BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
BỘ MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH BẮC NINH
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 - 14 - 01 - 14
HÀ NỘI - 2012
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài:
1. Cơ sở lý luận của đề tài:
Bước sang thế kỉ XXI với sự bùng nổ tri thức khoa học và công nghệ, kinh tế thế giới phát triển theo xu
hướng quốc tế hoá, toàn cầu hoá. Các nước trên thế giới đều nhận thức rõ vai trò to lớn của Giáo dục và Đào tạo
đối với sự phát triển của Kinh tế - Xã hội của quốc gia mình. Đó là những thách thức lớn và cũng là thời cơ
không nhỏ đối với mỗi quốc gia, dân tộc: Hoặc là yếu kém, tụt hậu hoặc vươn lên hội nhập với các nước trong
khu vực và thế giới. Nền kinh tế thế giới tiến tới một nền kinh tế tri thức.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam lại khẳng định rõ:“ Phát triển Giáo dục
và Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều
kiện phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và bền
vững”. Đại hội chủ trương “Tiếp tục nâng cao chất lượng toàn diện đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học,
hệ thống quản lý giáo dục. Thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá giáo dục” [21](Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng cộng sản Việt Nam).
Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá trong giáo dục và đào tạo đòi hỏi phải quản lý hoạt động dạy học
nói chung và dạy học môn Ngữ văn nói riêng, vốn là môn học cơ bản trong việc lĩnh hội tri thức của người học
sinh và là môn tham gia hầu hết các kỳ thi. Nội dung, hình thức kiểm tra, thi cử hiện nay đang là một khó khăn,
thách thức cho việc đổi mới phương pháp dạy học. Quá trình đổi mới phương pháp dạy học không loại bỏ các
hình thức kiểm tra, thi cử truyền thống, song cần phải đòi hỏi đổi mới theo hướng phát huy trí thông minh sáng
tạo của học sinh, khuyến khích học sinh vận dụng linh hoạt các đơn vị kiến thức, kỹ năng đã học vận dụng vào
các tình huống thực tế, giúp học sinh bộc lộ thái độ, cảm xúc trước những vấn đề đặt ra của đời sống cá nhân, gia
đình và cộng đồng. Việc đổi mới phương pháp dạy học là trách nhiệm trước mắt và lâu dài đối với hoạt động dạy
Với những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “ Biện pháp Quản lý dạy học bộ môn Ngữ
văn ở các trường THPT tỉnh Bắc Ninh”.
2. Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn trong trường THPT tỉnh Bắc Ninh
nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở bộ môn học.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
3.1 Khách thể nghiên cứu:Quá trình quản lý dạy học bộ môn ở các trường THPT.
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường THPT tỉnh
Bắc Ninh.
4. Giả thuyết khoa học:
Quản lý dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT tỉnh Bắc Ninh đã được quan tâm, chỉ đạo sát sao và có
hiệu quả. Tuy nhiên, do nhiều lý do khác nhau nên còn bộc lộ những bất cập, những hạn chế cần được tháo gỡ.
Nếu đề xuất và thực thi đồng bộ các biện pháp về tổ chức dạy học, đổi mới phương pháp và kiểm tra một cách
khoa học, hiệu quả thì quản lý dạy học môn Ngữ văn ở các trường THPT tỉnh Bắc Ninh sẽ đi vào nền nếp và
chất lượng dạy học môn học này sẽ được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong nền
kinh tế trí thức hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu:
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý dạy học bộ môn trong trường THPT.
5.2 Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở các trường THPT tỉnh Bắc Ninh.
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn đối với trường THPT tỉnh Bắc
Ninh.
6. Phương pháp nghiên cứu:
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
2
+ Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết:
+ Phương pháp phân tích và tổng hợp lý luận:
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
6.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Dành cho Giáo viên dạy Ngữ văn các trường THPT; Hiệu
trưởng các trường THPT.
6.2.2 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lý giáo dục:
Cơ sở khoa học quản lý, Tài liệu giảng dạy cao học QLGD, Khoa sư phạm, ĐH Quốc gia Hà Nội, 2004,
[8;9;13;1;2;3]
Nhiều công trình nghiên cứu về quản lý nhà trường nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng.
