài. Để đánh giá được một cách chính xác, rõ
ràng và hiệu quả tác động của lãi suất đến hoạt động kinh doanh của công ty, trong bài
khóa luận này có sử dụng phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu để phân tích.
4
5.1. Phương pháp thu nhập dữ liệu
Số liệu thứ cấp là số liệu đã qua xử lý, được thu thập lại, thu thập gián tiếp qua
sách, báo, internet, các báo cáo tài chính, các ấn phẩm chuyên ngành…. Nếu như

dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Tiêu chuẩn để so
sánh là doanh thu, lợi nhuận, chi phí của các năm trước so với năm sau. Trên cơ sở so
sánh để đưa ra kết luận những yếu tố nào tăng, giảm hay không đổi qua các năm. Sử
dụng phương pháp này để phân tích được sự biến động của lãi suất với hoạt động kinh
doanh qua các thời kỳ, qua từng giai đoạn. Và sử dụng phương pháp này sẽ so sánh,
5
đối chiếu và đánh giá sự tăng giảm, biến động của lãi suất qua các năm.
* Phương pháp phân tích cơ bản
Là sự kiểm định những yếu tố chủ chốt ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp dựa trên nguồn dữ liệu đã có và sử dụng kết quả của các phương pháp
khác.
* Phương pháp phân tích tổng hợp
Sau khi tiến hành thu thập số liệu, xử lý, phân tích dữ liệu ta phân tích tổng hợp.
Đưa ra được các kết luận ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động kinh doanh
của công ty cổ phần đầu tư quốc tế Bắc Sơn và từ đó biết được các nguyên nhân và các
biện pháp giải quyết nhằm hạn chế ảnh hưởng của lãi suất đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty.
6. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần tóm lược, mục lục, danh mục bảng biểu, sơ đồ hình vẽ, danh mục từ
viết tắt, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm có các phần sau:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về “Ảnh hưởng của biến động lãi suất đến
hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư quốc tế Bắc Sơn”
Chương 2: Thực trạng về sự ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động
kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư quốc tế Bắc Sơn.
Chương 3: Các đề xuất và kiến nghị nhằm hạn chế ảnh hưởng của biến động lãi
suất đến hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư quốc tế Bắc Sơn
6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA BIẾN
ĐỘNG LÃI SUẤT ĐẾN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ
PHẦN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ BẮC SƠN

1.2 .Một số lý thuyết về ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động kinh
doanh:
1.2.1. Một số lý thuyết về lãi suất
7
1.2.1.1. Phân loại lãi suất
● Căn cứ vào loại hình tín dụng, lãi suất được phân loại:
Lãi suất thương mại: Áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới hình thức
mua bán chịu hàng hóa.
Lãi suất tiền gửi: Là lãi suất được trả cho các khoản tiền gửi của người đi vay.
Lãi suất tiền vay: Là lãi suất người đi vay phải trả do việc sử dụng vốn vay của
ngân hàng.
Lãi suất chiết khấu: Áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dưới hình thức
chiết khấu thương phiếu hay các giấy tờ có giá trị chưa đến hạn thanh toán của khách
hàng, được tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá trị và được khấu
trừ ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng.
Lãi suất tái chiết khấu: Áp dụng khi Ngân hàng Trung ương tái cấp vốn cho các
ngân hàng thương mại dưới hình thức chiết khấu lại các thương phiếu hay các giấy tờ
có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán cho các ngân hàng, được tính bằng tỷ lệ phần
trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và cũng được khấu trừ ngay khi Ngân hàng
Trung ương cấp vốn vay tiền cho Ngân hàng
Lãi suất liên ngân hàng: Là lãi suất mà các ngân hàng cho nhau vay trên thị
trường liên ngân hàng.
Lãi suất cơ bản: Là lãi suất được các ngân hàng sử dụng làm cơ sở ổn định mức
lãi suất kinh doanh của mình.
● Căn cứ theo giá trị thực của tiền lãi:
Lãi suất danh nghĩa: Là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ hay nói
cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát.
Lãi suất thực: Là lãi suất điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về lạm
phát. Nói cách khác, lãi suất thực là loại lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát.
Quan hệ giữa lãi suất thực và lãi suất danh nghĩa được phản ánh bằng phương

