A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là
một khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh
kiến thức kĩ năng của học sinh.
Đối với học sinh, nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, kiểm tra đánh
giá có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng. Qua kết quả
kiểm tra, học sinh tự đánh giá mức độ đạt được của bản thân, để có phương pháp
tự mình ôn tập, củng cố, bổ sung nhằm hoàn thiện học vấn với hệ thống thao tác
tư duy của chính mình.
Đối với giáo viên, kết quả kiểm tra, đánh giá giúp mỗi giáo viên tự đánh
giá quá trình giảng dạy của mình. trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn
thiện mình về trình độ chuyên môn, về phương pháp giảng dạy.
Kết quả kiểm tra đánh giá còn giúp các nhà quản lí giáo dục có cơ sở để
xây dựng đội ngũ giáo viên, xây dựng phương hướng đổi mới nội dung, phương
pháp và hình thức tổ chức giáo dục cho phù hợp với đặc thù của trường mình
Cùng với việc đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp
giảng dạy thì vấn đề đổi mới kiểm tra đánh giá là khâu hết sức quan trọng trong
quá trình giảng dạy và học tập nói chung, cũng như quá trình giảng dạy và học
tập môn Tiếng Anh nói riêng. Đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm
tra đánh giá là hai hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau . Đổi mới kiểm tra
đánh giá là động lực của đổi mới phương pháp dạy học, góp phần thực hiện mục
tiêu giáo dục đào tạo. Đổi mới kiểm tra đánh giá bao gồm nhiều khâu, nhiều nội
dung, nhiều công đoạn trong đó việc đổi mới kiểm tra miệng là khâu hết sức
quan trọng vì đây là một hoạt động diễn ra thường xuyên liên tục. Kiểm tra
miệng là một hoạt động quan trọng. Hoạt động đó không chỉ diễn ra ở thời gian
đầu của mỗi tiết học mà còn có thể diễn ra xuyên suốt trong một tiết học. Nếu
giáo viên lơ là không thực hiện tốt việc kiểm tra miệng thì quá trình tiếp thu kiến
thức của học sinh sẽ bị gián đoạn, các em sẽ bị hổng các kiến thức, kỹ năng cần
có trong mỗi tiết học. Điều này sẽ ảnh hưởng đến kết quả của các bài kiểm tra
định kỳ (1 tiết, học kỳ, ) . Trên thực tế việc kiểm tra miệng trong các tiết học
Tiếng Anh hiện nay còn nhiều bất cập do áp lực của lượng kiến thức , kỹ năng
các môn học nói chung và ở môn Tiếng Anh nói riêng, mỗi giáo viên cần phải
hiểu rõ và nắm vững một số kiến thức liên quan đến quá trình kiểm tra đánh giá.
I.1. Khái niệm kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học.
I.1.1. Kiểm tra
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa kiểm tra là xem
xét thực chất, thực tế. Theo Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, kiểm tra là soát
xét lại công việc, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét.
Còn theo Trần Bá Hoành, kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, những thông tin
làm cơ sở cho việc đánh giá.
Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra với
nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế
để đánh giá và nhận xét.
I.1.2. Đánh giá
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả
công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những
mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải
thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu qủa công việc.
Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập và
xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục. Căn cứ
vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động
trong giáo dục tiếp theo. Cũng có thể nói rằng đánh giá là quá trình thu thập
phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức độ đạt
2
đến của các mục tiêu giáo dục về phía học sinh. Đánh giá có thể thực hiện bằng
phương pháp định lượng hay định tính.
Như vậy đánh giá là việc đưa ra những kết luận nhận định, phán xét về
trình độ học sinh. Muốn đánh giá kết quả học tập của học sinh thì việc đầu tiên
là phải kiểm tra, soát xét lại toàn bộ công việc học tập của học sinh, sau đó tiến
hành đo lường để thu thập những thông tin cần thiết, cuối cùng là đưa ra một
quyết định. Do vậy kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh là hai khâu
- Đánh giá phải đảm bảo tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ đánh giá.
