Sáng kiến kinh nghiệm Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 - Pdf 26

A. MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Tập đọc là một phân môn rất quan trọng góp phần trong việc hình thành và phát triển
kĩ năng đọc cho HS. Với HS lớp 2 các em bước đầu biết đọc, cho nên GV cần phải hướng
dẫn kĩ năng đọc cho HS ngay từ đầu năm học. Để từ đó các em có thể bộc lộ tình cảm của
mình qua mỗi bài đọc một cách khác nhau. Vậy muốn đọc tốt ,phần quan trọng không thể
thiếu được là phải rèn cho HS đọc thông qua các giờ tập đọc, học thuộc lòng. Chính vì vậy
mà tôi chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm “ Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2”
1. Thực trạng của vấn đề
Theo thực trạng những năm gần đây, chất lượng về môn đọc của HS trường tôi chưa
cao lắm. Một số em đầu năm còn ê , a đánh vần từng chữ . Cho nên, việc rèn đọc cho các em
còn hạn chế. GV hầu hết luôn lo đảm bảo đủ thời gian cho một tiết dạy, đảm bảo đủ các
bước trong tiến trình bài dạy, nên chưa có nhiều thời gian chú ý rèn luyện kỹ năng đọc cho
HS.
Ở bậc Tiểu học , môn Toán và môn Tiếng Việt cùng với các môn học khác đóng vai trò quan
trọng trong việc hình thành nhân cách và khả năng học tập của HS . Đặt biệt, Tập đọc là một
phân môn có ý nghĩa quan trọng trong chương trình giảng dạy môn Tiếng Việt. Tuy nhiên
trong thực tế vẫn còn tồn tại hiện tượng “bệnh thành tích” mà một số giáo viên vẫn cho điểm
đọc của HS khá cao, nhưng thực tế HS lại chưa đạt được mức độ đánh giá đó. Chính lẽ đó
mà một số giáo viên chỉ chú trọng dạy các phân môn : Chính tả, Tập làm văn, Luyện từ và
câu, ít chú trọng đến phân môn Tập đọc. Trong giờ học, giáo viên ít quan tâm đến việc
chỉnh sửa cho HS các lỗi sai về âm, vần, ngắt nghỉ sai.
Chẳng hạn : đọc bài “ Gọi bạn” nhiều em đọc chưa đúng cách ngắt nghỉ ở khổ thơ :
Tự xa xưa thưở nào /
Trong rừng/ xanh sâu thẳm//
Theo tôi thì cách đọc là :
Tự xa xưa thưở nào /
Trong rừng xanh / sâu thẳm//
Bên cạnh đó ở quê tôi , hầu hết HS nói quá nặng về phương ngữ, dẫn đến đọc nhiều
từ sai lệch.
Ví dụ : Bãi các – bãi cát , biểng cả – biển cả , tường lớp – trường lớp.