Hình 1.1 cho biết:
E là điểm cân bằng của thị trường tiền tệ
Tại mức lãi suất cân bằng mức cầu tiền vừa đúng bằng mức cung tiền
Ở mức lãi suất thấp hơn sẽ có mức dư cung trái phiếu tương ứng làm cho giá trái
phiếu giảm xuống, lợi tức trái phiếu giảm xuống và đẩy lãi suất thị trường lên tới .
Sự dịch chuyển đường cung và đường cầu sẽ làm thay đổi vị trí cân bằng của thị
trường tiền tệ. Khi NHTƯ tác động đến mức cung tiền, giả sử là bán trái phiếu hoặc
tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc dẫn đến lượng cung tiền giảm, đường cung tiền dịch chuyển
từ sang và lãi suất cân bằng tăng từ lên .
i M M
9

L

E
L
M
Hình 1.2. Lãi suất cân bằng
Hình 1.2 cho biết:
Giảm cung tiền từ đến dẫn đến lãi suất tăng lên để giảm mức dư cầu tiền do
mức cung tiền giảm đi.
Khi thu nhập thực tế (GNP) tăng lên, nhu cầu tiền cho giao dịch tăng lên. Với
mỗi mức lãi suất, lợi ích cận biên của việc gửi tiền tăng lên và làm tăng mức cầu tiền
thực tế, đường cầu tiền sẽ dịch chuyển từ Lđến L. Với mức cung tiền , lãi suất cân
bằng sẽ chuyển từ đến , điểm cân bằng mới của thị trường tiền tệ sẽ là .
Việc kiểm soát tiền tệ trong thực tế phù hợp với mục tiêu kinh tế vĩ mô thật
không đơn giản. Có hai cách kiểm soát, hoặc là kiểm soát mức cung tiền thì lãi suất
của thị trường sẽ lên xuống bởi tác động của cầu, hoặc kiểm soát lãi suất( ổn định lãi
suất) thì buộc phải để thị trường quyết định mức cung tiền. Cả hai cách đều gặp những
khó khăn nhất định như khi kiểm soát lượng tiền cơ sở (H) thì vấp phải vấn đề hạn chế

● Rủi ro:
Rủi ro là nhân tố được tính vào lãi suất. Một doanh nghiệp không chỉ bị chi phối
bởi các nhân tố bên trong mà còn bị chi phối bởi các yếu tố của môi trường bên ngoài,
chúng không dễ dàng kiểm soát được. Rủi ro môi trường bên ngoài không thể bị loại
trừ và thường tác động khác nhau lên hoạt động của doanh nghiệp và trường hợp xấu
nhất có thể dẫn đến phá sản.
Trong hoạt động tín dụng ngân hàng, sự thay đổi tương quan giữa lãi suất tiền
gửi và lãi suất tiền vay được gọi là rủi ro lãi suất. Trường hợp kì hạn tiền gửi không
đổi, vốn huy động không đổi, nhưng cho vay thấp hơn trước hoặc trường hợp lãi suất
không đổi, vốn huy động không đổi nhưng tiền vay với thời hạn dài hơn trước đều dẫn
đến rủi ro vỡ nợ hoặc rủi ro thiếu vốn khả dụng cao. Do vậy rủi ro thị trường đều được
định giá trong cơ cấu lãi suất đưa ra.
Tóm lại, nhân tố thời gian, nhân tố rủi ro là hai nhân tố chủ yếu tác động đến
quyết định lãi suất của mỗi ngân hàng. Khi ngân hàng cho vay, ngân hàng chịu cả hai
thiệt thòi: thiệt thòi về mặt thời gian do nhường quyền sử dụng tiền trong thời gian
nhất định và thiệt thòi do chấp nhận rủi ro trong thời gian đó. Do đó, phần lãi suất phải
bao gồm giá trị thời gian và lệ phí rủi ro.
● Thị trường vốn quốc tế:
Trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới hiện nay, vốn được luân chuyển
trên phạm vi quốc tế. Vì vậy, lãi suất trên thị trường tiền tệ mỗi quốc gia cũng chịu tác
động của thị trường khu vực và thế giới. Trước hết thị trường vốn quốc tế quyết định
11
lãi suất thực quốc tế. Sau đó lãi suất thực quốc tế lại ảnh hưởng gián tiếp đến lãi suất
thực tại các nước theo từng quy mô của nền kinh tế mở.
Dưới nền kinh tế nhỏ: Lãi suất thực nội địa phải cao hơn lãi suất thực thế giới
nếu muốn thu hút đầu tư quốc tế và ngăn cản người gửi tiết kiệm trong nước đầu tư
vốn ra nước ngoài.
Dưới nền kinh tế hùng mạnh: Mức độ ảnh hưởng lãi suất quốc tế đến lãi suất
thực trong nước đôi khi không lớn bằng tác động ngược lại của sự thay đổi lãi suất do
tiết kiệm và đầu tư nước đó biến động đến lãi suất thực của thế giới.