Như các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Lê, Hà Sỹ Hồ, Lê Tuấn,… Tác giả Hà
Sỹ Hồ và Lê Tuấn cho rằng: “ Trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo, việc quản lý dạy học là nhiệm vụ trung
tâm của nhà trường”[11].
Các công trình nghiên cứu khoa học trên với tầm vóc quy mô về giá trị lý luận và thực tiễn đã được ứng
dụng rộng rãi và mang lại những hiệu quả nhất định trong quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý dạy học
bộ môn. Song phần lớn các công trình khoa học đó chủ yếu đi sâu nghiên cứu lý luận có tính chất tổng quan về
quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, còn về các biện pháp cụ thể quản lý hoạt động dạy học các bộ môn khoa
học cơ bản, trong đó có bộ môn Ngữ văn chưa được đề cập nhiều. Vì vậy, nghiên cứu một cách khoa học, hệ
thống nhu cầu bức xúc của các nhà trường THPT là đổi mới nội dung, phương pháp dạy học và quản lý
GD&ĐT ở các cơ sở trường học đối với bộ môn Ngữ văn cũng như tất cả các bộ môn khoa học cơ bản khác là
một yêu cầu hết sức cần thiết.
1.1.2 Những nghiên cứu ngoài nước:
* Quản lý giáo dục ở Liên Xô.
* Quản lý giáo dục ở Anh.
* Quản lý giáo dục ở Trung Quốc.
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài:
1.2.1 Khoa học quản lý:
Khoa học quản lý là một lĩnh vực hoạt động của trí tuệ và thực tiễn phức tạp nhất của con người, nhằm
điều khiển lao động thúc đẩy xã hội phát triển trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
1.2.2 Khái niệm quản lý:
Quản lý là tác động, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người nhằm đạt tới mục tiêu đề ra. Sự tác động của quản lý bằng cách nào đó để người bị quản lý luôn tự giác,
phấn khởi đem hết năng lực, trí tuệ để sáng tạo ra lợi ích cho bản thân, cho tổ chức và cho toàn xã hội.
Theo Fredrich Wiliam Taglo (1856-1915) người Mỹ: “ Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái
gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”[5;92].
- Theo tác giả Nguyễn Văn Lê - Học viện chính trị Quốc gia quan niệm: “ Quản lý một số cơ sở sản xuất
kinh doanh với tư cách là một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ
Hành
động xử
lý
Chưa đạt
Có đạt
Không
Đạt
Sơ đồ 1.2.4 :Các chức năng và thông tin trong quản lý :
1. 3 Vị trí, vai trò của môn Ngữ văn trong chương trình THPT.
- Ngữ văn và đặc điểm của môn học này trong trường phổ thông.
Theo “ Từ điển Tiếng Việt thông dụng”[18]: "Ngữ văn là môn khoa học nghệ thuật được xây dựng bằng
hình tượng, ngôn từ và trí tưởng tượng của bạn đọc. Giúp học sinh thấy được cái hay, cái đẹp, cái chân, thiện,
mĩ và biết được những cái xấu, cái ác của cuộc sống. Hình thành những phẩm chất nhân văn ở con người".
- Vai trò, vị trí của môn Ngữ văn trong chương trình THPT:
Ngữ văn là một bộ môn có vị trí quan trọng trong chương trình Giáo dục nói chung và trong trường
THPT nói riêng, đó là một trong hai môn chính phải thi tốt nghiệp và tính điểm hệ số nhân đôi đối với các khối
học ban cơ bản. Chính vì vậy nó có vai trò quan trọng quyết định tới kết quả của học sinh. Ngữ văn là môn học
công cụ khoa học, nghệ thuật. Môn học được xây dựng bằng trí tưởng tượng phong phú, những hình tượng nghệ
thuật đặc sắc, ngôn từ giàu hình ảnh, cảm xúc. Ngữ văn là môn học có tính nhân văn, nhân ái, cung cấp cho
người học những kiến thức về văn học, lịch sử và kiến thức của xã hội và kỹ năng làm văn cùng với những kỹ
năng giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống, là hạt nhân cho các môn học khác trong nhà trường phổ thông. Vì vậy,
Ngữ văn là một thành phần không thể thiếu của nền văn hóa phổ thông trong thời kỳ đổi mới.
