CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỔI MỚI CÁCH KIỂM TRA MIỆNG TRONG MÔN TIẾNG ANH LỚP 7 TẠI TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ DON - Pdf 26

1
1. Tên đề tài:
CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỔI MỚI CÁCH KIỂM TRA MIỆNG TRONG
MÔN TIẾNG ANH LỚP 7 TẠI TRƯỜNG PTDTBT THCS TRÀ DON
2. Đặt vấn đề:
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội
nhập với cộng đồng quốc tế, đặc biệt hơn đất nước ta đã chính thức là thành viên
của WTO. Nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại
hoá là nguồn lực người Việt Nam được phát triển về số lượng và chất lượng trên
cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao. Vì vậy nền giáo dục và đào tạo của nước
ta cũng đã tiến hành thay đổi từ mục tiêu giáo dục và đào tạo đến phương pháp
dạy và học nhằm đóng góp có hiệu quả vào quá trình chuẩn bị nguồn nhân lực
của đất nước trong những thập kỷ đầu của thế kỷ 21. Để đáp ứng mục tiêu giáo
dục mới, chương trình thay sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã có sự thay đổi
tích cực: tập trung đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạy và học dựa vào
hoạt động tích cực của học sinh dưới sự tổ chức và hướng dẫn đúng mực, linh
họat của giáo viên nhằm phát triển tư duy độc lập sáng tạo góp phần hình thành
phương pháp và nhu cầu tự học, bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin, niềm
vui trong học tập.
Cùng với việc đổi mới chương trình SGK, đổi mới phương pháp giảng dạy
thì vấn đề đổi mới kiểm tra đánh giá là khâu hết sức quan trọng trong quá trình
giảng dạy và học tập. Đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm tra đánh
giá là hai hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau. Đổi mới kiểm tra đánh giá là
động lực đổi mới phương pháp dạy học, góp phần thực hiện mục tiêu như Phó
Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đề nghị các địa phương cần chú trọng việc tuyên
truyền thay đổi nhận thức từ phía giáo viên và HS để đạt mục tiêu chính của Đề
án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống Giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-
1
2020”) là “Ngoại ngữ trở thành phương tiện để làm việc trong môi trường quốc
tế, biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam”. Muốn vậy, cần
phải thay đổi động lực học từ “học để thi” thành “học để sử dụng”. Trước mắt

4. Cơ sở thực tiễn:
Đa số học sinh trường tôi là con em người dân tộc thiểu số, kiến thức về
bộ môn bị hỏng nhiều nên nhiều em chưa thật sự yêu thích bộ môn này. Điều
này dẫn đến ý thức tự giác học tập của nhiều em chưa cao. Để đối phó với giáo
viên các em thường dùng cách học vẹt mà không chịu khó học từ vựng hay thực
hành các kỹ năng.
Việc kiểm tra bài cũ truyền thống thường là gọi 1 hoặc 2 học sinh lên
bảng trả lời câu hỏi. Việc này vừa tốn nhiều thời gian, lại gây tâm lý căng thẳng
cho học sinh hơn nữa lại không thể kiểm tra được nhiều em cùng một lúc. Vì vậy
không thể đánh giá được khả năng của học sinh. Bên cạnh đó, một thực tế là
những em đã có điểm miệng thường lơ là học bài cũ vì nghĩ rằng thầy cô sẽ
không gọi mình nữa, còn những đối tượng yếu kém còn lại thì có gọi lên bảng
bao nhiêu lần cũng không bao giờ học bài.
Tất cả những yếu tố trên làm cho học sinh lười nhác, thụ động trong học
tập, chất lượng dạy và học không cao. Những cơ sở trên đã giúp tôi áp dụng
những phương pháp đổi mới cách kiểm tra miệng trong môn tiếng Anh.
5. Nội dung nghiên cứu:
Như trên đã nói việc kiểm tra để lấy điểm miệng không chỉ thực hiện vào
đầu của mỗi tiết học mà tùy theo từng kỹ năng, kiến thức có thể thực hiện vào
đầu, giữa hay cuối của tiết học. Muốn thực hiện được việc kiểm tra miệng đạt
kết quả thì cần có những nội dung sau:
1
5.1. Việc chuẩn bị cho kiểm tra miệng:
- Công việc chuẩn bị trước hết là phải xác định thật chính xác cần kiểm tra
những gì: Giáo viên cần xác định được mức độ tối thiểu kiến thức và kỹ năng mà
học sinh đã thu nhận được trong quá trình học tập. Câu hỏi đặt ra cho học sinh
phải chính xác, rõ để học sinh không hiểu thành hai nghĩa khác nhau dẫn đến
việc trả lời lạc đề.
- Giáo viên phải thiết kế lại các yêu cầu, bài tập trong sách giáo khoa hay ra các
bài tập tương tự để tránh việc các em sử dụng các keys trong sách “Hướng dẫn