Thu
nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận: tiêu dùng
và tiết kiệm. Tỷ l


phân
chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như thu nhập, vấn
đề hàng hoá lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết kiệm trong đó lãi suất
có tác dụng tích cực tới các nhân tố đó.
Khi lãi suất thấp chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiều cho việc
tiêu dùng hàng hoá nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn. Khi lãi suất cao đem lại thu nhập
từ khoản tiều để dành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng.
● Lãi suất với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu:
Tỷ giá chịu ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ. Sự
thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ ở đây là sự thay đổi trong lãi suất danh nghĩa. Nếu lãi
suất danh nghĩa tăng do tỷ lệ lạm phát tăng (lãi suất thực không đổi) thì tỷ giá
giảm. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực tế tăng (tỷ lệ lạm phát không
đổi) thì tỷ giá tăng. khi tỷ giá đồng ngoại tệ tăng đồng nội tệ sẽ giảm giá (tỷ giá
giảm) và ngược lại.
Vai trò của lãi suất trong nước với quá trình xuất nhập khẩu: Khi lãi suất thực tế
tăng lên làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên, tỷ giá hối đoái cao hơn làm hàng hóa của
nước đó ở nước ngoài trở nên đắt hơn lên và hàng hóa nước ngoài ở nước đó sẽ trở nên
rẻ hơn, dẫn đến giảm xuất khẩu ròng.
Vai trò của lãi suất nước ngoài với xuất khẩu ròng:
Khi lãi suất tiền gửi bằng
ngoại tệ tăng lên, đường lợi tức dự tính của đồng ngoại tệ dịch chuyển sang phải
làm giảm tỷ giá hối đoái. Hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn so với các quốc gia khác.
● Lãi suất với lạm phát:
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và lạm
phát. Fishes chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát, do đó lãi suất được

phương châm “đi vay để cho vay”, NHTM huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong các
doanh nghiệp và dân cư để cho vay phát triển kinh tế và các nhu cầu tiêu
dùng
khác
của nhân dân. Để huy động vốn và cho vay có hiệu quả, NHTM phải xác định lãi suất
tiền gửi và lãi suất tiền vay một cách hợp lý. Nếu lãi suất huy động tiền gửi quá thấp
thì không khuyến khích các doanh nghiệp và dân cư gửi tiền vào, dẫn đến NHTM
không đủ vốn cho vay để đáp ứng yêu cầu khách hàng.
Lãi suất Ngân hàng là nhân tố quan trọng quyết định kết quả hoạt động kinh
doanh của NHTM và khách hàng. Nếu lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc
đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại. Bởi vậy lãi suất Ngân hàng
vừa là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước vừa là công cụ điều hành vi mô của
các NHTM.
Do vậy, khi huy động tiền gửi mà với lãi suất thấp thì không khuyến khích
doanh nghiệp và dân cư gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng, sẽ dẫn đến hậu quả là
NHTM không đủ vốn để cho vay đáp ứng yêu cầu vay vốn của khách hàng.
Ngược lại, nếu lãi suất cho vay cao, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không có
lãi hoặc lãi quá thấp sẽ thu hẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động để gửi vốn vào ngân
hàng.
1.2.1.4. Các công cụ điều tiết lãi suất của Chính phủ
● Nghiệp vụ thị trường mở
Nghiệp vụ thị trường mở là hoạt động mua bán giấy tờ có giá giữa Ngân hàng
Trung ương và các tổ chức tín dụng. Thông qua hoạt động mua bán giấy tờ có giá,
Ngân hàng Trung ương tác động trực tiếp đến nguồn vốn khả dụng của các tổ chức tín
dụng, từ đó điều tiết lượng cung ứng tiền tệ và tác động gián tiếp đến lãi suất thị
trường.
● Chính sách tái chiết khấu:
14
Đây là hoạt động mà Ngân hàng Trung ương thực hiện cho vay ngắn hạn đối với
các Ngân hàng thương mại thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu bằng việc điều chỉnh lãi