Môn Ngữ văn không chỉ cung cấp kiến thức khoa học thuần túy như những môn học khác mà còn góp
phần định hướng, hình thành nhân cách cho học sinh. Học Văn giúp học sinh biết yêu cái đẹp, mến cái tốt, ghét
cái xấu, cái ác. Giúp người học hiểu và thêm trân trọng những giá trị của cuộc đời ban tặng cho con người. Môn
Ngữ văn đã “ đánh thức tiềm lực” còn đang ngủ yên, đang lạc lối của học trò trong thời kỳ đổi mới của đất nước.
1.4 Quản lý dạy học bộ môn và quản lý dạy học bộ môn Ngữ văn trường THPT.
7
Thông tin
Lập kế hoạch
* Lãnh đạo tổ chức thực hiện Kế hoạch:
* Kiểm tra:
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến dạy học Ngữ văn ở trường THPT.
1.5.1. Chuẩn kỹ năng kiến thức:
1.5.2. Chuẩn kỹ năng, kiến thức môn Ngữ văn THPT:
Ở nước ta hiện nay, nội dung dạy học môn Ngữ văn ở các trường THPT đã được thực hiện thống nhất.
Tài liệu dạy học môn học này được thực hiện theo chương trình khung phân phối chương trình do Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành. Tài liệu môn Ngữ văn do hai nhóm tác giả biên soạn:
8
Tài liệu Cơ bản: Do Phan Trọng Luận (Tổng chủ biên); Trần Đăng Suyền (Chủ biên phần Văn), Bùi
Minh Toán (Chủ biên phần Tiếng Việt), Lê A (Chủ biên phần Làm văn), Lê Nguyễn Cẩn, Đặng Anh Đào,
Nguyễn Thị Ngân Hoa, Nguyễn Thái Hòa, Đỗ Kim Hồi, Nguyễn Xuân Nam, Đoàn Đức Phương, Nguyễn
Phượng, Vũ Dương Quỹ [14;15;16].
Tài liệu Nâng cao: Do Trần Đình Sử (Tổng chủ biên); Hồng Dân, Nguyễn Đăng Mạnh, Đỗ Ngọc Thống
(đồng chủ biên); Lê Huy Bắc, Nguyễn Thị Bình, Hoàng Dũng, Hà Thị Hòa, Lê Quang Hưng, Nguyễn Văn Long
[19;20;21].
1.5.3. Về đội ngũ giáo viên:
Có thể nói trong trường THPT và các cơ sở giáo dục khác trong hệ thống giáo dục quốc dân, đội ngũ
giáo viên là lực lượng chủ lực, nòng cốt để cụ thể hóa mục tiêu đặt ra. Có người quản lý giỏi, bản kế hoạch tốt
mà người thực hiện là giáo viên lại không cập trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thiếu phẩm chất đạo đức thì hiệu
quả giáo dục không cao, mục tiêu giáo dục không được hoàn thành.
1.5.4. Học sinh.
Học tập là hoạt động nhận thức, chỉ khi có nhu cầu hiểu biết học sinh mới tích cực học tập. Nhu cầu hiểu
biết đó chính là động cơ nhận thức mà hoạt động học tập phải tạo ra cho học sinh. Do công tác tuyển sinh đầu
vào của học sinh THPT Bắc Ninh căn cứ vào yêu cầu thực tế của từng khu vực nên trình độ nhận thức của học
sinh giữa thành phố, thị xã và vùng nông thôn có sự vênh lệch khá cao và không đồng đều. Bởi vậy, để hoạt
động học tập của học sinh đạt kết quả cao thì cần làm tốt những nội dung sau.
- Giáo dục học sinh có động cơ, tinh thần học tập đúng đắn.
- Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong hoạt động giáo dục.
- Hình thành nền nếp, kỷ cương học tập cho học sinh.
