Cơ hội phát triển của làng mộc Chàng Sơn
(huyện Thạch Thất – Hà Nội) trong bối cảnh
kinh tế - văn hóa – xã hội hiện nay
Phí Thị Bình
Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển
Luận văn ThS Chuyên ngành: Việt Nam học; Mã số 60 31 60
Người hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Hồng Tung
Năm bảo vệ: 2011 Keywords. Xã hội học kinh tế; Văn hóa làng; Kinh tế xã hội; Việt Nam học; Nghiên
cứu văn hóa.
Content
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, việc định hướng phát
triển nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã thực sự có được những kết quả
khả quan, dần làm thay đổi bộ mặt nông thôn Việt Nam. Cùng với việc ban hành và thực hiện
các chính sách nhằm xây dựng nông thôn mới đối với từng vùng, từng địa phương thì phải kể
đến các chính sách khuyến khích phát triển làng nghề, làng nghề truyền thống. LNTT phát
triển và gắn liền cùng với lịch sử phát triển của làng xã Việt Nam, qua thời gian, đến nay,
LNTT đã thực sự trở thành một trong những yếu tố cấu thành của nền kinh tế và của bản sắc
văn hóa Việt Nam. Nó có đóng góp không nhỏ trong việc tạo ra của cải vật chất và giải quyết
vấn đề lao động dư thừa ở nông thôn.
Năm 2007, sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO là
một lợi thế lớn giúp Việt Nam có chỗ đứng và từng bước hòa nhập với quốc tế trên nhiều lĩnh
vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, thương mại. Quan trọng hơn cả, đó là việc đưa nông thôn
Việt Nam học của mình.
2. Mục đích, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài
1
Chàng Sơn trong nghiên cứu của chúng tôi là một đơn vị hành chính nhất xã, nhất thôn trong suốt
chiều dài lịch sử, vì vậy trong luận văn, có lúc chúng tôi gọi là xã, nhưng cũng có lúc chúng tôi viết là
làng, cả hai cách gọi trên đều có chung một ý nghĩa.
2
Thạch Thất là một huyện của tỉnh Hà Tây cũ, đến ngày 01/8/2008, huyện Thạch Thất sáp nhập về
Hà Nội theo Nghị quyết số 15/2008/QH12 ngày 29 tháng 5 năm 2008 của Quốc hội khóa XII.
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá đúng thực trạng phát triển của làng mộc Chàng Sơn,
luận văn sẽ góp phần tìm hiểu sâu sắc hơn về đời sống sản xuất và đời sống văn hóa cộng
đồng của LNTT; chỉ ra những cơ hội phát triển và những thách thức gặp phải trong quá trình
biến đổi của nền kinh tế - xã hội. Từ đó, luận văn đã cố gắng đề ra các giải pháp nhằm phát
triển để nghề mộc làng Chàng theo kịp với nền kinh tế thị trường nhưng vẫn giữ được nghề
truyền thống đã tồn tại hàng nghìn năm, qua đó, giữ gìn và nâng cao giá trị văn hóa làng nghề
trước những tác động mang tính đa chiều của quá trình hiện đại hóa tăng tốc hiện nay.
2.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Nghiên cứu về LNTT trong giai đoạn hiện nay là vấn đề đang được giới nghiên cứu
quan tâm mạnh mẽ, bởi những lợi ích và hiệu quả đa dạng mà LNTT mang lại trong sự phát
triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đối với công cuộc xây dựng nông thôn mới.
Nghiên cứu về làng nghề mộc Chàng Sơn như một nghiên cứu mẫu
3
hay nghiên cứu
trường hợp, điều này có ý nghĩa thiết thực trong việc xác định, đánh giá đúng thực trạng phát
triển của làng trên các bình diện kinh tế, văn hóa, văn hóa làng nghề, qua đó thấy được mối
liên kết chặt chẽ giữa đời sống văn hóa vật chất và đời sống văn hóa xóm làng của một làng
nghề truyền thống. Đây sẽ là cơ sở để phân tích, đánh giá và chỉ ra cơ hội phát triển của làng
thấy được lịch sử nghiên cứu của làng nghề truyền thống, qua đó giúp những người quan tâm
đến vấn đề này có cái nhìn sơ lược và tổng quát về ý nghĩa cũng như tầm quan trọng của việc
nghiên cứu LNTT ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là làng nghề mộc truyền thống Chàng Sơn. Đây là
một trong những xã nghề
4
điển hình của huyện Thạch Thất nói riêng và của cả nước nói
chung, với nhiều nghề tồn tại song song cùng với nhau, trong đó nghề sản xuất đồ mộc là
nghề có số lượng người tham gia làm nghề đông đảo nhất, chiếm trên 80% dân số và có đóng
góp chủ yếu trong tổng thu nhập của toàn xã.