I.4. Những nguyên tắc để đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Để đánh giá kết quả học tập cần dựa vào những nguyên tắc sau đây
- Đánh giá là quá trình tiến hành, có hệ thống để xác định phạm vi đạt được của
các mục tiêu đề ra. Vậy, phải xác định rõ mục tiêu đánh giá là gì.
3
- Khi đánh giá phải chọn mục tiêu đánh giá rõ ràng, các mục tiêu phải được biểu
hiện dưới dạng những điều có thể quan sát được.
- Giáo viên cần phải biết rõ những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử
dụng chúng có hiệu quả.
- Khi đánh giá giáo viên phải biết nó là phương tiện để di đến mục đích, chứ bản
thân không phải là mục đích. Mục đích đánh giá là để có nhưng quyết định đúng
đắn, tối ưu nhất cho quá trình dạy học.
- Đánh giá bao giờ cũng gắn với việc học tập của học sinh, nghĩa là trước tiên
phải chú ý đến việc học tập của học sinh. Sau đó mới kích thích sự nỗ lực học
tập của học sinh, cuối cùng mới đánh giá bằng điểm số.
- Đánh giá bao giờ cũng đi kèm theo nhận xét để học sinh nhận biết những sai
sót của mình về kiến thức kỹ năng, phương pháp để học sinh nghiên cứu, trao
đổi thêm kiến thức.
- Qua những lỗi mắc phải của học sinh, giáo viên cần rút kinh nghiệm để phát
hiện ra những sai sót trong quá trình dạy và đánh giá của mình để thay đổi cách
dạy sao cho phù hợp với học sinh.
- Trong đánh giá nên sử dụng nhiều phương pháp và hình thức khác nhau nhằm
tăng độ tin cậy và chính xác.
- Lôi cuốn và khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình đánh giá.
- Giáo viên phải thông báo rõ các loại hình câu hỏi để kiểm tra đánh giá giúp
học sinh định hướng khi trả lời.
- Phải dựa trên những cơ sở của phương phá dạy học mà xem xét kết quả của
một câu trả lời, của một bài kiểm tra, kết hợp với chức năng chẩn đoán hoặc
quyết định về mặt sư phạm.
cảnh xã hội;
- Soạn thảo công cụ: Viết câu hỏi, đặt bài toán dựa trên mục tiêu đề ra và nội
dung cần đánh giá;
- Sắp xếp câu hỏi, bài toán tù dễ đến khó, chú ý đến tính tương đương của các đề
(nếu có nhiều đề) và duyệt lại đáp án;
- Tiến hành đo lường;
- Phân tích kết quả, đánh giá độ tin cậy và độ giá trị của bài thi;
- Điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện công cụ đánh giá bài thi.Đánh giá trong giáo
dục là một vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn vì nó mang tính tổng hợp nhiều
yếu tố. Vì vậy để đánh giá chính xác một học sinh, một lớp, hay một khóa học,
điều đầu tiên người giáo viên phải làm là xây dựng quy trình, lựa chọn một
phương pháp cũng như thu thập các thông tin cần thiết cho việc đánh giá. Như
vậy, quy trình đánh giá có thể bao gồm bốn bước: đo, lượng giá, đánh giá và ra
quyết định.
II. THỰC TRẠNG.
Với những hiểu biết cụ thể về cơ sở lí luận của quá trình kiểm tra đánh
giá, tôi đã tích cực quan sát và tìm hiểu từ cả giáo viên và học sinh ở trường tôi
cũng như những trường lân cận để nhận thức rõ về thực trạng của quá trình kiểm
tra đánh giá môn Tiếng Anh hiện nay ở các trường trung học phổ thông.
Thực tế cho thấy: Từ phía học sinh, do đặc thù bộ môn Tiếng Anh được
xem là một bộ môn khó, là bộ môn phải ghi nhớ nhiều. Hơn nữa, đa số học sinh
của trường tôi lại sinh sống ở nông thôn nên quan niệm và điều kiện kinh tế gia
đình ảnh hưởng nhiều đến chất lượng kết quả học tập, kiến thức về bộ môn bị
hổng nhiều nên nhiều em chưa thật sự yêu thích bộ môn này. Điều này dẫn đến
ý thức tự giác học tập của nhiều em chưa cao. Để đối phó với giáo viên các em
thường dùng sách “Học tốt Tiếng Anh” mà không chịu khó học từ vựng hay
thực hành các kỹ năng, không có ý thức học bài cũ ở nhà.