2.1 Một số đặc điểm địa lý, dân cư, kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh.
Điều kiện tự nhiên thuận lợi, đất đai phì nhiêu mầu mỡ, từ xa xưa cư dân của vùng đất Bắc Ninh – Kinh
Bắc đã có một nền sản xuất nông nghiệp rất phát triển, đặc biệt là nghề trồng lúa nước. Trong thời kỳ Phong
kiến, mảnh đất Bắc Ninh là vựa lúa của vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng. Chính trên cơ sở nền sản xuất
nông nghiệp ổn định và phát triển đã tạo điều kiện kinh tế thủ công nghiệp và thương nghiệp hưng thịnh. .
Bắc Ninh còn là cái nôi của Phật giáo, Nho giáo, mảnh đất của những huyền thoại, chùa chiền, của
những lễ hội và sinh hoạt văn hóa dân gian: Luy Lâu, Kiến Sơ, Cổ Pháp, Phật Tích,…Bắc Ninh, nơi khởi nguồn
của nhiều làng tranh dân gian làm nức lòng người không chỉ trong nước mà còn dành nhiều tình cảm của bạn bè
quốc tế: Tranh Đông Hồ, Giấy Dó Phong Khê,…làng hát ca trù, làng rối nước, …và là quê hương của 49 làng
quan họ cổ, đây cũng là mảnh đất đầu tiên trong cả nước tiếp nhận Hán tự và tư tưởng Nho giáo. Phải chăng đây
là những điều kiện để việc học hành, thi cử ở Bắc Ninh thêm thuận lợi? Nói như nhà sử học Phan Huy Chú thì “
Mạch đất tốt tụ vào đấy nên càng nhiều chỗ có dấu tích đẹp; tinh hoa hợp vào đấy, nên sinh ra nhiều danh thần.
Vì là hồn khí trọng ở phương Bắc phát ra nên khác với mọi nơi”. Vì vậy, người bao đời nay truyền tụng và ca
ngợi là quê hương của “ Một giỏ sinh đồ, một bồ ông cố, một đống trạng nguyên, một thuyền bảng nhãn”[7 ;19].
2.2 Khái quát hệ thống giáo dục và đào tạo tỉnh Bắc Ninh:
10
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế - xã hội, cơ sở vật chất các trường THPT trên địa bàn tỉnh
nhà cũng từng bước được Nhà nước và nhân dân chăm lo xây dựng. Hệ thống các trường THPT cũng được kiên
cố hóa hai, ba thậm chí 5 tầng. Đến nay đa phần các trường THPT đã trang bị được các phòng bộ môn: Toán,
Vật lý, Hóa học,…và thư viện điện tử.
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên không ngừng được nâng lên trong các cấp học:
Từ Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông. Đội ngũ giáo viên các cấp học gần như đã đạt
chuẩn và được đào tạo chính quy theo quy chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, không còn tình trạng giáo viên
phải dạy “ chéo ban” như những năm học trước đó. Trong hệ thống các trường THPT Bắc Ninh, các trường
THPT lớn như: Hàn Thuyên, Lý Thái Tổ, Yên Phong 1, Thuận Thành 1, Quế Võ 1, Lương Tài 1, Tiên Du 1,
Nguyễn Đăng Đạo và Gia Bình 1 đã có tỷ lệ giáo viên khá cao phấn đấu vượt trên chuẩn mà Bộ Giáo dục và Đào
tạo quy định. Năm học 2011-2012 đã có trường có 15 thạc sỹ và 20 người đang theo học Thạc sỹ.
Chất lượng đào tạo đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao. Kết quả thi tốt nghiệp THPT những năm
gần đây Bắc Ninh đều đạt trên 99%. Bắc Ninh vẫn duy trì và giữ vững tốp những tỉnh dẫn đầu toàn quốc về tỷ lệ
học sinh THPT thi đỗ vào các trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước: Năm 2009 đứng thứ 6, năm 2010 đứng
17 Lương Tài 1 16 45 12 4 0 6 6 4 0 0
18 Lương Tài 2 12 30 9 3 0 3 6 3 0 0
19 Gia Bình 1 15 43 12 3 0 6 6 3 0 0
20 Lê Văn Thịnh 16 42 14 2 0 6 6 4 0 0
Cộng 285 735 195 90 0 113 103 65 1 3
(Nguồn cung cấp: Phòng TCCB, Sở GD&ĐT Bắc Ninh)
Nhận xét:
- Số lượng giáo viên trên đầu lớp so với quy định của Bộ Giáo dục và đào tạo là không thiếu, thậm chí ở
một số đơn vị còn dư: Hàn Thuyên, Yên Phong 1, Lý Thái Tổ, Nguyễn Đăng Đạo,…Ở một số đơn vị xa trung
tâm, tỉnh, huyện lỵ số giáo viên Ngữ văn trên lớp vẫn còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng.