sản phẩm điện tử rất ngắn, các sản phẩm nhanh chóng được thay đổi, hoàn thiện bằng
các sản phẩm mới. Công nghiệp điện tử là động lực thúc đẩy và là cơ sở để thúc đẩy
và phát triển nhiều lĩnh vực công nghệ khác dẫn đến các thay đổi mang tính dây
15
chuyền. Đây được coi là cơ sở của thời kỳ hậu công nghiệp , chuyển sang kinh tế tri
thức.
● Về công nghệ:
Ngành hàng điện tử có tốc độ thay đổi công nghệ rất nhanh, chu kỳ sống của sản
phẩm ngắn. Công tác nghiên cứu và triển khai (R&D) là một trong những yếu tố quyết
định sự thành bại của các hãng lớn, ở đây khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp. Công nghệ thông tin và máy tính ngày càng tác động lớn đến sản xuất-kinh
doanh, cách làm việc và lối sống xã hội. Công nghệ phát triển theo hướng tích hợp cao
về linh kiện và thiết bị.Điện tử -Tin học-Viễn thông-Tự động hoá ngày càng gắn kết
với nhau trong một sản phẩm hoặc hệ thống thiết bị.
Ngành công nghiệp điện tử cần lượng vốn đầu tư lớn để đầu tư cho sản xuất, thiết
kế sản phẩm, nghiên cứu – triển khai, đổi mới công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực có
trình độ cao. Đồng thời do đặc tính kế thừa và tính bảo mật cao trong sản xuất và
nghiên cứu nên việc chuyển giao công nghệ rất hạn chế. Do đó hầu hết các sản phẩm
điện tử nổi tiếng đều tập hợp vào một số công ty, tập đoàn có tiềm lực mạnh về vốn và
công nghệ như các nước Mỹ, Nhật Bản, EU và Hàn quốc.
● Phân loại hàng điện tử:
Theo các chuyên gia Việt nam, hàng điện tử có thể chia thành 7 nhóm sản phẩm
chính sau:
Sản phẩm thiết bị điện tử dân dụng.
Sản phẩm thiết bị tin học.
Sản phẩm thiết bị thông tin liên lạc.
Sản phẩm thiết bị điện tử công nghiệp và chuyên dụng.
Sản phẩm phần mềm và dịch vụ tin học.
Dịch vụ điện tử công nghiệp và chuyên dụng.
Vật liệu, linh kiện, phụ kiện điện tử tin học.

Mặt hàng điện tử, điện lạnh là những mặt hàng có công nghệ cao, tương đối khó
sử dụng, đòi hỏi phải có dịch vụ trong và sau bán chu đáo góp phần giúp khách hàng
lựa chọn sản phẩm phù hợp, biết cách sử dụng sản phẩm, giải đáp thắc mắc để khách
hàng yên tâm sử dụng sản phẩm cũng như được hưởng những ưu đãi từ những dịch vụ
sau bán như bảo trì, sửa chữa… qua đó đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm và thu hút được sự
quan tâm của khách hàng.
* Mạng lưới phân phối và vị trí điểm bán:
Mạng lưới phân phối sản phẩm rộng lớn, vị trí điểm bán lý tưởng là yếu tố quan
trọng trong việc tiếp cận nhiều hơn với các đối tượng khách hàng, thuận tiện trong việc
giới thiệu sản phẩm đến tay người tiêu dùng, qua đó tiêu thụ được nhiều sản phẩm
hơn. Do đó, lựa chọn vị trí bán hàng và mở rộng thị trường là việc cần thiết.
* Xúc tiến thương mại:
Bao gồm các hình thức quảng cáo và khuyến mại nhằm thu hút thêm khách
hàng, thu hút sự chú ý, lôi kéo sự quan tâm của khách hàng, tạo ra những mong muốn
sở hữu sản phẩm hay dịch vụ, và sau đó là kích thích khách hàng bỏ ra chi phí để sở
hữu sản phẩm.Có rất nhiều hình thức để thực hiện quảng cáo phục vụ cho các hoạt
động thương mại của doanh nghiệp, và những phương pháp mới đang ngày càng được
phát triển mạnh mẽ. Những mẫu quảng cáo có thể thực hiện trên các tạp chí, nhật báo,
và ngày càng xuất hiện nhiều hơn trên internet. Ngoài ra doanh nghiệp cũng có thể
thiết kế và thực hiện những hoạt động quảng cáo trên radio, tivi, cinema, quảng cáo
ngoài trời, phương tiện giao thông công cộng…
* Nhân viên bán hàng:
Là những người trực tiếp làm ra doanh thu, truyền tải hình ảnh và bộ mặt doanh
nghiệp.Nhân viên bán hàng là chiếc cầu nối giữa khách hàng và doanh nghiệp. Người
nhân viên bán hàng vừa phải chăm sóc quyền lợi của công ty mình: bán được sản
phẩm với đúng giá mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp mình, vừa phải chăm sóc
quyền lợi của khách hàng: mua được sản phẩm ở mức giá phải chăng, giúp họ sử dụng
sản phẩm của mình một cách hiệu quả nhất, mang lại lợi ích cao nhất cho khách hàng.
● Nhân tố bên ngoài:
* Khách hàng:

19
Vốn vay bao gồm vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn
Vốn của chủ sở hữu bao gồm vốn huy động từ các loại cổ phiếu thường, cổ phiếu
ưu đãi, lợi nhuận không chia.
Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài của mình. Em tập trung vào nghiên
cứu chí phí của vốn vay:
Chí phí của vốn vay = ( 1 – T ) (1)
Trong đó, là lãi suất, T là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp.
Từ công thức (1) có thể thấy, với mức T không đổi thì những thay đổi về lãi suất
đều ảnh hưởng đến chi phí vốn vay của doanh nghiệp, qua đó ảnh hưởng đến chi phí
vốn của doanh nghiệp.
Nhà nước sử dụng các công cụ lãi suất, tăng hoặc giảm lãi suất phù hợp sự phát
triển kinh tế của đất nước đều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, chi phí, doanh thu
và lợi nhuận của doanh nghiệp. Nhà nước sử dụng chính sách tăng lãi suất, khi đó
doanh nghiệp phải mất thêm một khoản chi phí cho việc đầu tư hoạt động kinh doanh,
do đó làm giảm doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Ngược lại, Nhà nước sử
dụng chính sách giảm lãi suất sẽ làm chi phí đầu tư của doanh nghiệp giảm đi một
phần, do đó làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.
1.3.2. Sự biến động lãi suất tác động đến giá thành sản phẩm:
Trong kinh doanh, doanh nghiệp phải dự kiến giá thành sản phẩm và đề ra các
biện pháp để thực hiện dự kiến đó, tức là đặt ra kế hoạch xây dựng giá thành. Trong
công tác quản lý, giá thành sản phẩm giữ vai trò quan trọng và được tính theo công
thức:
Giá thành sản phẩm = giá thành sản xuất + chi phí quản lý doanh nghiệp + chi
phí bán hàng.
Giá thành sản xuất ( còn gọi là giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả
những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi
phân xưởng sản xuất.
Giá thành sản phẩm( còn gọi là giá thành toàn bộ) là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ
chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.