Thêm vào đó, trong các đề thi kiểm tra học kỳ (do Sở giáo dục hoặc
trường ra) hoặc đề thi tốt nghiệp ( do Bộ giáo dục ra) chỉ tập trung vào kiểm tra
ngữ pháp và kỹ năng đọc hiểu, hơn nữa lại bằng hình thức trắc nghiệm 100%
cao trong giảng dạy và học tập.
Để kiểm tra miệng trong các tiết dạy Tiếng Anh đạt được hiệu quả tối đa,
tôi đã tổ chức thực hiện những giải pháp sau đây:
III.1. Đổi mới khâu chuẩn bị cho kiểm tra miệng.
- Công việc chuẩn bị trước hết là phải xác định thật chính xác cần kiểm tra
những gì. Tôi xác định mức độ tối thiểu kiến thức và kỹ năng mà học sinh đã thu
nhận được trong quá trình học tập ở ngay tiết học tại lớp, ở tiết học trước hoặc
những tiết học trước, từ đó chuẩn bị câu hỏi kiểm tra miệng cho phù hợp.
- Câu hỏi chuẩn bị đặt ra cho học sinh phải chính xác, rõ ràng để học sinh không
hiểu thành hai nghĩa khác nhau dẫn đến việc trả lời lạc đề.
- Nếu lấy cơ sở là những yêu cầu, bài tập đã có trong sách giáo khoa, tôi thiết kế
lại các yêu cầu, bài tập đó hoặc ra các bài tập tương tự để tránh việc các em sử
dụng các "keys" trong sách “ Hướng dẫn học tốt Tiếng Anh” nhằm đối phó với
giáo viên.
- Câu hỏi chuẩn bị cho học sinh, tôi trình bày trong giáo án rồi đọc cho học sinh
hoặc tôi làm những hand-out nhỏ, rồi khi kiểm tra tôi phát cho học sinh tự đọc.
6
III.2. Đổi mới thời gian kiểm tra miệng.
Nếu như trước đây, tôi chỉ kiểm tra vào đầu mỗi tiết học để lấy điểm
miệng, làm cho không khí của giờ học ngay từ đầu rất căng thẳng, thì trong năm
học 2012 - 2013 tôi đã mạnh dạn áp dụng kiểm tra miệng bất cứ thời gian nào
trong tiết học.
Ví dụ: Khi dạy phần " Language Focus" - Unit 1. English 11, sau khi kết thúc
phần " Pronunciation", tôi đưa ra câu hỏi " Who can give me the forms of the
verbs" để kiểm tra miệng học sinh.
III.3. Đổi mới hình thức, nội dung câu hỏi trong kiểm tra miệng.
Câu hỏi đưa ra để kiểm tra miệng tôi không chỉ dùng mình hình thức tự
luận, mà đã áp dụng cả hình thức trắc nghiệm. Tôi đã kết hợp linh hoạt 2 hình
thức câu hỏi này trong quá trình kiểm tra.
Loại câu hỏi tự luận tôi thường dành cho những nội dung kiến thức ngắn,
7
- Ngôn ngữ và thái độ nhận xét:
Sau khi học sinh đưa ra câu trả lời, giáo viên phải đưa ra nhận xét và cho
điểm. Nhận xét và điểm số của giáo viên giúp học sinh biết mức độ đúng sai của
câu trả lời, từ đó nhận thức rõ lượng kiến thức mà mình đã nắm được. Hơn thế
nữa, những lời nhận xét của giáo viên góp phần tạo động lực học tập cho học
sinh, vì vậy, sau mỗi câu trả lời (dù đúng hoàn toàn, đúng một phần hoặc không
đúng) tôi vẫn tìm những lời nhận xét mang tính khích lệ học sinh để đưa ra nhận
xét cuối cùng cho học sinh.