2.3 Đánh giá thực trạng dạy học và công tác quản lý dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT tỉnh Bắc
Ninh:
2.3.1. Thực trạng dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT:
Thực trạng hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của giáo viên.
Hiện nay tỷ lệ giáo viên văn trên lớp là đảm bảo, thậm chí có những trường tỷ lệ này dư thừa. Tuy nhiên
trong những năm qua việc phát triển đội ngũ giáo viên Văn chưa có định hướng rõ rệt. Kế hoạch tập huấn của Sở
GD&ĐT, BỘ GD&ĐT còn ít. Việc đổi mới phương pháp dạy học ở bộ môn này còn rất chậm. Trình độ của giáo
viên đã từng bước được cải thiện và nâng cao nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của thời đại, xã hội. Từ
đó ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giảng dạy môn học này ở trường THPT.
Bảng 2.3.1: Khảo sát thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên.
Đánh giá mức độ thực hiện
Thường
xuyên
Đôi khi Không bao
giờ
1 Chuẩn bị bài soạn kỹ trước khi lên lớp 87 11 2
2 Cập nhật mở rộng bài giảng với hệ thống kiến
thức mới.
20 75 5
12
(%)
GV HS GV HS GV HS
I Các phương pháp dạy học
13
1 Thuyết trình, vấn đáp 95 76 5 24 0 0
2 Thảo luận nhóm 45 25 55 65 0 10
3 Đóng vai theo tình huống 10 5 50 79 40 16
II Các phương tiện dạy học
1 Bảng phấn 85 80 15 20 0 0
2 Thiết bị công nghệ thông tin 75 70 25 28 0 2
3 Phương tiện đa dạng 5 2 50 72 45 26
Nhận xét: Các phương tiện dạy học, phương pháp giảng dạy vẫn mang tính truyền thống, hàn lâm kinh
viện, chủ yếu là bảng và hình thức thuyết trình, vấn đáp (những hình thức đã ra đời và được sử dụng hang nghìn
năm của lịch sử giáo dục). Theo kết quả thì có tới 95% giáo viên và 76% học sinh đưa ra ý kiến về vấn đề này.
Chỉ có một lượng ít ỏi giáo viên cho rằng họ có sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm, rất ít giáo viên lôi
cuốn được học sinh tham gia. Điều đó có nghĩa trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng khiếu sư phạm của người
dạy cần phải xem lại. Chính vì vậy giờ học văn nhàm chán, thiếu cảm xúc nảy sinh thái độ học đối phó từ phía
học sinh.
2.3.2. Thực trạng quản lý dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT:
Kết quả khảo sát được thống kê với những biểu mẫu và những số liệu được đưa ra dưới đây.
Thực trạng quản lý phân công giảng dạy cho giáo viên:
Bảng 2.3.3 : Bảng đánh giá về sự phân công và cách thức phân công giảng dạy:
Nội dung
biện pháp
Đánh giá của Hiệu
trưởng (%)
Đánh giá của Giáo viên
Phù hợp (%) Chưa phù hợp (%)
1. Căn cứ phân công:
- Năng lực chuyên môn.
Qua thực tiễn, qua phiếu thăm dò của nhóm khách thể về cơ bản nhất trí nội dung quản lý của Hiệu
trưởng đối với việc soạn bài, chuẩn bị giờ lên lớp, tập trung vào các vấn đề sau:
- Thứ nhất: Bồi dưỡng giáo viên về phương pháp, cách soạn bài, chuẩn bị đồ dùng cho giờ dạy trên lớp.
- Thứ hai: Quy định cụ thể về việc soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên. Ở một số đơn vị Hiệu
trưởng quy định việc soạn bài lên lớp của giáo viên tổ Văn bắt buộc phải soạn viết tay.