- Trong quá trình học sinh đang trả lời câu hỏi có nhiều thiếu sót hoặc sai, nếu
không có lí do gì cần thiết giáo viên cũng không nên ngắt lời của học sinh. Cùng
là một sai sót nhưng giáo viên phải biết sai sót nào nên phải sửa ngay và sai sót
nào thì nên để học sinh trả lời xong.
- Nên phối hợp các cách kiểm tra và cùng một lúc có thể kiểm tra được nhiều
học sinh trong lúc gọi một số học sinh lên bảng thì giáo viên ra cho các học sinh
ở dưới lớp câu hỏi khác sau đó sẽ thu vở nháp của một số em để chấm.
- Khi tổ chức kiểm tra thì giáo viên phải giải quyết các khó khăn lớn sau đây:
Khi một hay vài học sinh được chỉ định lên bảng thì các học sinh khác trong lớp
cần phải làm gì và làm như thế nào. Giáo viên gọi nhiều em cùng một lúc, đưa ra
yêu cầu khác nhau phù hợp với trình độ của mỗi học sinh, sau đó đặt các câu hỏi
cho cả lớp sau khi các học sinh này hoàn thành xong nhiệm vụ của mình như
sau: “Bạn trả lời như vậy có đúng không?”, “Các em có đồng ý với câu trả lời đó
của bạn không?”, “Có điểm nào sai hoặc thiếu không?”, …Ngoài những câu cơ
bản, giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi phụ trong quá trình kiểm tra miệng.
Nhờ những câu hỏi bổ sung đó mà giáo viên có thể hình dung được chất lượng
kiến thức của học sinh.
5.3. Các cách kiểm tra miệng:
Như ta đã biết, kiểm tra miệng là việc diễn ra thường xuyên, liên tục trong
các tiết dạy. Vì hoạt động này phải đa dạng để tránh sự nhàm chán đơn điệu, tạo
không khí sinh động trong lớp học và giúp học sinh học tập có hiệu quả hơn. Tùy
1
theo mỗi tiết học và tùy theo từng yêu cầu về kiểm tra kiến thức, kỹ năng mà
giáo viên có thể áp dụng các cách kiểm tra miệng như sau:
5.3.1. Đối với việc kiểm tra từ vựng:
Cách 1: Gọi một lượt 3 học sinh lên bảng. Giáo viên đưa ra câu hỏi chung
cho tất cả học sinh, học sinh nào trả lời được trước thì giáo viên cho phép. Các
học sinh còn lại sẽ trả lời các câu hỏi phụ hoặc bổ sung cho bạn trả lời trước.
Ví dụ: Kiểm tra từ vựng của Unit 1 – English 7
Yêu cầu mà giáo viên đưa ra: “Write a word in English that means: khác

5. A. teenager B. together C. guitar D. game
5.3.2. Đối với tiết học Reading:
Ngay trong các hoạt động while – reading, giáo viên cũng có thể kiểm tra
để lấy điểm miệng.
Ví dụ 1: Reading – unit 5 – English 7
Multiple choice: choose the best option:
1. Hoa’s pen pal Tim goes to
A. Hoa’s school.
B. a school in Viet Nam.
C. an American school.
D. a senior high school.
2. “ they never time to play a whole game”. This means recess is
A. short. C. energetic.
B. boring. D. long.
3. Baseball cards are popular with
A. everyone. C. only boys
B. only girls. D. mostly boys
1
4. Eating and talking with friends are popular activities
A. in America. C. in a few countries.
B. in Viet Nam D. worldwide.
Ví dụ 2: Reading unit 4 – English 7: True - False statements
Give some statements (handout) and ask to read these carefully and read the
text to decide if each statement is true or false
1. Students do not usually wear school uniform.
2. There are classes on Saturday morning.
3. Students don’t have a break in the afternoon.
4. The school cafeteria sells food to students.
5. The school cafeteria only opens at lunchtime.
6. Basketball is an unpopular after-school activity.