môn học ở Tiểu học có mối quan hệ chặt chẽ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau. Đặc biệt
môn Tiếng Việt có vị trí quan trọng vào bậc nhất trong tất cả các môn học ở Tiểu học.
Phân môn Tập đọc cung cấp cho HS những kiến thức cơ bản ban đầu về hệ thống
tiếng nói và chữ viết tiếng Việt. Học tốt phân môn Tập đọc sẽ giúp HS rèn luyện kỹ năng
đọc – nghe – nói – viết và còn tạo điều kiện cho HS học tốt các môn học khác. Từ đó, các
em có vốn sống , vốn tri thức vững chắc để tiếp tục học lên bậc học cao hơn.
Bước đầu hình thành phương pháp học của phân môn Tập đọc, tìm hiểu nội dung
,nghệ thuật, cảm thụ văn học, luyện đọc. Từ việc cảm thụ nhận được vẻ đẹp của đất nước ,
của còn người qua các bài tập đọc, khơi dậy trong các em lòng ham hiểu biết, ham học hỏi
tiếng mẹ đẻ, biết vận dụng ứng xử trong cuộc sống, làm cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp
hơn.
Phân môn Tập đọc còn giáo dục HS lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước,
yêu truyền thống dân tộc , yêu tiếng mẹ đẻ. Từ đó có ý thức bảo vệ, giữ gìn, sự trong sáng
của tiếng Việt ,làm cho ngôn ngữ tiếng Việt ngày càng phong phú, đa dạng, mang đậm đà
bản sắc dân tộc.
b/ Cơ sở thực tiễn :
2
Trong chương trình thay sách giáo khoa mới ở Tiểu học thì việc đổi mới phương
pháp dạy học , đánh dấu một bước nhảy vọt đáng kể trong việc dạy và học ở tất cả các môn
học , trong đó có phân môn Tập đọc. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện bản thân tôi cũng
như những giáo viên khác có rất nhiều những ý kiến tranh luận , trao đổi, bàn bạc. Trước
thực tế đó có nhiều chuyên đề về Tập đọc được mở ra. Điều đó đã giúp chúng tôi hiểu được
phần nào những điều còn để ngỏ. Song ở mỗi vùng, mỗi trường, mỗi đối tượng HS khác
nhau, lại có một khả năng khác nhau.
2. Các biện pháp tiến hành
- Phối hợp với cha mẹ học sinh để chăm lo chất lượng học tập cho các em.
- Đổi mới phương pháp dạy học môn Tập đọc theo định hướng giao tiếp
- Tổ chức thi đọc , học thuộc lòng
Quét rác.
Tuy nhiên , giáo viên phải luôn luôn thay đổi cách tổ chức luyện đọc . Ví dụ : Hôm
nay đọc nối tiếp theo hàng ngang, ngày mai đọc nối tiếp theo hàng dọc. Như vậy HS sẽ
không thể ỷ lại, không thể coi thời gian đọc của bạn là thời gian nghỉ ngơi của mình, bởi vì
HS phải theo dõi bạn đọc, nếu đến lựơt mình sẽ đứng dậy đọc. Giáo viên yêu cầu HS vừa
đọc sai dừng lại , đọc lại từ sai và đọc lại cả câu đó.
b/ Tổ chức cho HS luyện đọc đoạn kết hợp với từ chú giải, rèn đọc câu dài:
4
Để cách luyện đọc này đạt hiệu quả cao, thì GV phải hướng dẫn cho HS xác định bài
này có mấy đoạn, mỗi đoạn từ đâu đến đâu. Đối với những bài tập đọc chưa ghi rõ đoạn
hoặc những bài thơ không viết theo khổ thơ thì việc xác định đoạn với HS lớp 2 là khó. Do
vậy, GV có thể nêu ngay cách chia đoạn : Ví dụ : Bài “ Mùa xuân đến” (Sách giáo khoa
Tiếng Việt 2 – Tập 2 trang 17) giáo viên phải giới thiệu bài được chia ra làm 3 đoạn. Đoạn 1
gồm 8 câu đầu, đoạn 2 gồm 5 câu tiếp theo. Đoạn 3 phần còn lại.
Trong quá trình đọc HS lúng túng khi ngắt nghỉ hơi hoặc ngắt nhịp ở câu văn , dòng
thơ nào thì GV cũng cho HS dừng lại để chỉnh sửa ngay ở đó. Khi chỉnh sửa cũng có nhiều
hình thức như : HS tự nêu cách ngắt nghỉ và GV kết luận đúng hay sai, hoặc GV hay HS khá
đọc, HS phát hiện chỗ ngắt nghỉ hơi.
Khi dạy ngắt nhịp trong thơ học sinh có thói quen láu cá, đọc nhanh vắt từ dòng nọ
sang dòng thơ kia ( Với thơ 4 -5 chữ ) và nhiều khi để dễ đọc với thể thơ lục bát thì các em
ngắt nhịp 2/2 hết các dòng thơ. Nếu cứ để như vậy thì sẽ khiến cho các em dần dàn mất đi
khả năng cảm nhận cái đẹp được biểu cảm trong bài thơ, trong từng dòng thơ cụ thể để khi
hướng dẫn HS không mắc phải tình trạng cách ngắt nhịp đó, sẽ làm mất đi cái hay của nhịp
điệu và nội dung bài.
Như vậy , ta thấy từ ngữ được chú giải trong các bài tập đọc là một phần từ vựng
cung cấp cho HS lớp 2 theo yêu cầu của chương trình Tiếng Việt. Nếu khi dạy học tập đọc ,
ta không lưu ý cho HS đọc, hiểu ,vốn từ của HS sẽ giảm thiểu đáng tiếc.
c/ Phần luyện đọc - hiểu
Đọc hiểu phải gắn liền việc đọc với việc tìm hiểu nghiã của từ ngữ trong bài, gắn việc
đọc với việc tìm hiểu bài. Để nâng cao hiệu quả hiệu quả phần này, GV nên sử dụng nhiều

từng tiếng .
+ Đến giữa học kì II thì số lượng học sinh đọc yếu đã giảm cụ thể : 1 em biết đánh
vần và 2 em đọc còn chậm
- Chính vì vậy mà tôi thấy đề tài này có thể áp dụng cho việc rèn đọc cho học sinh lớp
2 trong phạm vi cả khối 2 của trường Tiểu học Nhơn Hải.
3. Lợi ích kinh tế - xã hội
- Thông qua việc đọc đúng học sinh có thế học tốt các phân môn khác như : Tập làm văn,
luyện từ và câu, chính tả, kể chuyện, giúp học sinh rèn luyện kĩ năng giao tiếp, kĩ năng nói
thông , viết thạo. Học sinh đọc được bài sẽ mau hiểu bài , trả lời được các câu hỏi trong nội
dung bài , có ý sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ ở tiết kể chuyện và viết đủ câu , đủ ý
trong tiết Tập làm văn, Luyện từ và câu.

