Đề tài : Một vài kinh nghiệm dạy Tập viết lớp 1
A. MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đi học là một bước ngoặc lớn trong đời trẻ. Năm đầu tiên cắp sách đến trường, trẻ vô
cùng bỡ ngỡ với việc chuyển hoạt động chủ đạo từ vui chơi sang học tập. người ta thường
nói : “ Một trong những hạnh phúc lớn nhất của trẻ là được đến trường học đạo, học viết”.
Bởi vậy, vấn đề rèn luyện chữ viết cho học sinh Tiểu học là vô cùng quan trọng và cần thiết.
Học sinh lớp 1 là học sinh đầu cấp Tiểu học đặt nền móng cơ bản cho toàn bộ quá trình học
tập, rèn luyện về tinh thần kỉ luật, tính cẩn thận, óc thẫm mĩ. Đặc biệt trong môn Tập viết kĩ
năng này càng cần thiết, “ nét chữ là nết người”. Chính vì vậy mà tôi chọn đề tài “ Một vài
kinh nghiệm dạy Tập viết lớp 1” để góp phần trong việc giảng dạy phân môn này được tốt
hơn.
1. Thực trạng của vấn đề :
Qua thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy chữ viết của các em còn xấu, tốc độ viết quá
chậm, chữ viết cẩu thả, chưa đúng cỡ chữ, độ cao con chữ, khoảng cách giữa tiếng với tiếng,
từ với từ chưa xác định cụ thể, viết chưa liền mạch … . Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến
chất lượng học Tiếng Việt nói riêng và các môn học khác nói chung.
- Trước tình hình thực tế như vậy vấn đề đặt ra là người giáo viên cần phải có những
biện pháp nào để rèn học sinh viết đúng, viết đẹp? Đó là việc làm hết sức quan trọng đối với
người giáo viên dạy Tiểu học hiện nay.
2. Ý nghĩa và tác dụng của giải pháp mới.
Trẻ em đến trường được học đọc, học viết. Sung sướng biết bao nhiêu khi các bậc cha
mẹ nhìn thấy con mình tròn môi đánh vần và gắng viết những nét chữ đầu tiên. Nếu như học
vần, tập đọc giúp trẻ đọc thông thì tập viết giúp trẻ viết thạo. Đọc thông mở đường cho viết
thạo, viết thạo sẽ giúp trẻ viết nhanh, viết rõ ràng sáng sủa những điều thầy cô giảng và cả
những điều trẻ nghĩ. Nhìn trang vở tập viết với những dòng chữ đều thẳng tắp, không bị giây
mực, quăn mép, lòng ta dấy lên niềm vui, ta như được củng cố thêm niềm tin vào tương lai
của con trẻ. Nhưng muốn viết thạo, trẻ phải gắng công khổ luyện dưới sự tận tình chăm sóc
của các thầy cô giáo.
Ngoài những ý nghĩa to lớn nói trên, tập viết với những quy tắc chặt chẽ, trước
những mẫu chữ đẹp còn là môi trường quan trọng bồi dưỡng cho trẻ những phẩm chất tốt
chương trình tập viết hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo để không những nâng cao chất
lượng dạy viết chữ mà còn phối hợp với các hợp phần khác nhằm phát huy vai trò công cụ
của việc Tập viết. Chương trình tiểu học ban hành theo Quyết định số 43/2001/QĐ-
BGD&ĐT ngày 9/11/2001 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể như sau :
- Lớp 1 : Tập viết đúng tư thế, hợp vệ sinh. Viết các chữ cái cỡ vừa và nhỏ, tập ghi
dấu thanh đúng vị trí, làm quen với chữ hoa cỡ lớn và cỡ vừa theo mẫu chữ quy định, tập
viết các số đã học.
- Khi học tập viết, học sinh được quan sát trực tiếp chữ mẫu và cách viết mẫu của
giáo viên, nghe giáo viên phân tích cách viết để hình thành biểu tượng chữ viết. Sau đó học
sinh được luyện tập nhiều lần được sửa chữa rồi mới viết vào vở. Do vậy, hoạt động của
giáo viên và học sinh có cao hay không phụ thuộc nhiều vào điều kiện về cơ sở vật chất như
lớp học, ánh sáng, bàn ghế : phải đảm bảo các điều kiện sau :
1. Anh sáng phòng học : Phòng học phải có đủ ánh sáng cho mọi học sinh ngồi học
theo quy định của vệ sinh học đường.
2. Bảng lớp : Bảng lớp được treo ở độ cao vừa phải, cạnh dưới của bảng ngang tầm
đầu của học sinh ngồi trong lớp.
