SKKN Áp dụng kỹ thuật brainstorming trong các tiết dạy Tiếng Anh cho học sinh THPT - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“ÁP DỤNG KỸ THUẬT “BRAINSTORMING” TRONG CÁC TIẾT
DẠY TIẾNG ANH CHO HỌC SINH THPT”
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Xã hội càng ngày càng phát triển. Do đó, nhu cầu giao tiếp, học tập, nghiên cứu…
không ngừng tăng lên. Điều đó đồng nghĩa với việc con người không thể chỉ biết và sử
dụng một ngôn ngữ nhất định (tiếng mẹ đẻ). Việc học tập và sở hữu thêm một ngoại ngữ
nào đó - đặc biệt là tiếng Anh, một phương tiện giao tiếp quốc tế hữu hiệu - dần trở thành
một nhu cầu thiết yếu. Vì vậy, dạy và học tiếng Anh tại trường phổ thông là một tất yếu
để đưa con người dần tiến đến cái đích của sự giao tiếp quốc tế đa phương diện.
Như một xu hướng phát triển tất yếu, Giáo dục cũng phải có nhiều thay đổi để phù
hợp với những yêu cầu mới của xã hội hiện đại. Tiếng Anh đã trở thành một môn học bắt
buộc trong hệ thống Giáo dục quốc dân ở Việt Nam. Cũng như bất kỳ một môn học nào
khác, cộng thêm những yếu tố mang tính chất đặc thù bộ môn, việc dạy và học tiếng Anh
đòi hỏi những phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp và thường xuyên được đổi
mới. Hướng đổi mới là giảng dạy đạt hiệu quả và chất lượng, lấy người học làm trung
tâm. Để một giờ học Ngoại Ngữ đạt kết quả, giáo viên phải tìm ra những phương pháp
dạy học phù hợp, những hỗ trợ thích hợp từ phương tiện dạy học, phù hợp với từng tiết
dạy, từng đối tượng học sinh và đặc biệt là thật hứng thú. Điều này có nghĩa là, trong
khoảng thời gian cho phép của một tiết dạy vấn đề mà giáo viên cần quan tâm không phải
là mình đã làm được những gì mà là học sinh có tâm trạng, tâm thế, thái độ như thế nào
đối với các hoạt động mà giáo viên tổ chức và mức độ tham gia của từng đối tượng học
sinh vào hoạt động đó.
Với thực tế giảng dạy tại trường, đa phần học sinh có vốn tích lũy về kiến thức
ngôn ngữ tiếng Anh rất ít. Vì vậy nếu giáo viên chỉ giảng dạy theo một cách thức đơn
điệu, lặp lại thì sự buồn tẻ, nhàm chán của không khí tiết học cộng với sự e ngại, rụt rè
của học sinh sẽ khiến cho tư duy của các em dần trở nên ngại và lười hoạt động. Khi giáo
viên đặt học sinh vào những tình huống có vấn đề và yêu cầu các em phải tìm cách giải
quyết chúng, giải quyết độc lập, theo cặp hay theo nhóm, thì buộc học sinh phải suy nghĩ
theo các hướng khác nhau, nhìn nhận vấn đề theo nhiều cách, nhiều khía cạnh và từ đó

- Quản trị dự án
- Xây dựng nhóm
- Xây dựng kế hoạch kinh doanh
Và dần dần, kỹ thuật này được áp dụng vào quá trình dạy học nhằm mang đến cho học
sinh, sinh viên một cách thức làm việc mới chủ động, sáng tạo, tích cực để giải quyết các
nhiệm vụ và tình huống học tập của bản thân và của tập thể lớp.
2. Cách thức tiến hành BSM.
BSM có thể tiến hành bởi một hay nhiều người. Số lượng người tham gia nhiều sẽ
giúp cho phương pháp tìm ra lời giải được nhanh hơn hay toàn diện hơn nhờ vào nhiều
góc nhìn khác nhau bởi các trình độ, trình tự khác nhau của mỗi người. Theo A. Osborn,
để tiến hành BSM theo nhóm cần có các bước sau:
a. Trong nhóm chọn ra một nhóm trưởng để điều khiển và một người thư ký để ghi lại
tất cả ý kiến (cả hai công việc có thể do cùng một người thực hiện).
b. Xác định vấn đề hay ý kiến sẽ được BSM. Phải làm cho mọi thành viên trong nhóm
hiểu thấu đáo về đề tài sẽ được tìm hiểu.
c. Thiết lập các "luật chơi" cho hoạt động BSM. Chúng nên bao gồm:
• Nhóm trưởng có nhiệm vụ điều khiển buổi làm việc.
• Không một thành viên nào có quyền đòi hỏi hay cản trở, đánh giá, phê bình
hay thêm bớt vào ý kiến, từ vựng nêu ra, hay giải đáp của thành viên khác.
• Cần xác định rằng không có câu trả lời nào là sai.
• Tất cả câu trả lời, các ý, các cụm từ, ngoại trừ nó đã được lặp lại đều sẽ được
thu thập và ghi lại (cách ghi có thể tóm gọn trong một chữ, một từ hay một câu
cho mỗi ý riêng rẽ).
• Vạch định thời gian cho hoạt động và ngưng khi hết giờ.
d. Bắt đầu BSM: Nhóm trưởng chỉ định hay lựa chọn thành viên chia sẻ ý kiến trả lời
(hay những ý niệm rời rạc). Người thư ký phải viết xuống tất cả các câu trả lời, nếu
có thể công khai hóa cho mọi người thấy (viết lên bảng chẳng hạn). Không cho
phép bất kỳ một ý kiến đánh giá hay bình luận nào về bất kỳ câu trả lời nào cho
đến khi chấm dứt hoạt động BSM. Trong suốt quá trình này nhóm trưởng phải là
người biết cách cân bằng hoạt động của tất cả các thành viên trong nhóm sao cho

