BÀI TẬP MÔN MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN SỞ HỮU TRÍ TUỆ - Pdf 26

Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
*****
BÀI TẬP MÔN
MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI CỦA CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

Đề tài
SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Giáo viên hướng dẫn: Trần Doãn Vinh
Nhóm Sinh viên thực hiện: Trần Xuân Đặng
Trần Hùng Trường
Nguyễn Ngọc Tùng
Lớp K54B
HÀ NỘI 09/2007
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN1
Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ

MỤC LỤC
trang
Lời mở đầu 3
PHẦN I – TỔNG QUAN 4
1.1 Sở hữu trí tuệ là gì ? 4
1.2 Các loại hình SHTT 7
Các loại hình SHTT chủ yếu 7
Các loại hình sở hữu trí tuệ khác 13

Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
Lời mở đầu
Trong khoản hơn chục năm gần đây, quyền SHTT đã trở thành một vấn đề kinh
tế và pháp lý trọng tâm trong nội bố của nhiều nước, cũng như trong các thương
lượng, tranh chấp quốc tế. Trên tầm nhìn vĩ mô, những đòi hỏi thắt chặt quyền
SHTT trong thực tế thi hành cùng với sự kháng cự lại ý định lạm dụng ý niệm
SHTT đã đặt quyền SHTT vào trung tâm của những liên hệ kinh tế song phương và
đa phương, biểu hiện thành hai xu hướng hiện đại, thứ nhất là sự phát triển mang
tính khống chế của một nền Kinh tế Tri thức có nhân tố cốt lõi là trí tuệ và thứ hai
là trào lưu toàn cầu hóa.
Thế giới mà chúng ta đang sống đang thay đổi ngày càng mạnh mẽ. Chỉ nói
riêng về kinh tế, cuộc cách mạng đang diễn ra không chỉ là cuộc cách mạng về tốc
độ, cũng không phải là cuộc cách mạng về năng suất mà là cuộc cách mạng về
khái niệm - những khái niệm hoàn toàn mới. Và CNTT không thể nằm ngoài guồng
quay đó, SHTT trong lĩnh vực CNTT đang là một trong các vấn đề quan tâm hàng
đầu của mỗi quốc gia, đặc biệt với những nền kinh tế trong thời kỳ hội nhập, hứa
hẹn những thời cơ và thách thức lớn.
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN3
Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
PHẦN I – TỔNG QUAN
Trí tuệ là thứ tài sản vô hình của con người, vì cũng tài sản nên trí tuệ cũng cần
được bảo vệ như những tài sản hữu hình khác…
1.1 Sở hữu trí tuệ là gì ?
Các tác phẩm nghệ thuật và văn học; các biểu tượng, hình ảnh, tên, thiết kế dùng
trong thương mại: thông tin và lời nói được dùng lần đầu của những cá nhân sáng
tạo ra chúng được gọi là sở hữu trí tuệ (IP - Intellectual Property).

chủ sở hữu chuyển giao quyền SHTT.
Vi phạm bản quyền là sao chép lại tác phẩm của người khác mà không xin
phép, thậm chí công bố công trình đó là của mình sáng tạo ra:
• Sao chép là việc tạo ra một hoặc nhiều bản sao của tác phẩm hoặc bản
ghi âm, ghi hình bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả
việc lưu trữ thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử.
• Vi phạm về bản quyền một tác phẩm là sao chép nguyên văn một phần
hay toàn bộ tác phẩm đã có từ trước nhưng không có giấy cho phép của
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN5
Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
người hay giới có bản quyền hay không sao chép nguyên văn nhưng toàn
bộ ý tưởng chi tiết cũng như thứ tự trình bày của một tác phẩm bị sao
chép. Dạng vi phạm này khó phát hiện hơn nhưng vẫn có thể cho là một
dạng vi phạm bản quyền nếu như có bằng chứng là "bản sao" bắt chước
theo nguyên mẫu.
• Vi phạm bản quyền của một sáng chế là sử dụng lại ý tưởng đã được
công bố là sáng chế và bằng sáng chế nguyên thủy vẫn còn đang trong
vòng hiệu lực của luật pháp. Cần lưu ý, một bằng sáng chế tại một quốc
gia hay địa phương này khó có thể dùng để chứng minh rằng: một ứng
dụng dựa trên sáng chế đó tại một quốc gia khác là vi phạm bản quyền,
trừ khi bằng sáng chế đó có sự công nhận của quốc tế.
Mô phỏng lại, hay viết lại (bằng một ngôn ngữ khác hay cách viết khác)
miêu tả của một ý kiến sáng tạo đã được công nhận là một sáng chế còn
trong thời hạn định nghĩa bởi chủ quyền cũng là một dạng vi phạm bản
quyền. Dạng này tương đối khó phát hiện nhưng những dấu tích về cấu
trúc ý tưởng hay phương cách dàn dựng kỹ thuật sẽ có thể là những dấu