Về giới hạn nghiên cứu, luận văn tập trung vào đánh giá thực trạng tình hình sản xuất
nghề mộc của làng Chàng từ năm 2001 cho đến nay, đồng thời chỉ ra sự tác động mang tính
tương hỗ của nó đến đời sống kinh tế - văn hóa – xã hội của người dân trong xã và đưa ra các
giải pháp nhằm phát triển nghề, phát triển làng nghề trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu như
hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
4
Thuật ngữ “xã nghề” trong trường hợp này tương ứng với “làng nghề”, vì Chàng Sơn là nơi mang
đặc tính “nhất xã, nhất làng”. Do đó, trong luận văn có chỗ gọi là xã, có chỗ gọi là làng.
Luận văn sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu khu vực và nghiên cứu phát triển
làm cơ sở để đánh giá một cách tổng quát xu hướng vận động và phát triển của làng nghề mộc
Chàng Sơn trên nhiều bình diện khác nhau.
Phương pháp phân tích SWOT theo 4 chiều cạnh (demension): Điểm mạnh (Strengths),
điểm yếu (Weakness), cơ hội (Opportunities) và thách thức (Threats) cũng được sử dụng
xuyên suốt trong nghiên cứu như phương pháp căn bản để đánh giá tình hình sản xuất thực tế
của làng Chàng, tiềm năng phát triển cũng như những nhân tố tác động đến sự phát triển nghề
Ngoài phần mở đầu và kết luận, mục lục, danh mục bảng, biểu, bản đồ, ảnh minh họa,
luận văn gồm ba phần, được kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về làng nghề
Ở chương này, tác giả khảo cứu và đề xuất những khái niệm và các tiêu chí phân loại
làng nghề bằng việc đưa ra quan điểm của nhiều học giả, nhiều nhà nghiên cứu, trên cơ sở đó
đúc rút khái niệm chung nhất, tổng quát nhất về làng nghề, LNTT. Đồng thời, trong chương
này, tác giả cũng phân tích về đặc điểm, điều kiện hình thành LNTT; vai trò của LNTT đối với
phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội. Chương 2: Thực trạng phát triển của làng nghề mộc
Chàng Sơn trong bối cảnh kinh tế - văn hóa – xã hội hiện nay.
Chàng Sơn là một làng nhiều nghề, trong đó nổi trội là nghề mộc với những nghệ nhân
tài hoa. Tác giả đã chỉ ra thực trạng phát triển nghề mộc hiện nay, những ảnh hưởng của nghề
mộc làng Chàng đến đời sống văn hóa sản xuất, đời sống văn hóa cộng đồng, trong đó chú
trọng đến thực trạng phát triển cũng như tổ chức quản lý của địa phương; chỉ ra mối quan hệ
tương tác giữa nghề mộc với các nghề khác và mối liên hệ giữa nghề mộc với văn hóa, tín
ngưỡng của làng. Đặc biệt, trong chương này, tác giả đã áp dụng có hệ thống phương pháp phân
tích SWOT để đánh giá những thuận lợi, khó khăn và chỉ ra cơ hội phát triển của làng nghề
Chàng Sơn.
Chương 3: Giải pháp phát triển nghề và nâng cao giá trị văn hóa làng nghề tại làng mộc
Chàng Sơn
Trong phần này, tác giả đưa ra những đề xuất, kiến nghị và các giải pháp cơ bản để phát
triển nghề truyền thống của làng, đưa nghề mộc truyền thống hồi sinh, phát triển trong cơ chế thị
trường hiện nay theo hướng bền vững, gắn với việc giữ gìn và phát triển các giá trị văn hóa làng
nghề trong giai đoạn phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội hiện nay.
ngày 07/7/2006 của Chính Phủ về phát triển ngành nghề nông thôn
11. Thủ tướng Chính phủ (2000), Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày
24/11/2000 của Thủ tướng chính phủ về một số chính sách khuyến khích
phát triển ngành nghề nông thôn
128
12. Thủy Công (2006), Để các làng nghề truyền thống phát triển đúng
hướng, Tạp chí xây dựng Đảng, http://www.xaydungdang.org.vn , cập
nhật ngày 10/7/2006.
13. Nguyễn Sinh Cúc, Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 02 năm vào
WTO (2007 - 2008), Kỷ yếu hội thảo VNH3, ký hiệu VNH3.TB9.733
14. Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
15. Đoàn Văn Chúc (1997), Văn hóa học, Nxb Văn hóa thông tin, HN
(TR.133)
16. Các báo cáo về tình hình, phương hướng phát triển của tiểu thủ công
nghiệp – làng nghề của các Sở Công nghiệp, sở NN&PTNT, sở Khoa học
công nghệ - môi trường, Hội Liên minh HTX tỉnh Ninh Bình, Bắc Giang,
Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hà Nội….
17. Chính Phủ (2006), Nghị định Về phát triển ngành nghề nông thôn
18. Hải Dương, Phát triển làng nghề không thể theo tư duy dự án, Báo An
ninh thủ đô, http://anninhthudo.vn, cập nhật ngày 20/10/2009.