3. Bàn ghế học sinh : Kích thước bàn ghế phải phù hợp với độ cao trung bình của
từng đối tượng học sinh.
4. Bảng viết của học sinh (Bảng con) : Cần chú ý những điều kiện tối thiểu về việc
chuẩn bị bảng con của học sinh. Bảng làm bằng chất liệu mica màu trắng và dụng cụ viết
bằng bút dạ học sinh sẽ không chủ động khi viết chữ.
Người thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc Bích
Đề tài : Một vài kinh nghiệm dạy Tập viết lớp 1
5. Phấn viết, khăn lau bảng và bút viết : Không cho học sinh dùng phấn cứng quá
hoặc phấn kém phẩm chất. Khăn lau bảng cần sạch sẽ, có độ ẩm, được gấp lại nhiều lần, độ
dày thích hợp. Giai đoạn đầu của lớp Một học sinh dùng bút chì đến tuần 11 mới dùng bút
kim mực.
6. Vở tập viết : Vở tập viết là phương tiện luyện tập thực hành quan trọng của học
sinh. Vở tập viết đã in sẵn chữ mẫu thể hiện nội dung và yêu cầu của bài tập viết. Giáo viên
cần nắm vững yêu cầu và đặc điểm của từng bài để hướng dẫn cách viết thích hợp.
các con chữ … Chưa nắm được quy trinh viết hay viết ngược chữ.
+ Cầm bút chưa đúng cách, ngồi viết chưa đúng tư thế, chưa khoa học.
Người thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc Bích
Đề tài : Một vài kinh nghiệm dạy Tập viết lớp 1
+ Dụng cụ hoc tập còn thiếu ở một số em.
+ Một số học sinh chưa được qua mẫu giáo.
2. Các biện pháp tiến hành
Để thực hiện được mục đích và các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài này, tôi sử dụng các
biện pháp nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến phương pháp dạy học phân
môn tập viết.
- Nghiên cứu thực tiễn qua điều tra , quan sát, phỏng vấn, thông qua chất lượng bài tập
viết mỗi tuần
- Phương pháp phân tích sản phẩm, thống kê.
Người thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc Bích
Đề tài : Một vài kinh nghiệm dạy Tập viết lớp 1
B. NỘI DUNG
I. MỤC TIÊU :
-Chữ viết là công cụ dùng để giao tiếp và trao đổi thông tin, là phương tiện để ghi
chép và tiếp nhận những tri thức văn hoá, khoa học và đời sống… Do vậy ở trường tiểu học,
việc dạy HS biết chữ và từng bước làm chủ được công cụ chữ viết để phục vụ cho học tập và
giao tiếplà yêu cầu quan trọng của môn Tiếng việt.
-Căn cứ vào mục tiêu dạy học môn tiếng việt trong chương trình Tiểu học theo
QĐ43/2001/BGD ĐT ngày9/11/2001,có thể xác định mục đích, nhiệm vụ chủ yếu của phân
môn tập viết ở lớp 1:
- Rèn kỹ năng viết chữ đúng mẫu cho HS theo đúng mẫu quy định (QĐ31).
+ Viết các chữ cái (viết thường, viết hoa) và chữ số theo đúng quy định về hình
dạng, kích cỡ, thao tác.
+ Viết các chữ (ghi vần – tiếng – từ ngữ và câu – bài ứng dụng) liền mạch (biết nối
nét), đúng khoảng cách, thẳng hàng, đặt dấu thanh đúng vị trí, trình bày hợp lý.
BGD&ĐT ngày 14/6/2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định. Mẫu chữ cái
viết thường : Các con chữ : h, b, g, y, l được viết với chiều cao 2,5 đơn vị (tức 5 ô li).
+ Chữ cái t được viết với chiều cao 1,5 đơn vị (3 ô li vở)
+ Chữ cái r, s được viết với chiều cao 1,25 đơn vị
+ Chữ cái d, đ, p, q được viết với chiều cao 2 đơn vị
+ Các chữ cái còn lại : o, ô, ơ, a, ă, â, e, ê, i, u, ư, c, n, m, v, x được viết với chiều cao
1 đơn vị.
+ Các dấu thanh được viết trong phạm vi 1 ô vuông có cạnh là 0,5 đơn vị
+ Chiều cao của các chữ số là 2 đơn vị
+ Chiều cao của các chữ cái viết hoa là 2,5 đơn vị. Riêng chữ cái viết hoa y, g được
viết với chiều cao 4 đơn vị.