kinh tế của người sáng tác ra các tác phẩm văn học và
nghệ thuật, trong đó bao gồm quyền tái bản, in ấn và
trình diễn hay trưng bày tác phẩm của mình trước công
chúng.
Bản quyền chủ yếu nhằm bảo vệ âm nhạc, phim ảnh, tiểu thuyết, thơ ca, kiến
trúc và các tác phẩm nghệ thuật có giá trị văn hóa khác. Các chương trình máy tính
và ghi âm giờ đây cũng được bảo vệ.
Bản quyền cũng được bảo vệ lâu hơn nhiều so với một số hình thức sở hữu trí
tuệ khác (Công ước Berne, công ước quốc tế được ký năm 1886, theo đó các nước tham
gia công ước công nhận các tác phẩm được bảo hộ bản quyền của các nước thành viên,
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN7
Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
quy định rằng thời gian bảo hộ bản quyền là 50 năm kể từ khi tác giả qua đời. Theo Công
ước Berne thì các tác phẩm văn học, nghệ thuật và các tác phẩm có giá trị khác được bảo
hộ bản quyền ngay từ khi ra đời. Tác giả không cần phải đăng ký chính thức quyền bảo
hộ cho tác phẩm của mình tại những quốc gia là thành viên của Công ước đó.
Tuy nhiên, Công ước Berne cho phép cấp bản quyền có điều kiện, chẳng hạn như
trường hợp của Hoa Kỳ chỉ bảo hộ bản quyền đối với những tác phẩm được sáng tác theo
những hình thức nhất định).
Nhiều nước cũng có các trung tâm bản quyền quốc gia để quản lý hệ thống bản
quyền (Chẳng hạn như ở Hoa Kỳ, Hiến pháp cho phép Quốc hội ban hành luật để thiết
lập hệ thống bản quyền và hệ thống này do Phòng Bản quyền thuộc Thư viện Quốc hội
quản lý.

Khả năng nhanh chóng đăng ký quyền bảo hộ bản quyền đã làm cho các ngành
công nghiệp giải trí khổng lồ của Hoa Kỳ phát triển mạnh mẽ, đóng góp 6% vào GDP