thông qua kiến thức mà các em học được từ bài cũ. Việc kiểm tra này được thực
hiện vào đầu của tiết học sau.
Cách thực hiện: Gọi học sinh để trả lời một câu hỏi mà các em đã được
học và củng cố rất kỹ trong tiết trước (5 điểm), câu thứ hai em chọn một bạn
(đang ngồi dưới lớp) hỏi em một câu trong bài rồi trả lời (2 điểm), câu thứ ba do
chính em học sinh này hỏi một bạn khác (đang ngồi dưới lớp) (3 điểm). Số điểm
mà em học sinh này đạt được sẽ ghi vào cột M1, số điểm mà hai HS khác do đặt
câu hỏi đúng hoặc trả lời đúng sẽ được ghi vào cột M2. Sau một thời gian quen
dần cần nâng cao yêu cầu câu hỏi của học sinh đặt ra cho bạn mình.
Ví dụ: Kiểm tra miệng sau khi các em học xong phần A4, 5 (P 43 – 44) unit 4-
English 7
1. When does Thu have English classes?
1
2. What time do they start?
3. What other classes does Thu have on Thursday?
4. What’s Thu’s favorite subject? Why?
5. What’s Hoa’s favorite subject? Why?
Rõ ràng cách kiểm tra trên đã theo hướng đổi mới kiểm tra đánh giá: phát
huy tính chủ động sáng tạo của học sinh, tạo điều kiện để kích thích tư duy, tính
năng động về mọi hoạt động trên lớp, giảm “người thầy làm trung tâm” mà tăng
cường “lấy học sinh làm trung tâm”. Tuy nhiên, giáo viên phải linh hoạt gợi ý
cho học sinh đặt câu hỏi cho phù hợp với nội dung cần kiểm tra, để không bị lạc
đề và đỡ tốn thời gian vào bài mới.
5.3.5. Đối với tiết học Writing:
Kỹ năng này ít được áp dụng vào các bài kiểm tra thường xuyên ở lớp vì
chiếm thời gian lớn và không phù hợp với kiểu đề trắc nghiệm. Vì vậy, để giúp
các em tích cực hơn trong việc học kỹ năng Writing, giáo viên có thể thiết kế lại
một số nội dung của bài viết để tránh tình trạng học sinh sử dụng sách tham khảo
để đối phó hoặc đưa ra các dạng bài tập phù hợp hơn như sentence building,
sentence transformation … để các em làm rồi sau đó giáo viên sửa và cho điểm

Như vậy đây là hình thức kiểm tra phát huy được tính chủ động, tích cực
của học sinh, giảm bớt áp lực căng thẳng trong kiểm tra miệng vừa phát huy
được việc đổi mới kiểm tra đánh giá cả 2 hình thức tự luận và trắc nghiệm, vừa
kiểm tra miệng, vừa ôn tập.
6. Kết quả nghiên cứu:
1
Để đánh giá hiệu quả của việc áp dụng đề tài này, tôi đã so sánh và thống
kê kết quả như sau:
6.1. Năm không áp dụng đề tài:
- Điểm kiểm tra miệng của các em không cao, có nhiều em bị điểm không (vì các
em lười học bài cũ).
- Điểm trung bình học kỳ môn của các em thấp hơn.
Số liệu thống kê điểm kiểm tra miệng học kỳ I năm học 2011-2012
Lớp
Tổng số
học sinh
8 - 10
điểm
6 - 7
điểm
4 – 5
điểm
1 – 3
điểm
0 điểm
7/1 30 5 6 11 3 5
Số liệu thống kê điểm trung bình môn học kỳ I năm học 2011 – 2012:
Lớp
Tổng số
học sinh

