SKKN Một số phương pháp và quy trình dạy môn Tập đọc lớp 2 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ QUY TRÌNH DẠY MÔN TẬP ĐỌC
LỚP 2”
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Viện sĩ M.R. Lơ Vốp đã định nghĩa : “Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá
trình chuyển dạng hình thức chữ viết sang lời nói có âm thanh thông hiểu. Nó ứng với
hình thức đọc thành tiếng là quá trình chuyển trực tiếp chữ viết thành các đơn vị nghĩa
không có âm thanh ( ứng với đọc thầm )”. Đây là một định nghĩa rất phù hợp với việc
giảng dạy bộ môn tập đọc ở bậc tiểu học. Do đó muốn dạy tốt môn tập đọc, người giáo
viên tiểu học phải xác định được yêu cầu và nhiệm vụ quan trọng của môn tập đọc.
Nhiệm vụ quan trọng nhất là phải hình thành năng lực đọc của học sinh, đó là:
1/ Đọc đúng.
2/ Đọc nhanh ( Đọc lưu loát, trôi chảy ).
3/ Đọc có ý thức ( Thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là
đọc hiểu ).
4/ Đọc hay ( Mà ở mức cao hơn là đọc diễn cảm ).
Qua việc dạy môn tập đọc còn giáo dục học sinh lòng ham mê đọc sách, hình thành
phương pháp và thói quen làm việc với sách, làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống
và kiến thức văn học cho học sinh.
Môn tập đọc ở tiểu học nói chung và lớp 2 nói riêng đặt ra một nhiệm vụ quan
trọng. Trong các giờ tập đọc học thuộc lòng, học sinh biết đọc diễn cảm bài văn, bài thơ
đã tạo cho các em sự say mê hứng thú và để lại một vốn văn học đáng kể cho các em.
Cũng thông qua các bài văn học sinh học được hiểu thêm về các vùng miền của đất nước,
hiểu được công sức của các tầng lớp nhân dân đang ra sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,
hiểu được các truyền thống quý báu của dân tộc.
Môn tập đọc có tác dụng mạnh mẽ trong giáo dục mỹ cảm, học sinh yêu cái đẹp,
rung cảm trước các đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp trong xã hội, cái đẹp trong văn chương.
Môn này có thể rèn luyện cho học sinh tư duy trừu tượng và cả tư duy logic. Giờ tập đọc,
ngoài việc dẫn dắt học sinh và cho học sinh tìm đại ý để phát triển óc tổng hợp, tìm bố

thanh
Sai do
phát âm
của cá
nhân
Ghi
chú
Âm
đầu
Âm
cuối
Vần
1 Nguyễn Văn Tài Tr/ch
2 Võ Văn Quốc n/ng
t/k
3 Phan Phú Niệm
Ươu
/iêu
inh/in

Trên cơ sở đó, giáo viên phân loại nhóm để luyện đọc cho học sinh. Ví dụ:
Học sinh A, B gốc ở Huế hay đọc sai âm cuối:
t → c ( ngạt thở → ngạc thở ), n → ng ( cái bàn → cái bàng )
Học sinh C, D gốc ở Bắc hay đọc sai âm đầu:
n → l ( Hà Nội → Hà Lội ), s → x ( ngôi sao → ngôi xao )
Các em xứ Nghệ thường sai dấu thanh:
~ → . ( dũng cảm → dụng cảm, có bão → có bạo )
Từ đó, thông qua mỗi giờ tập đọc, giáo viên có kế hoạch sửa sai cho từng em, từng
nhóm em. Riêng cột ghi chú sẽ ghi ngắn gọn sự tiến bộ và một số biện pháp đã thực hiện
hữu hiệu. Công việc này đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, tỉ mỉ thực hiện luyện phát âm đều

- HS nêu rõ phần khó của âm đầu,
âm cuối, phần vần hoặc đầu thanh
của tiếng.
- HS yếu đọc → Đọc cá nhân →
Đọc đồng thanh
- HS luyện đọc từ khó trong câu.
- HS đọc chú giải trong sách giáo
khoa.
- Một HS đọc đoạn 1.
- HS phát hiện chỗ cần luyện đọc
ngắt giọng, nhấn giọng.
- HS đọc cá nhân → Đọc đồng
thanh.
- Một vài HS đọc.
* Bước 3: Luyện đọc đoạn. Ví dụ
bài văn có 3 đoạn (3 phần).
- GV tổ chức các hình thức luyện đọc.
- GV nhận xét và ghi điểm.

- HS nối tiếp đọc 3 đoạn của bài.
- Luyện đọc trong nhóm (3 em).
- Cử đại diện thi đọc giữa các nhóm,
hoặc 3 em ở nhóm này thi đọc với 3
em ở nhóm khác.
- HS nhận xét.
- Một học sinh đọc toàn bài.
Ở phần đọc trong nhóm, giáo viên cần lưu ý học sinh nhỏ hay phân tán, nên khi có
hiệu lệnh đọc nhóm, giáo viên cho các em để nguyên vị trí trang sách đang mở, lần lượt
chồng các sách tập đọc lên nhau theo nhóm 2 đến 3 em trong một bàn để các em tiện tập
trung theo dõi, chỉnh sửa cho nhau. Khi nghe hiệu lệnh trở về vị trí ban đầu, học sinh lấy