phải công bố chi tiết phát minh của mình cho công chúng.
Nếu không có sự bảo hộ của bằng sáng chế thì nhiều sản phẩm đã không bao
giờ xuất hiện, đặc biệt là những sản phẩm cần vốn đầu tư lớn nhưng một khi đã bán
ra thị trường thì dễ dàng bị các đối thủ cạnh tranh bắt chước làm theo. Nếu không
có bằng sáng chế thì sẽ không thể có sự phát triển công nghệ (ít nhất là kể từ năm
1474 khi nước Cộng hòa Venice lần đầu tiên cấp bằng sáng chế thì việc bảo hộ
bằng sáng chế đã thúc đẩy sự phát triển và phổ biến những công nghệ mới).
Nếu các nhà sáng chế phải bảo vệ sáng chế của mình bằng cách giữ bí mật về
những sáng chế đó thì điều quan trọng hơn là những sáng chế không được công bố
này sẽ bị mai một đi.
Tuy nhiên, việc xin cấp bằng sáng chế không hề đơn giản. Bằng sáng chế không
được cấp cho những ý tưởng mơ hồ mà chỉ được cấp cho những đơn xin cấp bằng
được trình bày một cách cụ thể và cẩn thận. Nhằm tránh việc bảo hộ cho những
công nghệ đã được phổ biến hay công nghệ mà đến thợ thủ công bình thường cũng
dễ dàng làm được, những đơn xin cấp bằng sáng chế phải được các chuyên gia xem
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN9
Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
xét. Do đơn xin cấp bằng sáng chế khác nhau rất nhiều về giá trị của công nghệ mà
đơn đòi bảo hộ, người xin cấp bằng sáng chế phải nói rõ phạm vi bảo hộ hợp lý.
(Phạm vi bảo hộ buộc người nộp đơn xin cấp bằng sáng chế phải rất thận trọng
trong việc đưa ra giới hạn về phát minh của mình và những gì sẽ được bảo hộ khỏi
sự xâm phạm). Việc này thường mất hai năm hoặc lâu hơn và rất tốn kém.
Nhiều tập đoàn công nghiệp quốc tế đã xúc tiến việc đăng ký các sáng chế liên
quan đến PM của họ tại Việt Nam. Trên con đường hội nhập, có thể nói các sáng
chế mới thực sự là hệ xương sống của ngành công nghiệp PM.
Bí mật kinh doanh (Trade secret)

mật thương mại được bảo vệ đầy đủ.
Nhãn hiệu (Trademark)
Nhãn hiệu là chỉ số chỉ dẫn thương mại, là dấu hiệu phân biệt để xác định một
loại hàng hóa hay dịch vụ do các tổ chức, cá nhân cụ thể sản xuất hoặc cung cấp.
Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: là dấu hiệu nhìn
thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự
kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc và, có khả năng
phản biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá, dịch vụ của
chủ thể khác. Thời hạn bảo hộ độc quyền nhãn hiệu là 10 năm và có thể gia hạn
theo nhiều chu kỳ 10 năm tiếp theo.
Nhãn hiệu đặc biệt quan trọng khi người sản xuất và tiêu dùng ở cách xa nhau.
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN11
Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
Một số nhãn hiệu nổi tiếng trên thế giới
Trẻ nhỏ đòi mua búp bê Barbie, đồ chơi lắp ghép Lego và xe ô tô đồ chơi Hot
Wheel. Một số người lớn mơ ước chiếc xe Ferrari, nhưng đa số đều có thể mua xe
hơi hiệu Honda hay Toyota. Những khách hàng này cần nhãn hiệu để tìm kiếm hay
né tránh hàng hóa và dịch vụ của các công ty khác.
Ở hầu hết các nước trên thế giới, nhãn hiệu cần phải được đăng ký thì mới có
thể bảo hộ được và việc đăng ký cần phải được gia hạn. Thế nhưng trong khi bản
quyền và bằng sáng chế tự hết hạn thì tên của công ty phục vụ khách hàng tốt sẽ
ngày càng trở nên có giá. Nếu giả sử nhãn hiệu cũng bị hết hạn thì khách hàng cũng
bị thiệt hại chẳng kém gì người sở hữu nhãn hiệu (Chúng ta thử tưởng tượng sẽ hỗn
loạn như thế nào khi các công ty vô danh lại bán sản phẩm của mình với nhãn hiệu
của công ty khác. Và chúng ta hãy thử xem xét trường hợp chất lượng đáng ngờ
của tân dược giả và những điều tệ hại, thậm chí là tử vong, có thể xảy ra khi người

phép hoặc cấm sử dụng tên và hình ảnh của mình vì mục đích thương mại sai trái,
gian lận