trong tư duy của người học.
Sự chuyển biến về hoạt động học tập trong lớp có thể thể hiện qua sơ đồ sau:
Nhìn vào sơ đồ trên ta dễ dàng nhận thấy sự biến đổi một cách căn bản, có thể nói là sự
đảo chiều, trong vai trò của giáo viên và học sinh đối với các hoạt động trong lớp học.
Nếu như trong PPDH truyền thống, giáo viên là người giữ vai trò chủ đạo, là nền móng
cho mọi hoạt động, hoạt động của giáo viên chiếm phần lớn trong tổng số hoạt động
chung của một tiết học trong lớp thì ở PPDH tích cực, “linh hồn” của các hoạt động trong
lớp chính là học sinh. Các em “dành” lấy và chiếm hữu đa phần hoạt động của lớp học.
Trong PPDH mới này, mối tương quan giữa giáo viên và học sinh có thể được miêu tả
trong sơ đồ sau:
Học sinh
Giáo viên
Giáo viên và học sinh
Giáo viên và học sinh
Giáo viên
Học sinh
Truyền thống Tích cực
Trong sự tương tác này, giáo viên đóng vai trò là người cố vấn, định hướng và tổ
chức các hoạt động học tập còn học sinh mới là chủ thể thực hiện hoạt động bằng cách tự
nghiên cứu, tự tìm hiểu và tự đánh giá, tự điều chỉnh phương pháp học tập của mình. Như
vậy trong trong mối quan hệ tương tác này yếu tố quan trọng nhất chính là sự tự giác của
học sinh.
Định
hướng
Tổ chức
Hỗ trợ, cố
vấn, đánh
giá
Nghiên cứu,
tìm hiểu

Thứ hai, vốn tích lũy của học sinh về ngôn ngữ tiếng Anh rất ít. Mặc dù học sinh
đã được tiếp cận với môn tiếng Anh ở cấp THCS, tuy nhiên khi bước vào cấp THPT thì
hầu như vốn tích lũy của các em là rất ít, đặc biệt là học sinh vùng nông thôn, miền núi,
vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Điều này một phần xuất phát từ thực tế dạy học ở trên. Khi
học sinh đã cảm thấy không hứng thứ với môn học vì giáo viên không mang đến cho các
em những bất ngờ thú vị từ chính môn học đó thì không nảy sinh nhu cầu tìm hiểu và
khám phá về môn học. Điều này dẫn đến việc các em hết sức e ngại, rụt rè trong các hoạt
động do giáo viên tổ chức trong các tiết học tiếng Anh ở trường THPT. Các em lúng túng
và bối rối khi không thể giải quyết được nhiệm vụ mà giáo viên giao cho do những hạn
chế về mặt kiến thức. Và nếu tiếp tục để tình trạng này tồn tại, thì các tiết học tiếng Anh
sẽ lại trôi qua trong một không khí nặng nề.
Thứ ba, phương tiện dạy học đặc thù còn nhiều thiếu thốn. Một trong những
hướng đổi mới PPDH theo hướng tích cực là áp dụng các phương tiện dạy học (PTDH)
phù hợp với đặc trưng của bộ môn. Sự hỗ trợ của các PTDH mới, phù hợp sẽ làm tăng
hiệu quả và chất lượng của quá trình dạy học. Tuy nhiên, thực tế ở nhiều trường học các
PTDH tối thiểu cho môn học tiếng Anh như đài catsette, điã CD vẫn còn thiếu, chứ chưa
kể đến hệ thống tranh ảnh minh họa hay mô hình, vật thật, … Điều này ảnh hưởng rất lớn
đến vấn đề đổi mới PPDH và nâng cao hiệu quả của việc dạy và học tiếng Anh.
Thứ tư, học sinh không tự đổi mới phương pháp học. Trải qua một thời gian học
tập ở cấp tiểu học và THCS, học sinh đã tự tìm ra cho mình một phương pháp học nhất
định. Tuy nhiên, không phải phương pháp nào cũng còn phù hợp với các môn học ở cấp
THPT, đặc biệt trong trong tình hình đổi mới PPDH như ngày nay mà mục tiêu là tạo nên
sự chuyển biến, đưa học sinh trở thành chủ thể của mọi hoạt động học tập. Tuy nhiên, do
thói quen hay do những hạn chế nhất định về năng lực học tập, học sinh vẫn giữ những
phương pháp học tập cũ rất thụ động, không tự giác và tích cực. Điều này đã tạo nên một
rào cản khiến học sinh không thể lĩnh hội hết tri thức của môn học. Các em không đủ tự
tin hoặc không tự giác tham gia vào các hoạt động học tập. Điều này khiến cho tiết học
trở nên vô cùng khó khăn và không hiệu quả.
Với tất cả những tồn tại trên, để quá trình dạy - học tiếng Anh đạt hiệu quả thì bản
thân giáo viên phải biết khắc phục tất cả những hạn chế từ phía học sinh và những thiếu