Thái độ và cách đối xử của giáo viên với học sinh có ý nghĩa to lớn trong
khi kiểm tra miệng. Giáo viên cần biết lắng nghe câu trả lời, biết theo dõi hoạt
động của học sinh và trên cơ sở đó rút ra kết luận về tình trạng kiến thức của học
sinh. Sự hiểu biết của giáo viên về cá tính học sinh, sự tế nhị và nhạy cảm sư
phạm trong nhiều trường hợp là những yếu tố cơ bản giúp thấy rõ thực chất trình
độ kiến thức và kỹ năng của học sinh được kiểm tra
Trong quá trình học sinh đang trả lời câu hỏi có thiếu sót hoặc sai, nếu
không có lí do gì cần thiết giáo viên cũng không nên ngắt lời của học sinh. Cùng
là một sai sót nhưng giáo viên phải biết sai sót nào nên sửa ngay và sai sót nào
thì nên đợi học sinh trả lời xong
Khi tổ chức kiểm tra thì giáo viên phải giải quyết các khó khăn lớn sau
đây: khi một hay vài học sinh được chỉ định lên bảng thì các học sinh khác trong
lớp cần phải làm gì và làm như thế nào. Giáo viên gọi nhiều em cùng một lúc,
đưa ra yêu cầu khác nhau phù hợp với trình độ của mỗi học sinh sau đó đặt các
câu hỏi cho cả lớp sau khi các học sinh này hoàn thành xong nhiệm vụ của
mình như sau: “ Bạn trả lời như vậy có đúng không?” “Các em có đồng ý với
câu trả lời đó của bạn không?” “ Có điểm nào sai hoặc thiếu không ?”… Ngoài
những câu cơ bản, giáo viên có thể sử dụng các câu hỏi phụ trong quá trình kiểm
tra miệng. Nhờ những câu hỏi bổ sung đó mà giáo viên có thể hình dung được
chất lượng kiến thức của học sinh.
III.5. Đổi mới cách cho điểm và ghi điểm.
Tuỳ theo mỗi tiết học và tuỳ theo từng yêu cầu về kiểm tra kiến thức, kỹ
năng mà tôi đã áp dụng các cách kiểm tra miệng như sau:
III.6.1. Đối với việc kiểm tra từ vựng.
Cách 1: Gọi một lượt 4 học sinh lên bảng. Giáo viên đưa ra câu hỏi chung cho
tất cả, học sinh nào trả lời được trước thì giáo viên cho phép. Các học sinh còn
lại sẽ trả lời các câu hỏi phụ hoặc bổ sung cho bạn trả lời trước
Ví dụ: Kiểm tra từ vựng của tiết Reading Unit 11- English 11
Yêu cầu mà GV đưa ra: “ Write a word in English that means : vô tận”
HS 1 : đưa từ (infinite)
HS 2 : xác định từ loại (adjective)
HS 3 : đưa ra từ đồng nghĩa (unlimited)
Hs 4: đưa ra từ trái nghĩa ( limited)
Với cách này học sinh sẽ bớt đi tâm lý lo sợ, e ngại khi kiểm tra miệng và có
được nhiều sự lựa chọn hơn
Cách 2: Gọi 8 học sinh lên ngồi các dãy bàn đầu, mỗi học sinh mang theo 1 tờ
giấy có đánh số thứ tự từ 1 đến 10, những học sinh trong lớp còn lại sẽ dùng vở
nháp để ghi các từ do giáo viên yêu cầu. GV đọc các từ lần lượt từ 1 đến 10
bằng tiếng Việt và yêu cầu học sinh ghi các từ đó tương ứng bằng tiếng Anh
Sau đó thu bài của 8 em này và 1 vài bài của các em ngồi bên dưới để chấm
điểm. Mỗi từ đúng tương ứng với 1 điểm
Cũng bằng cách này , GV cũng có thể kiểm tra phần "Pronunciation" của học
sinh bằng cách phát các "handouts" có một số từ và yêu cầu học sinh chọn từ có
9
phần gạch chân đọc khác với các từ còn lại hoặc chọn từ có trọng âm khác với
các từ còn lại.
III.6.2. Đối với tiết học Reading.
Ngay trong các hoạt động "While- Reading" , giáo viên cũng có thể kiểm tra để
lấy điểm miệng.