- Thứ ba: Có kế hoạch kiểm tra bài soạn và khâu chuẩn bị lên lớp của giáo viên.
- Thứ tư: Tổ chức thực hiện cách thức kiểm tra việc soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên (bằng
nhiều cách khác nhau).
- Thứ năm: Tổ chức hội thảo để bồi dưỡng giáo viên về cải tiến phương pháp giảng dạy và sử dụng đồ
dùng dạy học.
Bảng 2.3.4: Thực trạng các biện pháp quản lý việc giáo viên soạn bài chuẩn bị giờ lên lớp.
TT Nội dung, biện pháp quản lý của Hiệu
trưởng
Mức độ thực hiện
Hiệu trưởng Giáo viên
Tốt (%) Chưa tốt (%) Tốt
(%)
Chưa tốt
(%)
1
Bồi dưỡng giáo viên về phương pháp,
cách thức soạn bài, chuẩn bài lên lớp. 70 30 50 50
2
Quy định cụ thể việc soạn bài, chuẩn bị
bài cho giờ lên lớp. 95 5 95 5
3
Có kế hoạch kiểm tra việc soạn bài và
chuẩn bị lên lớp của giáo viên. 90 10 85 15
4
Tổ chức thực hiện kiểm tra việc soạn bài
2
Biện pháp tổ chức theo
dõi, kiểm tra thực hiện
giờ dạy trên lớp.
95 5 0 50 40 10
3
Biện pháp giúp giáo viên
xây dựng kế hoạch giảng
dạy.
85 15 0 60 40 0
4
Xây dựng TKB hợp lý,
khoa học, đảm bảo tính
sư phạm.
100 0 0 50 35 15
5
Tổ chức cho GV học tập
đánh giá, xếp loại giờ
lên lớp.
75 25 0 85 15 0
6
Các hình thức tổ chức dự
giờ thăm lớp, đánh giá
xếp loại giờ dạy.
95 5 0 40 45 5
7
Biện pháp quản lý việc
dạy bù, dạy thay của
giáo viên.
90 10 0 50 35 15
kế hoạch đó. 55 45 0 50 50 0
16
4
Có biện pháp tổ chức quản lý
sổ báo giảng, sổ đầu bài đối
khớp với vở ghi của học sinh.
70 30 0 90 10 0
5
Chỉ đạo tổ trưởng theo dõi
tiến độ thực hiện chương
trình.
85 15 0 90 10 0
6
Tổng hợp đánh giá thực hiện
chương trình giảng dạy từng
tháng, thực hiện uốn nắn,
điều chỉnh kịp thời.
60 40 0 65 35 0
Từ kết quả bảng 2.3.6 cho thấy:
- Ở nội dung 1: Quán triệt cho giáo viên nắm vững chương trình giảng dạy của bộ môn học do Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành là văn bản Pháp quy của Nhà nước có tính pháp lệnh phải thực hiện nghiêm túc, không
tuỳ tiện cắt xén, thêm bớt, đảo lộn chương trình. Ý kiến đánh giá của Hiệu trưởng tương đối trùng ý kiến của
giáo viên. Các đồng chí đã quán triệt đến từng giáo viên hiểu rõ những yêu cầu này.
- Trong nội dung số 2 và số 3: Ý kiến tự đánh giá của các Hiệu trưởng, của giáo viên có những tương
đồng với nhau là sự chỉ đạo của Hiệu trưởng mới dừng ở mức độ đạt yêu cầu. Chỉ có hơn nửa số Hiệu trưởng
(55-60%) làm tương đối tốt, vì việc tổ chức cho giáo viên nghiên cứu nắm vững chương trình giảng dạy của bộ
môn toàn cấp, cũng như hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch giảng dạy phụ thuộc vào tay nghề của Hiệu
trưởng, Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn, tổ trưởng.
- Ở nội dung 4: Các Hiệu tưởng có biện pháp tổ chức quản lý sổ báo giảng, sổ ghi đầu bài và thường
xuyên hàng tuần, hàng tháng, hàng kỳ đối khớp với vở ghi bài của học sinh trên lớp.