Bước 3: Tiến hành hoạt động BSM. Nhóm trưởng sẽ điều khiển các thành viên
trong nhóm BSM, tức là yêu cầu tất cả các thành viên đều phải có ý tưởng hay ý kiến về
vấn đề và thư ký có nhiệm vụ ghi chép tất cả (ngoại trừ những ý kiến trùng lặp). Trong
một số trường hợp có thể chấp nhận ý kiến được đưa ra bằng tiếng Việt nếu một số học
sinh có hạn chế về năng lực học tập môn tiếng Anh như vốn từ ít. Các thành viên có thể
nói ra ý kiến của mình (speak out) để thư ký ghi chép hoặc viết ra giấy (giấy viết, giấy
take-note, giấy sticker…tùy theo sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh) các suy nghĩ của
mình về vấn đề rồi đưa cho thư ký tổng hợp.
Ở bước này, giáo viên là người quan sát tổng quát hoạt động của các nhóm, cung
cấp một vài gợi ý hoặc hỗ trợ, hoặc động viên, khích lệ cho một vài đối tượng học sinh
nhất định trong các nhóm.
Trong trường hợp giáo viên giữ đồng thời hai vai trò: vừa là người điều khiển, vừa
là thư ký thì có thể gọi học sinh phát biểu ý kiến, giáo viên viết câu trả lời của học sinh
lên bảng một cách ngẫu nhiên không cần sắp xếp theo thứ tự cụ thể nào, hoặc yêu cầu
học sinh viết ý kiến ra giấy rồi dán lên bảng. Để thu hút và tạo ấn tượng có thể dùng các
giấy sticker, bút nhiều màu sắc.
(Ảnh minh họa)
Bước 4: Phân tích các câu trả lời và tìm ra giải pháp cho vấn đề. Trong bước
này, tất cả các thành viên trong nhóm lượt lại các câu trả lời, không bình luận hay chỉ
trích bất kì phương án nào, đơn giản chỉ là thu gọn những ý trùng lặp, gạt đi những ý
không liên quan đến vấn đề và quyết định chọn những câu trả lời phù hợp nhất.
Có thể tham khảo một vài ví dụ sau đây:
Ví dụ 1: SGK Tiếng Anh lớp 10, unit 12: Music, phần Reading.
Để “warm up” cho tiết học này mỗi giáo viên sẽ có một cách thức khác nhau. Đối
với tôi, tôi đã chọn áp dụng kỹ thuật BSM để tạo nên một không khí thoải mái cho học
sinh trước khi bước vào bài mới với những yêu cầu cụ thể khác nhau.
- (Chưa yêu cầu học sinh mở SGK), tôi viết từ khóa “Music” lên bảng và bắt đầu
chia học sinh thành các nhóm. Yêu cầu mỗi nhóm chọn nhóm trưởng và thư ký.
- Yêu cầu các nhóm phải tìm ra càng nhiều càng tốt các từ vựng hay hoạt động có
liên quan đến chủ đề này trong thời gian 3 phút.