19. Diễn đàn các nhà báo Môi trường Việt Nam (2007), Ô nhiễm môi trường
từ các làng nghề: ai thấy, ai lo?, Diễn đàn các nhà báo Môi trường Việt
Nam, http://vfej.org, cập nhật ngày 15/01/2007
20. Phạm Xuân Đô (1941), Sơn Tây tỉnh địa chí, Nhà in Du Nord, Hà Nội
21. Phương Đình, Nguyễn Văn Siêu (1997), Đại Việt địa dư toàn biên, Viện
Sử học & Nxb Văn hóa, Hà Nội
22. Đồng Khánh địa dư chí (2003), Nxb Thế giới, HN
23. Đảng bộ xã Chàng Sơn (2010), Lịch sử cách mạng xã Chàng Sơn, phần I
(Bản sơ thảo)
và nhỏ APEC phát triển nghề thủ công địa phương, tr.46 – 57
37. Đinh Gia Khánh, Địa chí Văn hóa dân gian Thăng Long – Hà Nội, Nxb
Hà Nội, tr. 152
38. Lại Hồng Khánh (2005), Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch làng
nghề truyền thống Hà Tây, Sở Văn hóa thông tin Hà Tây
39. Phạm Khang (2010), Các vị tổ nghề, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội
130
40. Vũ Văn Kính (2002), Đại tự điển chữ Nôm, Nxb Văn nghệ– Trung tâm
nghiên cứu Quốc học tp. Hồ Chí Minh
41. Nguyễn Kiến chủ biên (2006), Làng Chàng xưa và nay, Câu lạc bộ Quê
hương Chàng Sơn
42. Vũ Tự Lập chủ biên (1991), Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Hồng,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
43. Chu Lượng (2009), Mặt nước hồn người, Nxb Mỹ thuật, Hà Nội
44. Phạm Trung Lương (2006), Du lịch làng nghề: Thực trạng và định
hướng phát triển ở Việt Nam, Tài liệu hội thảo Hỗ trợ các doanh nghiệp
vừa và nhỏ APEC phát triển nghề thủ công địa phương
45. Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam, Lại nói về môi trường nông thôn
tại các làng nghề truyền thống, Liên hiệp các hội khoa học Việt Nam,
http://vusta.vn, cập nhật ngày 08/12/2009
46. Làng nghề Việt Nam, Làng nghề đồng hành với du lịch, Làng nghề Việt
Nam, http://langnghevietnam.com.vn , cập nhật ngày 26/11/2010
47. Nguyễn Hữu Mão (1994), Hoa tay làng Chàng, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội
48. Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu (2004), Khí hậu và tài nguyên
khí hậu Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
49. Nguyễn Tá Nhí (1999), Mấy suy nghĩ về tên gọi làng xã của người Việt,
Tạp chí Hán Nôm, số 03
50. Dương Bá Phượng (2001), Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong
quá trình CNH – HĐH, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Thủy Hoa, Việt Thị Hoa dịch), Viện nghiên cứu IRD xuất bản
65. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự (1998), Đình Việt Nam, Nxb Hồ Chí Minh
66. Nguyễn Trãi (1960), Ức trai di tập Dư địa chí (Phan Huy Tiếp dịch, Hà
Văn Tấn hiệu đính và chú thích), Nxb Văn sử học, Hà Nội
67. Trần Từ chủ biên (1983), Tìm hiểu cảnh quan đồng bằng, Viện Đông
Nam Á xuất bản, Hà Nội
68. Ngô Đức Thịnh (2001) chủ biên, Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng Việt
Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
132
69. Ngô Đức Thịnh (2004), Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt
Nam, Nxb Tuổi trẻ
70. Vũ Trung, Văn hóa làng nghề truyền thống (qua dẫn liệu làng nghề gỗ
Sơn Đồng – Hà Tây, làng nghề chạm bạc Đồng Sâm – Thái Bình và làng
gốm Bát Tràng – Hà Nội), Kỷ yếu hội thảo Việt Nam học lần 3, ký hiệu
VNH3.TB80.70
71. Vũ Quốc Tuấn chủ biên (2010), Làng nghề, phố nghề Thăng Long – Hà
Nội trên đường phát triển, Nxb Hà Nội
72. Nguyễn Quốc Thanh, Thách thức lao động nông thôn thời hội nhập, Báo
Quảng trị, http://www.baoquangtri.vn, cập nhật ngày 27/11/2010
73. Nguyễn Duy Tỳ (1970), Những nền văn hóa khảo cổ thuộc thời đại
Hùng Vương, trong Hùng Vương dựng nước, tập I, Nxb Khoa học xã hội,
Hà Nội
74. Nguyễn Duy Tỳ (1970), Những nền văn hóa khảo cổ thuộc thời đại Hùng
Vương, trong Hùng Vương dựng nước, tập II, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
75. Chu Quang Tiến chủ biên (2001), Việc làm ở nông thôn – thực trạng và
giải pháp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội
76. Nguyễn Kiên Trường (1996), Mô hình Kẻ + X trong tên làng xã cổ
truyền, tạp chí Văn hóa dân gian, số 02
77. Nguyễn Kiên Trường (2004), Thử tìm hiểu sự bảo lưu tên nôm làng xã
sĩ kinh tế, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Số ĐKCB: LA03.0231