Ví dụ 1: Khi dạy phần "Reading" ( Unit 3 - English 11)
Tôi sử dụng ngay phần "task 1" để kiểm tra lấy điểm miệng. Vì hoạt động này
or seen. Use the suggestions below:
1. Where and when did you see or take part in?
2. What type of competition/ contest was it?
3. Who organized it?
4. Who participated in it?
5. Who won the competition / contest?
10
6. Did you enjoy it? Why/ why not?
Sau khi hướng dẫn, gợi ý và làm mẫu với một học sinh khá trong lớp, tôi
yêu cầu học sinh thực hành theo cặp, một em hỏi và một em trả lời. Trong thời
gian các em đang thực hành, tôi có thể đi quanh để giúp đỡ các em nếu thấy cần
thiết. Sau khoảng 8- 10 phút tôi gọi một số cặp đứng lên thực hành, sau đó nhận
xét và cho điểm
III.6.4. Đối với tiết học Listening.
Đây là kỹ năng khó vì vốn từ của các em còn hạn chế và các em cũng
không quen với giọng người bản xứ nên kiểm tra các em kỹ năng này ngay trong
giờ bài mới là rất khó thực hiện. Thay vào đó, tôi sẽ kiểm tra miệng các em
thông qua hình thức vấn đáp để vừa kiểm tra được kỹ năng nghe, nói vừa kiểm
tra được kiến thức mà các em học được từ bài cũ.
Việc kiểm tra này được thực hiện vào đầu của tiết học sau:
Cách thực hiện: Gọi học sinh để trả lời một câu hỏi mà các em đã được học và
củng cố rất kỹ trong tiết trước (5 điểm), câu thứ hai em chọn một bạn ( đang
ngồi dưới lớp) hỏi em một câu trong bài rồi trả lời (2 điểm) , Câu thứ 3 do chính
em học sinh này hỏi một bạn khác ( đang ngồi dưới lớp) (3 điểm). Số điểm mà
em học sinh này đạt được sẽ được ghi vào cột M1, Số điểm mà 2 học sinh khác
do đặt câu hỏi đúng hoặc trả lời đúng sẽ được ghi vào cột M2. Sau một thời
gian quen dần cần nâng cao yêu cầu câu hỏi của học sinh đặt ra cho bạn mình.
Ví dụ: Kiểm tra miệng tiết Listening Unit 15- English 11.
Các câu hỏi được dùng để kiểm tra miệng( đã học trong tiết trước)
1. How many astronauts were there on board the spacecraft to the moon?
thiết, tôi yêu cầu học sinh làm việc cá nhân, mỗi học sinh sẽ lựa chọn cho mình
3 câu để hoàn thành, và 3 câu này không được giống với người bên cạnh
1. We / have / a lot/ things/ do/ prepare/ coming Asian Games
2. We/ build/ one / National stadium/ sports building/ car park
3. We/ widen/ training areas/ roads / sports buildings
4. We/ equip/ hotels/ guest houses/ modern facilities
5. We/ promote/ advertise/ preparations / the Asian Games / the radio/ TV
6. We/ hold / competition / choose an offcial song
7. We/ recruit/ volunteers/ be/ good/ English/ serve the Games
III.6.6. Đối với tiết học ngữ pháp ( Language Focus).
+ Đối với tiết học bài mới:
Tôi thường thiết kế lại một số bài tập trong sách giáo khoa (để tránh tình
trạng học sinh dùng sách hướng dẫn để trả lời ) đồng thời ra thêm một số bài tập
trắc nghiệm trong phần production, sau đó gọi học sinh lên bảng làm để lấy
điểm hoặc thu bài của một số em để chấm
Ví dụ : Ở Unit 16 - English 11, trong phần "Production", tôi chuẩn bị "hand-
outs" ở nhà, đưa vào bài tập trắc nghiệm để kiểm tra mức độ độ nắm bắt kiến
thức của học sinh và lấy điểm miệng.