em đón nhận và tìm cách giải quyết trong một tâm trạng thoải mái, tự tin hơn, chủ động
hơn, tích cực hơn và tự giác hơn. Và kết quả dễ thấy là bài học sẽ đạt được những hiệu
quả nhất định.
Ví dụ 2: SGK Tiếng Anh 11, unit 12: The Asian Games, phần Speaking.
Sau khi học xong phần Reading, học sinh đã nắm bắt được những thông tin cơ bản
về đại hội thể thao Châu Á (The Asian Games). Và để các em có cơ hội tìm hiểu thêm
thông tin về sự kiện này, giúp các em có nguồn thông tin phong phú và thú vị để bước
vào bài học Speaking tôi đã kết hợp kỹ thuật BSM với PPDH dự án: yêu cầu học sinh
làm việc theo nhóm tìm hiểu các thông tin liên quan đến các kì đại hội thể thao Châu Á
trước khi tham gia giờ học Speaking. Để hoàn thành được “dự án” này buộc học sinh
phải dùng kỹ thuật BSM để phân tích vấn đề và vạch định xem sẽ phải thu thập những
loại thông tin nào. Với kỹ thuật này, học sinh có thể xây dựng một sơ đồ thông tin về The
Asian Games như sau:
The Asian Games
Games number
Host country (cities, …)
Time (from …to )
Countries took part in
Names of sports
Number of medals (gold, …)
New records
New recordsFamous athletes
Offical songs (singers, names…)
Với sơ đồ trên học sinh đã có được một lượng lớn thông tin hết sức thú vị để phục vụ cho
bài học mới. Học sinh có thể sử dụng bất kì nhóm thông tin nào trong sơ đồ đó để bổ
sung thêm phần hỏi - đáp ở Task 1 theo mẫu hội thoại cho sẵn. Việc thu thập và tìm hiểu
trước thông tin ở nhà bằng kỹ thuật BSM trong PPDH dự án như trên sẽ giúp học sinh
thêm hứng thú với nội dung của bài học mới và tạo được một tâm lí tự tin, sẵn sàng.
Ví dụ 3: SGK Tiếng Anh 12, unit 13: The 22
nd

tả như: take part in, be, wear, cheer, feel, play, kick, make a goal, jump up,… sắp xếp lại
các ý trên và xếp chúng vào các phần Introduction, Details of the match or conclusion
cho phù hợp. Với những gợi ý trên yêu cầu học sinh bắt đầu bài viết của mình bằng
những câu đơn giản để miêu tả ý và sau đó sử dụng các từ nối và phần useful language
để hoàn thiện bài viết của mình.
Dù mỗi bài viết của mỗi cá nhân học sinh khác nhau về chất lượng do sự khác nhau về
năng lực học tập nhưng điểm chung ở đây là tất cả học sinh khi tham gia vào hoạt động
BSM đều đã tự mình đóng góp ý kiến và đều hình dung được bài viết nên bao gồm những
thông tin gì, những thông tin đó được sắp xếp ra sao. Có nghĩa là học sinh hiểu được yêu
cầu của bài học và biết cách thực hiện yêu cầu đó.
Như vậy, với việc áp dụng kỹ thuật BSM vào trong các khâu của quá trình dạy
học, vào các tiết dạy khác nhau, tôi đã khiến học sinh của mình phải làm việc một cách
chủ động. Các em phải tư duy để đóng góp ý kiến vào hoạt động dù đôi lúc còn có những
hạn chế nhất định nhưng trên hết các em đã vượt qua được những hạn chế đó để tham gia
vào hoạt động và để hiểu được yêu cầu của bài học. Điều này góp phần làm cho tiết học
thành công.
V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
1. Kết luận
Với tất cả những gì đã trình bày, có thể nhận thấy hiệu quả rất lớn của kỹ thuật
BSM trong quá trình dạy học tiếng Anh cho học sinh THPT nói riêng và cho nhiều môn
học nói chung.
Thứ nhất: Trong những điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất của từng đơn vị và chất
lượng học tập của học sinh đối với môn tiếng Anh thì kỹ thuật này không đòi hỏi quá
nhiều sự chuẩn bị về đồ dùng dạy học hay các thiết bị dạy học phức tạp. Đơn giản chỉ cần
bảng viết, giấy viết, hay vài tập giấy sticker. Cách tiến hành đơn giản không cần phân
biệt không gian, hay băn khoăn về đối tượng tham gia. Và quan trọng nhất là có thể lôi
cuốn và khích lệ những học sinh có những hạn chế về năng lực học tập có thể tham gia vì
trong hoạt động này các em không sợ bị chê bai hay chỉ trích, phê bình. Đơn giản chỉ là
các em có cơ hội đóng góp ý kiến của mình về vấn đề cần được giải quyết. Các câu trả lời
của các em được “chấp nhận vô điều kiện” dù nó được đưa ra bằng tiếng Việt cho một

phù hợp với từng bài học. Chúng sẽ góp phần vào việc đổi mới PPDH theo hướng tích
cực để có thể mang lại một hiệu quả cao trong quá trình dạy học và giáo dục.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Osborn, A. F. (1953). Applied Imagination: Principles and Procedures of Creative
Problem Solving. Scribner.
2. Một số website:
- />tao-ra-y-tuong-moi
-
- />- />- />


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status