thương bạn, sự quan tâm chăm sóc của Việt đối với người bạn bị ốm, người ông nói:
“Cháu là người có tấm lòng nhân hậu”. Nhân hậu chính là từ “chốt”, từ cần giảng.
Khi nói về một cây si đang sống tươi tốt, to khỏe, tràn đầy sức sống, tác giả tả:
Thân cây to, cành lá sum suê (Trích bài Cây si già – Sách TV lớp 2, tập 2). Sum suê là
từ “chốt”.
Khi đưa những từ “chốt” ra, giáo viên cần xem xét chúng đã đáp ứng được mục
tiêu, yêu cầu của bài chưa. Các từ “chốt” có những từ dùng “đắt” tạo nên giá trị nghệ
thuật của bài.
Ví dụ: “Những đêm trăng sáng, dòng sông là một đường trăng lung linh dát vàng”
(Trích bài Sông Hương – Sách TV lớp 2, tập 2). Cái vẻ đẹp của thiên nhiên huyền ảo,
thơ mộng dưới ánh trăng vàng chiếu xuống dồng sông Hương, gió thổi nhẹ, mặt nước lay
động tạo nên một vẻ đẹp gói gọn trong hai từ lung linh, thì đây chính là từ chúng ta cần
khai thác.
Cần chú ý các từ có dấu hiệu nghệ thuật. đó là những từ giàu màu sắc biểu cảm như
các từ láy, từ đa nghĩa, từ có kết hợp bất thường, từ bộc lộ cảm xúc, từ mang nghĩa bóng
và từ chuyển nghĩa.
Ví dụ như:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất tỏ
2. Nắm vững cách giải nghĩa từ:
Giáo viên cần phải nắm vững 7 cách giải nghĩa từ:
- Giải nghĩa từ bằng trực quan.
- Giải nghĩa từ bằng ngữ cảnh.
- Giải nghĩa từ bằng từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, đặt câu.
- Giải nghĩa từ bằng cách phân tích các yếu tố tạo từ.
- Giải nghĩa từ bằng rút ra nghĩa chung của một nhóm từ.
- Giải nghĩa từ bằng miêu tả sự vật.
- Giải nghĩa từ bằng định nghĩa.
Chú ý nghĩa của từ trong bài khác với nghĩa của từ khi đứng riêng lẻ trong từ điển,
nên cần đặt vào văn cảnh để giải nghĩa từ đó. Cần sử dụng giải nghĩa từ với nhiều biện

sửa “tận gốc” và theo một trình tự hợp lý đã nêu.
3. Giúp cho học sinh được luyện từ đọc đúng, đọc hiểu đến đọc diễn cảm bài tập
đọc. Ngoài phần đọc đồng thanh, đọc trong nhóm, đọc thầm mà tất cả học sinh được
tham gia thì số lần đọc trước lớp của học sinh được khá nhiều.
4. Cụ thể hóa các bước dạy ở quy trình luyện đọc giúp giáo viên chủ động nắm
vững quy trình, không bỏ sót các bước nhỏ. Phần luyện đọc ngắt giọng, nhấn giọng được
lồng vào mỗi đoạn (phần của bài) nhằm giúp học sinh có nhiều cơ hội được luyện đọc
đúng. Sự kết hợp tìm từ khó hiểu về nghĩa cũng được lồng trong phần này, vì khi nắm
vững về nghĩa sẽ giúp học sinh đọc tốt hơn trong mỗi đoạn.
5. Qua phần khai thác từ “chốt”, giáo viên giúp học sinh hiểu được nội dung bài, cảm
nhận được cái hay, cái đẹp qua bài văn thơ miêu tả, hay qua câu chuyện kể
6. Nhanh chóng xác định được “từ chìa khóa” để hiểu được văn bản, có thể không
cần hiểu nghĩa của tất cả các từ, mà chỉ cần xác định được từ quan trọng, “từ chìa khóa
(từ chốt)” để tìm hiểu nội dung của bài.
* Hiện nay, việc dạy môn tập đọc theo phương pháp mới vẫn còn rất mới mẻ, thời
gian để tích lũy kinh nghiệm còn ít, tôi xin phép được nêu lên vài kinh nghiệm nhỏ của
mình trong quá trình giảng dạy đã bước đầu mang lại những kết quả đáng khích lệ. Mong
rằng kinh nghiệm này được sự góp ý của Ban Chuyên môn và các bạn đồng nghiệp để tôi
có thể giảng dạy tốt hơn nữa trong thời gian tới.
D. KẾT LUẬN
Thông qua thực tế giảng dạy trên lớp hàng ngày tôi đi đến kết luận rằng: Muốn rèn
luyện cho học sinh đọc tốt thì vai trò của người thầy giáo đặc biệt quan trọng, bởi người
thầy giáo luôn là tấm gương sáng, mẫu mực trong cách đọc để học sinh bắt chước, Trong
mỗi giờ tập đọc, người thầy phải hướng dẫn cách đọc cho học sinh thật tỉ mỉ từng từ ngữ,
từng câu văn, từng đoạn văn, phải kiên trì uốn nắn, sửa chữa kịp thời tùy theo từng đối
tượng học sinh thật tận tình chu đáo.
Vì vậy mỗi giáo viên phải thực sự yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình, gương mẫu trong
phương pháp soạn giảng, luôn trau dồi nghiệp vụ, học hỏi kinh nghiệm của các bạn đồng
nghiệp để nâng cao chất lượng dạy và học ở các môn, đặc biệt là môn tập đọc ở tiểu học.
Để giúp đỡ các em học tốt thì đòi hỏi người giáo viên phải nhiệt tình, kiên trì, bên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status