Exercise 1: Choose the best option
1. He is said ……… out 2 hours ago.
a. to go b. to be going c. to have gone d. to have been going
2. Lan is to be very good at English
a. known b. knew c. know d. is known
3. People Nam will win the match.
a. thought b. are thought that c. think that d. were thought to
4. Peter is believed part in the competition next weekend.
a. not to have taken b. not to take c. to not take d. to not have taken
+ Đối với tiết học bám sát ( củng cố và ôn tập)
Áp lực thời gian trong tiết "Language Focus" là rất lớn vì vừa phải đảm
bảo phần "pronunciation" vừa phải đảm bảo phần "Grammar" nên thời gian
Số liệu thống kê điểm kiểm tra miệng học kỳ II năm học 2012 - 2013
Lớp Tổng số
học sinh
8-10
điểm
6-7
điểm
4-5
điểm
1-3
điểm
0
điểm
11G9 40 7 15 8 5 5
Số liệu thống kê điểm trung bình môn học kỳ II năm học 2012 - 2013
Lớp Tổng số
học sinh
8.0 trở
lên
6.5 -7.9 5.0-6.4 3.5-4.9 0-3.4
11G9 40 1 5 24 10 0
2. Kết quả ở lớp 11C9 - Lớp kiểm nghiệm những đổi mới trong kiểm tra miệng.
- Sau một năm áp dụng phương pháp mới này, hầu hết học sinh của tôi có điểm
kiểm tra miệng cao hơn năm trước và cao hơn so với các lớp khác cùng khối 11,
không có em bị điểm dưới trung bình và điểm 0.
- Điểm trung bình môn học kỳ cũng được tăng lên rõ rệt.
13
Số liệu thống kê điểm kiểm tra miệng học kỳ II năm học 2012-2013
Lớp
Tổng số
những đổi mới trong kiểm tra miệng, tôi nhận thấy không khí lớp học đã sinh
động hẳn, thái độ học tập của các em mang tính tự giác cao, các em không còn
tư tưởng học chỉ để đối phó, các em thấy hứng thú hơn với mỗi bài giảng, thậm
chí có những em từ trước tới giờ luôn cúi mặt lảng tránh khi tôi đưa câu hỏi
kiểm tra miệng, thì sang năm học này các em đã thấy thật sự thoải mái và có
phần thích thú khi ngay giữa giờ dạy, với một câu trả lời đơn giản cho một câu
hỏi không khó, các em được nhận ngay 8, 9 hoặc 10 điểm. Kết quả học tập của
học sinh đã được cải thiện đáng kể. Chính điều đó cũng là động lực giúp giáo
viên nhiệt tình, phấn chấn hơn trong các giờ dạy.
Thêm vào đó, Thông qua các hình thức kiểm tra miệng thường xuyên này ,
giáo viên sẽ phát hiện được khả năng của học sinh cũng như biết được em nào
còn yếu kém để kịp thời giúp đỡ các em bổ sung kiến thức và kỹ năng. Ngoài ra
còn giúp giáo viên điều chỉnh quá trình dạy học của mình cho phù hợp với trình
độ hiểu biết, nhận thức của học sinh.
Tuy nhiên để áp dụng những cải tiến này một cách hiệu quả, đòi hỏi sự
chuẩn bị rất chu đáo của giáo viên. Giáo viên phải thiết kế lại các Exercise, các
Task trong sách giáo khoa và ra thêm các dạng bài tập sát với các đề kiểm tra,
đề thi. Ngoài ra giáo viên phải đánh giá thật công bằng, khách quan, thái độ cư
xử phải tế nhị, khuyến khích, động viên các em kịp thời và phải nhạy cảm về
mức độ khó - dễ của câu hỏi khi đưa ra cho từng đối tượng học sinh. Trong khi
kiểm tra bài của học sinh thì giáo viên phải có cách để thu hút được các học
sinh khác cùng tham gia để giải quyết vấn đề, tránh tình trạng giáo viên hỏi đáp
với một người. Giáo viên đặt hệ thống câu hỏi để cho cả lớp cùng suy nghĩ và
huy động kiến thức, như thế thì có khả năng kiểm tra trình độ hiểu biết của các
học sinh trong lớp.
Qua thực tế giảng dạy và thực hiện đề tài này tôi xin được kiến nghị một số
việc như sau:
- Chương trình sách giáo khoa nên được giảm tải để giáo viên có thời gian hơn
trong việc kiểm tra miệng học sinh
- Hình thức đánh giá và thi cử nên được cải tiến, các đề kiểm tra không nên
18