Số tiền mà họ kiếm được từ việc cho phép dùng tên và hình ảnh của
mình nhiều khi còn lớn hơn là từ những hoạt động dựa trên danh tiếng.
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN13
Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
Kiểu dáng công nghiệp
Nhiều kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ như là sáng chế về kiểu dáng ( ở
Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc) hay bản quyền ( ở Mỹ, các tác phẩm có kiểu dáng mỹ
thuật thuần túy như đồ trang sức hay mẫu vải áp dụng cho các loại sợi được bảo
hộ bằng bản quyền. Ngoài ra, Mỹ còn bảo hộ theo luật định hai loại hình đặc biệt
là các giống cây trồng mới, kiểu thân tàu độc đáo và con chíp máy tính).
Kiểu dáng chỉ nhằm mục đích chỉ rõ nguồn gốc thương mại có thể được bảo hộ
theo luật về nhãn hiệu.
Giải pháp hữu ích

1.3 Các Công ước và Hiệp ước Quốc tế về SHTT mà Việt Nam tham gia
Cho đến nay, Việt Nam đã tham gia các điều ước quốc tế quan trọng cũng như
đã ký kết các điều ước quốc tế song phương và đa phương về quyền SHTT.
 Công ước Stockholm về việc thành lập Tổ chức SHTT Thế giới
Tổ chức SHTT Thế giới (WIPO) được thành lập
trên cơ sở Công ước ký tại Stockholm này
14.07.1967 là một tổ chức liên chính phủ có trụ sở
tại Geneve, Thụy Sỹ và là một trong 16 tổ chức
chuyên môn của Liên Hiệp Quốc. Công ước

 Thoả ước Madrid về đăng ký quốc tế các nhãn hiệu
Thoả ước này được ký tại Madrid năm 1891, trong đó quy định việc đăng ký
quốc tế nhãn hiệu tại Văn phòng quốc tế của WIPO ở Geneva.
Theo Thoả ước này thì công dân của một nước thành viên muốn bảo hộ một
nhãn hiệu của mình tại nhiều nước thành viên khác, trước tiên phải đăng ký nhãn
hiệu của mình tại Cơ quan Sở hữu công nghiệp quốc gia, sau đó thông qua Cơ quan
Sở hữu công nghiệp quốc gia có thể nộp đơn đăng ký quốc tế cho Văn phòng quốc
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN15
Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
tế của WIPO. Văn phòng quốc tế sẽ công bố đơn đăng ký quốc tế và chỉ rõ những
nước thành viên mà người nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãn hiệu của mình (nước được
chỉ định). Nước được chỉ định có thời gian 1 năm để xem xét chấp nhận hoặc từ
chối bảo hộ nhãn hiệu trên lãnh thổ của mình. Nếu sau 1 năm nước được chỉ định
không có ý kiến thì nhãn hiệu coi như được chấp nhận bảo hộ ở nước đó.
Tính đến ngày 22.06.1999 Thoả ước Madrid có 51 thành viên, Việt Nam tham
gia Thoả ước này từ ngày 08.03.1949. Tính đến nay đã có hơn 50000 nhãn hiệu của
người nước ngoài được chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam thông qua Thoả ước
Madrid.
Việt Nam cũng tham gia Nghị định thư liên quan đến Thoả ước Madrid vào
tháng 10/2006.
 Hiệp ước Hợp tác Patent (PCT)
Hiệp ước Hợp tác Patent được ký tại Washington năm 1970, tạo khả năng cho
người nộp đơn đăng ký sáng chế thuộc một quốc gia thành viên có thể nhận được
sự bảo hộ cho sáng chế của mình ở mỗi nước trong số nhiều nước thành viên khác
bằng việc nộp một đơn duy nhất (gọi là đơn quốc tế) tại Cơ quan Sở hữu công
nghiệp quốc gia của nước thành viên mà người nộp đơn là công dân hoặc có chỗ ở