1
7/1 29 7 10 7 5 0
* Bài học kinh nghiệm:
Tuy nhiên, để áp dụng những cải tiến này một cách hiệu quả, đòi hỏi sự
chuẩn bị rất chu đáo của giáo viên. Giáo viên phải thiết kế lại các Exercise, các
Task trong sách giáo khoa và ra thêm các dạng bài tập sát với các đề kiểm tra, đề
thi. Ngoài ra, giáo viên phải đánh giá thật công bằng, khách quan, thái độ cư xử
phải tế nhị, khuyến khích động viên các em kịp thời. Trong khi kiểm tra bài của
học sinh, giáo viên phải có cách để thu hút được các học sinh khác cùng tham gia
để giải quyết vấn đề, tránh tình trạng giáo viên hỏi đáp với một người. Giáo viên
đặt hệ thống câu hỏi để cho cả lớp cùng suy nghĩ và huy động kiến thức, như thế
thì có khả năng kiểm tra trình độ hiểu biết của các học sinh trên lớp.
7. Kết luận:
Vấn đề đổi mới phương pháp giáo dục phải gắn liền với đổi mới kiểm tra
đánh giá, trong đó đổi mới kiểm tra miệng là một khâu vô cùng quan trọng và
mang tính cấp bách mà giáo viên phải thực hiện thường xuyên để nâng cao chất
lượng giáo dục và phát huy tính tích cực chủ động của học sinh trong quá trình
lĩnh hội kiến thức. Rõ ràng qua một năm áp dụng đề tài này tôi nhận thấy không
khí lớp học đã sinh động hẳn, thái độ học tập của các em mang tính tự giác cao,
các em không còn tư tưởng học chỉ để đối phó. Hơn nữa, kết quả học tập của học
sinh cũng được cải thiện đáng kể. Chính điều đó cũng là động lực giúp tôi nhiệt
tình, phấn chấn hơn trong các giờ dạy. Thông qua các hình thức kiểm tra miệng
thường xuyên như thế này, tôi sẽ phát hiện được khả năng của học sinh cũng như
biết được em nào còn yếu kém để kịp thời giúp đỡ các em bổ sung kiến thức và
kỹ năng. Ngoài ra còn giúp tôi điều chỉnh quá trình dạy học của mình cho phù
hợp với trình độ hiểu biết, nhận thức của học sinh.
8. Đề nghị:
Qua thực tế giảng dạy và thực hiện đề tài này, tôi xin được kiến nghị một
số việc như sau:
1

4. Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS chu kỳ III (2004-2007)
môn tiếng Anh do Nhà Xuất Bản giáo Dục phát hành 2005.
5. Tài liệu ELTTP Methodology Course năm 1998.
11. Mục lục
NỘI DUNG TRANG
1. Tên đề tài 1
2. Đặt vấn đề 1-2
1
3.Cơ sở lý luận 2-3
4. Cơ sở thực tiễn 3
5. Nội dung nghiên cứu
5.1. Việc chuẩn bị cho kiểm tra miệng
5.2. Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra miệng
5.3. Các cách kiểm tra miệng
5.3.1. Đối với việc kiểm tra từ vựng
5.3.2. Đối với tiết học Reading
5.3.3. Đối với tiết học Speaking
5.3.4. Đối với tiết học Listening
5.3.5. Đối với tiết học Writing
5.3.6. Đối với tiết học ngữ pháp (language focus)
3
4
4-5
5
6-7
7-8
8-9
9-10
10-11
11

Phần
Điểm
GK1
Điểm
GK2
Điểm
GK3
Điểm
tối đa
Điểm thống nhất
1. Tên đề tài
2. Đặt vấn đề
3. Cơ sở lý luận
4. Cơ sở thực tiễn
5. Nội dung nghiên cứu
6. Kết quả nghiên cứu
7. Kết luận
8. Đề nghị
9. Phụ lục
10.Tài liệu tham khảo
11. Mục lục
12. Phiếu đánh giá xếp
loại
Thể thức văn bản
Tổng cộng

Căn cứ số điểm đạt được, đề tài trên được xếp loại:
Người đánh giá xếp loại đề tài:
1.
1

Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Phòng GD$ĐT Nam Trà My
thống nhất xếp loại:
Những người thẩm định Chủ tịch HĐKH
(Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status