các nước trên thế giới cũng như NHNN Việt Nam là ổn định giá trị đồng tiền Quốc gia
thông qua việc kiểm soát lạm phát. Trong đó, lãi suất là một trong những công cụ điều
hành chính sách tiền tệ của NHTƯ để đạt được mục tiêu tôn chỉ đó. Để đối phó với
những biến động không ngừng của nền kinh tế trong thời gian qua, NHNN Việt Nam
đã có những sự điều chỉnh lãi suất thông qua bảng thống kê sau:
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Năm 2010, một năm đầy biến động của thị trường tiền tệ trong nước cũng như
trên thế giới,một năm mà nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn trong giai đoạn
phục hồi những ảnh hưởng từ biến động kinh tế thế giới 2008-2009. Trước tình hình
đó, để thực hiện đồng bộ với các giải pháp của Chính phủ, NHNN thực hiện điều hành
chính sách tiền tệ- tín dụng hoạt động ổn định, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và
kiềm chế lạm phát gia tăng những tháng cuối năm một cách hiệu quả. Theo đó, NHNN
đã duy trì lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam ổn định ở mức 8% trong suốt 10 tháng
đầu năm và thực hiện điều chỉnh lên mức 9% trong hai tháng cuối năm trước sức ép
của lạm phát.
Bên cạnh đó, để tạo điều kiện cho thị trường tiền tệ hoạt động theo quy luật thị
trường, có sự quản lý của Nhà nước, NHNN từng bước bỏ các quy định rằng buộc về
các loại lãi suất của các TCTD. Cụ thể là trong năm, NHNN đã ban hành Thông tư số
03/2010/TT-NHNN; Thông tư 07/2010/TT-NHNN; Thông tư 12/2010/TT-NHNN cho
phép TCTD được thực hiện cho vay bằng VND theo cơ chế lãi suất thỏa thuận. Tuy
nhiên, chính sách điều hành cũng như chính sách lãi suất vẫn bị chi phối bởi chính
sách kinh tế đa mục tiêu, chịu áp lực lớn từ biện pháp kinh tế vĩ mô của Chính phủ. Vì
vậy, đã tạo ra những khó khăn nhất định trong công tác điều hành ổn định mặt bằng lãi
suất của NHNN.
Năm 2011, NHNN đã 2 lần tăng lãi suất chiết khấu( từ 7% năm 2010 lên 13%), 4
lần tăng lãi suất tái cấp vốn( từ 9% lên 15%). Lãi suất cơ bản đã được giữ nguyên 9%
kể từ năm 2010. Lãi suất bắt đầu leo thang kể từ đầu tháng 5/2011, có thời điểm huy
động VND lên đến 20%/năm, lãi suất cho vay nông nghiệp nông thôn lên 16,5-
20%/năm, cho vay phí sản xuất từ 25-28%/năm. Quy định trần lãi suất 14%/ năm
khiến các NHNN gặp khó về thanh khoản và phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng

xuất
khẩu( tỷ
USD)
Giá trị
nhập
khẩu( tỷ
USD)
Giá trị
xuất
khẩu( tỷ
USD)
Giá trị
nhập
khẩu( tỷ
USD)
Giá trị
xuất
khẩu( tỷ
USD)
Điện thoại các loại
và linh kiện
1.4 1.9 2.42 5.68 4.48 11.34
Máy vi tính, sản
phẩm điện tử và
linh kiện
4.98 2.065 6.93 4.13 11.9 6.98
( Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Theo bảng số liệu trên ta có thể thấy giá trị xuất nhập khẩu các mặt hàng điện tử
năm sau luôn cao hơn năm trước. Điện thoại và linh kiện hướng nhiều đến xuất khẩu,
nếu như giá trị xuất khẩu mặt hàng này năm 2010 là 1.9 tỷ USD thì giá trị xuất khẩu

trọng
(%)
Doanh nghiệp
Nhà nước
74 42.1 38 3.8 10.138 53.6
Doanh nghiệp
ngoài QD
52 29.5 18.5 1.9 1.907 10.1
Công ty liên
doanh
29 16.5 491.8 49.4 3.713 19.6
Công ty 100%
vốn nước ngoài
21 11.9 448.2 44.9 3.615 16.7
Tổng 176 100 996.5 100 18.923 100
( Nguồn: Bộ Công thương)
● Nguồn hàng
Thị trường nhập khẩu hàng điện tử của Việt Nam chỉ tập chung ở một số ít nước
thuộc khu vực Châu Á. Riêng 5 nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc,
Hồng Kông chiếm đến 95% tổng số mặt hàng điện tử nhập khẩu vào Việt Nam. Ngoài
2 nguồn cung cấp chính từ doanh nghiệp trong nước và nhập khẩu chính ngạch, còn
một số lượng không nhỏ các sản phẩm điện tử dân dụng, đặc biệt là các sản phẩm đã
qua sử dụng của nước ngoài vào Việt Nam qua con đường nhập lậu, phi mậu dịch…
24
Đây là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng đến tình hình sản xuất của các
doanh nghiệp trong nước và tình hình nhập khẩu qua con đường chính ngạch.
(Nguồn: Bộ Công thương)
2.2. Ảnh hưởng của biến động lãi suất đến hoạt động kinh doanh của công ty cổ
phần đầu tư quốc tế Bắc Sơn
2.2.1. Thực trạng hoạt động của công ty cổ phần đầu tư quốc tế Bắc Sơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status