6
C. KẾT LUẬN
Trên đây là những kinh nghiệm mà tôi có được thông qua việc chỉ đạo chuyên môn
và giảng dạy. Đồng thời , tôi còn thường xuyên trao đổi phương pháp giảng dạy, học hỏi
kinh nghiệm của các đồng nghiệp ở các tiết dự giờ. Hơn nữa việc học hỏi kinh nghiệm trong
sách báo ,trong tài liệu đã giúp tôi có điều kiện nâng cao chuyên môn của mình. Qua thực tế
giảng dạy, tôi đã áp dụng những kinh nghiệm trên và đã đạt được kết quả trong năm học vừa
qua như sau :
Đạt được kết quả trên, tôi phải cố gắng rất nhiều. Song thực tế cũng chưa có hiệu
quả cao lắm so với mặt bằng các trường bạn .
* Bài học kinh nghiệm :
HS tiểu học nói chung và HS lớp 2 nói riêng rất hiếu động và có tâm lý thích bắt
chước. Chính vì vậy những lời nói cử chỉ của GV được coi là mẫu cần phải hết sức chuẩn
mực . Trong tiết dạy tập đọc, việc đọc mẫu của GV là quan trọng nhất. Do đó giọng đọc của
GV cần phải chuẩn, chính xác , rõ ràng, dễ nghe và thể hiện được ý nghĩa biểu cảm của văn
bản.
Luôn tạo cho HS hứng thú học tập, khích lệ HS đúng lúc, kịp thời, thường xuyên
khen các em trong giờ học. 8
Cần tuyên dương và khuyến khích những HS học tốt trong giờ học để tạo
hứng thú cho các em.
Sau đó dặn dò HS về đọc và chép bài học của hôm sau. Có như vậy việc đọc lại bài
và chuẩn bị bài sau sẽ có tác dụng hơn .
PHẦN IV : KẾT QUẢ
Trên đây là những kinh nghiệm mà tôi có được thông qua việc chỉ đạo chuyên môn
và giảng dạy. Đồng thời , tôi còn thường xuyên trao đổi phương pháp giảng dạy, học hỏi
kinh nghiệm của các đồng nghiệp ở các tiết dự giờ. Hơn nữa việc học hỏi kinh nghiệm trong
sách báo ,trong tài liệu đã giúp tôi có điều kiện nâng cao chuyên môn của mình. Qua thực tế
giảng dạy, tôi đã áp dụng những kinh nghiệm trên và đã đạt được kết quả trong năm học vừa
qua như sau :
Đầu năm học
Tổng số
HS
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
SL % SL % SL % SL %
34 12 35,3 10 29,4 9 26,5 3 8,8
Cuối kỳ I
9
Tổng số
HS
Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm yếu
SL % SL % SL % SL %
34 15 36,9 11 32,4 7 20,6 1 2,9
Cuối năm học

Với HS vùng đảo như ở trường tôi, việc nghỉ hè đồng nghĩa với việc nghỉ chơi thoả
thích, các em không hề quan tâm đến sách vở và việc ôn luyện trong hè. Chính vì lẽ đó mà
việc tái mù một số chữ sau khi học hết lớp 1 vẫn hiển nhiên tồn tại và diễn ra liên tục. Điều
này gây rất nhiều khó khăn cho lớp 2 trong thời gian đầu của năm học.
10
Lượng thông tin , phim ảnh trên truyền hình tràn lan trên các kênh của chương trình
đã cuốn hút các em. Vì thế mà HS ít chuẩn bị bài, ít chịu khó đọc bài ở nhà.
Ngoài đọc các nội dung có trong chương trình học thì hầu như các em ít tiếp xúc với
các văn bản lạ như : truyện , sách báo dành cho thiếu nhi .
Trong giờ học , một số HS còn chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, tự giác
trong học lập. Quá trình bạn đọc bài là thời gian nghỉ ngơi của những HS đó.
* Đối với giáo viên :
- Một số giáo viên khi dạy còn phụ thuộc hoàn toàn vào thiết kế bài giảng. Thực tế có
những bài dạy ta có thể áp dụng theo thiết kế ,nhưng có những bài phải dạy đổi cách tổ chức
hoạt động. Chính vì vậy , mà sẽ có nhiều bài dạy mang tính áp đặt đơn điệu chưa phù hợp
với đối tượng HS, làm giảm đáng kể hiệu quả tiết học.
- Do hiện tượng “bệnh thành tích” vẫn còn ngấm sâu vào nếp nghĩ của chúng ta, nên
việc kiểm tra đánh giá chất lượng đọc của HS còn mang tính định tính theo hướng chủ quan.
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status