và hội nhập kinh tế quốc tế
• Bối cảnh quốc tế
SHTT đang bị xâm phạm ở mức độ đáng báo động và trên một phạm vi lớn:
 Một thế giới buôn bán hàng giả và hàng nhái
- Doanh số buôn bán hàng giả và hàng nhái theo ước tính lên đến 500 tỷ đô
la/năm trên toàn thế giới.
- Các số liệu thống kê dù là của Uỷ ban Châu Âu cho biết trong nửa đầu năm
2003, hải quan của các nước thành viên EU đã bắt giữ một lượng hàng giả
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN17
Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
và hàng nhái trị giá 50 triệu đôla. Để so sánh, thông báo của Uỷ ban Châu
Âu lưu ý rằng, trong cả năm 2002, các quan chức hải quan đã bắt giữ hàng
giả trị giá 85 triệu đôla.
- Theo một cuộc khảo sát vừa được ICC công bố thì 2/3 số hàng giả bị thu
giữ ở Liên minh châu Âu có xuất xứ từ Trung Quốc.
 Một vài ví dụ và số liệu trên giải thích tại sao việc chống vi phạm quyền
SHTT và làm hàng giả, hàng nhái lại là vấn đề thiết yếu và là trách nhiệm chung
của tất cả quốc gia.
Theo Timothy P. Trainer - Chủ tịch Liên minh chống hàng giả quốc tế, Chủ
tịch Trung tâm chiến lược SHTT toàn cầu thì “Thước đo đánh giá tình hình
hoạt động kinh doanh của các công ty khổng lồ giờ đây không chỉ là trị giá cổ
phiếu, thị phần, doanh thu và lợi nhuận ròng mà còn là sự hiện diện của hàng
giả, hàng nhái trên thị trường“ .
 Làn sóng tội phạm SHTT trên toàn cầu
Trong khi các doanh nghiệp là những người hưởng lợi hợp pháp thì một điều
hiển nhiên là, những kẻ phạm tội ăn cắp SHTT, nghĩa là sản xuất, trao đổi và

viêm màng não và gây ra cái chết cho 2.500 người.
 Các nước và các tổ chức đang tiến hành nhiều biện pháp để chống lại tội
phạm ăn cắp quyền SHTT
- Các quan chức ở Châu Âu đã ban hành các quy định kiểm soát biên giới mới
có hiệu lực từ ngày 01/7/2004, một trong các quy định này có nội dung cho phép
bắt giữ hàng hoá bị nghi ngờ, ngay cả khi chủ sở hữu tài sản trí tuệ không có
đơn yêu cầu.
- Các hiệp định, điều khoản được ký kết giữa các đối tác thương mại trên thế
giới đang nâng cao tiêu chuẩn để cải thiện tình hình thực thi quyền SHTT: đã
bao gồm những yêu cầu tăng thêm quyền lực cho cơ quan quản lý nhà nước để
được quyền hành động hợp pháp trong những trường hợp có hàng hoá di chuyển
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN19
Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
qua biên giới và trong những trường hợp có tội phạm ăn cắp thương hiệu và
quyền tác giả.
- Hàng hoá xuất khẩu và quá cảnh sẽ không còn được thông quan tự do nữa mà
phải tuân thủ quy định kiểm tra theo luật.

• SHTT ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay, xâm phạm quyền SHTT và vi phạm pháp luật về bảo hộ
quyền SHTT ngày càng có dấu hiệu trở thành phổ biến, và, mức độ phức tạp,
nghiêm trọng của tình hình xâm phạm quyền SHTT ngày càng có dấu hiệu gia tăng.
Nhìn chung, bức tranh toàn cảnh của hoạt động thực thi và bảo đảm thực thi quyền
SHTT vẫn còn nhiều điểm tối
 Những người có quyền hưởng quyền SHTT chỉ tạo ra tác phẩm nhưng chưa
quan tâm thực sự đến việc bảo vệ quyền của mình thông qua cách đăng ký

động trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình
Một vài con số thống kê
Theo báo cáo của công an 43/64 tỉnh, thành, tính từ năm 2002 đến tháng
6/2007, có tới 1.092 vụ và 1.486 đối tượng sản xuất, buôn bán hàng giả bị phát
hiện gây hại và đe dọa nghiêm trọng thị trường trong nước.
Thống kê sơ bộ về hàng giả bị bắt giữ trong gần 5 năm qua được công bố đã
khiến nhiều người giật mình. Cụ thể, 8 tấn bột ngọt; 85.000 tấn xi măng; 25 tấn mỹ
phẩm; 35 triệu cơ số tân dược; 25.450 chai rượu các loại; 50.000 chai bia, nước
giải khát; 50.000 tấn sắt, thép xây dựng; 15.000 tấn phân bón, thuốc bảo vệ thực
vật…
Thị trường dược phẩm với nhãn hiệu Panadol, có 5 nhãn hiệu khác có kiểu
dáng, tên gọi tương tự. Hoặc như nước suối Lavie, cũng có nhiều sản phẩm nhái.
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN21
Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
Một só vụ vi phạm bản quyền điển hình trong thời gian qua:
Xâm phạm bản quyền tác phẩm ảnh, tác phẩm hội họa: sử dụng ngay tác phẩm
đoạt giải thưởng quốc gia và quốc tế để biến thành tác phẩm của mình: tác phẩm
“Bình minh trên công trường” của Lương Văn Trung sao
chép từ một tác phẩm của họa sĩ Nga nhưng vẫn
đoạt huy chương đồng của Hội Mỹ thuật Việt Nam;
"Nụ hôn của gió", tác phẩm nổi tiếng của Trần Thế
Long từng bị một sinh viên vi phạm bản quyền trắng
trợn….
-
Ca khúc “Tình thôi xót xa” của nhạc sĩ Bảo Chấn đã copy phần nhạc của một
bản nhạc nước ngoài là bản hòa tấu Frontier của nữ nhạc sĩ người Nhật Keiko

lưu quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá về kinh tế, thương
mại diễn ra ngày càng sôi động.
- Bảo hộ quốc tế quyền SHTT là một hoạt động có tính tất yếu, khách quan,
không ngừng được phát triển, thể hiện trên hai hướng:
+ Mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ bằng các thiết chế quốc tế
+ Không ngừng chi tiết hoá nội dung bảo hộ
- Luật SHTT là công cụ pháp lý hữu hiệu để Việt Nam thực hiện các điều ước
quốc tế.
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN23
Một số vấn đề xã hội của CNTT Sở hữu trí tuệ
1.5.2 Những thách thức và đòi hỏi đối với hệ thống bảo hộ quyền SHTT của
Việt Nam
Việc gắn bảo hộ SHTT với quan hệ thương mại song phương, đa phương trong
khu vực và trên phạm vi quốc tế, một mặt, sẽ tạo
điều kiện thuận lợi để có những cơ chế bảo hộ quốc
tế hữu hiệu, mặt khác, cũng sẽ gây ra rất nhiều sức
ép và khó khăn cho các nước có trình độ khoa học
công nghệ thấp, đang trong quá trình hội nhập phải
thực thi các cam kết quốc tế về SHTT.
Công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật về SHTT
Hệ thống pháp luật SHTT của Việt Nam hiện nay tương đối hoàn chỉnh, đồng
bộ và đã tiệm cận được với hệ thống pháp luật SHTT của các nước phát triển.
Nỗ lực gia nhập WTO đã được hiện thực hoá một cách rất căn bản trong quá
trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật chung của Việt Nam. Ngày 29-11-
2005, Quốc hội đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ, ngày 21 và 22-9-2006, Chính phủ
và các Bộ cũng đã ban hành hàng loạt Nghị định và Thông tư hướng dẫn thực hiện

+ Nghị định l06/2006/NĐ-CP ngày 22/09/2006 quy định về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực SHCN. Một điểm khác biệt quan trọng trong các quy
định về xử phạt hành chính được quy định trong Nghị định 106 so với các văn bản
trước đây là mức phạt hành chính đối với hành vi vi phạm quyền SHCN có thể
được tính đến 5 lần giá trị hàng hoá vi phạm.
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN
Xuân Đặng, Hùng Trường, Ngọc Tùng - 54B - CNTT - ĐHSPHN25

Trích đoạn Những hậu quả nghiêm trọng gây ra cho nền kinh tế xã hội Mặt “tích cực” của vi phạm SHTT Giải pháp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status