5. Xác định khoảng cách âm với âm, vần với vần, tiếng với tiếng, từ với từ là một
thân con chữ o.
6. Học sinh nắm kỹ cách đưa bút, lia bút, cách viết liền mạch.
7. Xác định được điểm đặt bút, dừng bút của con chữ, …
8. Ở trường cần cho học sinh rèn viết ở bảng con nhiều lần nhằm giúp các em viết vào
vở nhanh và đúng để luyện viết trên giấy ô li theo 5 dòng kẻ.
9. Học sinh viết sai giáo viên sửa ngay tại lớp.
10. Về nhà giáo viên cần định hướng rõ phần bài viết ở nhà để các em tự rèn ở nhà dễ
dàng hơn.
11. Mặt khác cho học sinh thi đua viết giữa bạn này với bạn kia hoặc tổ này với tổ kia
để tạo sự thích thú học tập cho học sinh.
12. Giáo viên thường xuyên uốn nắn, nhắc nhở, cầm tay học sinh viết yếu, viết chưa
được nhằm giúp các em cố gắng rèn chữ viết.
13. Giáo viên thường xuyên kiểm tra bài viết ở nhà của học sinh để xem học sinh tự
học đến mức độ nào để cho giáo viên giúp đỡ và rèn luyện thêm.
14. Kết hợp với gia đình, phụ huynh học sinh, giúp phụ huynh học sinh hiểu được
tầm quan trọng của chữ viết. Mặt khác, giáo viên phải tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của từng
em. Thường xuyên đến thăm gia đình để kịp thời nắm bắt tình hình học tập ở nhà của học
sinh. Từ đó, giáo viên kịp thời phối hợp giữa nhà trường và gia đình để có biện pháp rèn
2. Khả năng áp dụng.
Với đề tài này tôi áp dụng cho đối tượng học sinh lớp 1C trường Tiểu học Nhơn Hải
năm học 2012- 2013.
Qua quá trình nghiên cứu, vận dụng thử nghiệm các biện pháp trên, bước đầu đã đạt
được kết quả xếp loại vở sạch chữ đẹp của học sinh như sau :
- Số lượng học sinh của lớp 38 em
Thời gian Loại A Loại B Loại C
Giữa kì I 18 47,4 % 11 28,9 % 9 23,7%
Cuối học kì I 21 55,3% 14 36,8 % 3 7,9 %
So sánh kết quả xếp loại vở sạch chữ đẹp của học sinh qua các năm từng bước được
nâng cao : loại A tăng dần, loại C giảm dần. Có 1 học sinh tham gia dự thi viết chữ đẹp cấp
trường đạt giải nhất (năm học 2011 – 2012) và năm học 2012 - 2013 có 1 em đạt giải nhất và
1 em đạt giải nhì trong cuộc thi “ Vở sạch chữ đẹp” cấp trường, được nhà trường chọn đi thi
vở sạch chữ đẹp cấp Thành phố .Sở dĩ có được kết quả này là nhờ vào sự vất vả của bản thân
tôi đã đầu tư, chuẩn bị khá chu đáo về nội dung bài dạy cũng như hình thức tổ chức học tập
cho học sinh trên lớp và việc tự rèn, tự học khi ở nhà. Sử dụng tốt đồ dùng dạy học nhất là
Người thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc Bích
Đề tài : Một vài kinh nghiệm dạy Tập viết lớp 1
bộ chữ mẫu kết hợp chữ viết đúng mẫu rõ ràng và đẹp của giáo viên. Từng bước cải tiến
được phương pháp giảng dạy, mạnh dạn sử dụng linh hoạt các phương pháp áp dụng ngay
vào tình hình thực tế học sinh của lớp mình đang phụ trách.
3. Lợi ích kinh tế - xã hội:
Viết chữ đẹp giúp học sinh tiết kiệm được thời gian tập viết, tiết kiệm công sức, tiết
kiệm giấy , vở , tạo cho học sinh thói quen giữ gìn vở sạch , chữ đẹp.
Việc viết chữ đẹp thể hiện được tính cách của mỗi học sinh, góp phần hình thành
nhân cách , đạo đức , rèn luyện tính kiên trì , óc thẫm mỹ, kĩ năng sống. Nó còn giúp học
sinh học tốt các môn học khác. Đồng thời chữ viết đẹp còn tạo ra những tình cảm tích cực
của người đọc đối với người viết.
Người thực hiện : Nguyễn Thị Ngọc Bích
Đề tài : Một vài kinh nghiệm dạy Tập viết lớp 1
CỦA HỘI ĐỒNG CHUYÊN MÔN NHÀ TRƯỜNG