17
chính. 0 20 80 0 25 75
3. Tổ chức sinh động hấp
dẫn các buổi ngoại khoá. 60 40 0 25 25 50
Kết quả nghiên cứu bảng 2.3.7 cho ta thấy:
Chỉ có 25% số Hiệu trưởng được thăm dò ý kiến có kế hoạch ngoại khoá cho nhà trường, còn 75% Hiệu
trưởng chưa quan tâm đúng mức. Do việc nhận thức còn hạn chế nên việc đầu tư cơ sở vật chất, tài chính hoạt
động còn rất ít, thậm chí ở một số trường dừng lại ở con số không. Và tất nhiên, kết quả học tập ngoại khoá là vô
cùng thấp.
Thực trạng quản lý công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh THPT.
Bảng 2.3.8: Kết quả khảo sát thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn
của học sinh THPT.
TT Nội dung khảo sát
Mức độ thực hiện (%)
Rất tốt Tốt Trung bình Chưa tốt
Số ý
kiến %
Số ý
kiến %
Số ý
kiến %
Số ý
kiến %
1 Chỉ đạo lập kế hoạch thi,
kiểm tra. 10 50 8 40 2 10 0 0
2
Chỉ đạo việc ra đề thi
được thực hiện đúng quy
chế, nghiêm túc.
5 25 14 70 1 5 0 0
học tập của học sinh cũng như khắc phục những lệch lạc trong Giáo dục và Đào tạo hiện nay như: Nhồi nhét quá
tải, học tập thụ động, học lệch, học tủ, dạy thêm tràn lan, tôi mạnh dạn đưa ra những giải pháp quản lý nhằm
tăng cường hoạt động dạy học môn Ngữ văn THPT góp phần bé nhỏ của mình vào sự nghiệp Giáo dục và Đào
tạo của tỉnh nhà.
Chương 3
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
BỘ MÔN NGỮ VĂN Ở CÁC TRƯỜNG THPT TỈNH BẮC NINH
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp:
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống.
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ.
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn.
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả.
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Ngữ văn ở trường THPT tỉnh Bắc Ninh
3.2.1. Tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức cho giáo viên và học sinh về vai trò và tầm quan trọng
của môn Ngữ văn trong trường THPT.
3.2.2 Tăng cường quản lý hoạt động giảng dạy môn Ngữ văn của giáo viên.
dạy sao cho đạt hiệu quả cao nhất ở mỗi lớp mà mình trực tiếp giảng dạy.
3.2.3 Đổi mới quản lý hoạt động học môn Ngữ văn của học sinh.
3.2.4 Tổ chức bồi dưỡng năng lực chuyên môn cho giáo viên.
3.2.5 Chỉ đạo đổi mới thực hiện hoạt động ngoại khóa theo quy định.
3.3 Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp quản lý và đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp:
3. 4. Khảo nghiệm về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất.
Bảng 3.3.2: Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy Ngữ văn ở trường THPT:
TT
Các biện pháp đề xuất
Tính khả thi (%) Tính cần thiết (%)
RKT KT KKT RCT CT KCT
1 Biện pháp giáo dục nâng cao nhận thức của giáo viên, học sinh về tầm quan trọng của
môn học Ngữ văn.
6 Biện pháp tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy và học môn Ngữ văn.
20
6.1 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động
dạy học môn Ngữ văn
90 10 0 80 15 0
6.2 Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động
học môn Ngữ văn
80 10 10 85 15 0
* Ghi chú:
- Mức độ khả thi: - Mức độ cần thiết:
+ Rất khả thi: RKT. + Rất cần thiết: RCT.
+ Khả thi: KT. + Cần thiết: CT.
+ Không khả thi: KKT. + Không cần thiết: KCT.
Đánh giá kết quả khảo nghiệm
Qua bảng số liệu thống kê trên cho ta thấy:
* Về mức độ khả thi của các biện pháp:
Các biện pháp quản lý mà tác giả luận văn đề cập tới trong đề tài được đánh giá phần lớn ở mức độ khả
thi và rất khả thi, tỷ lệ được hỏi ý kiến đánh giá ở mức độ này khá cao, từ 65% trở lên. Các biện pháp quản lý
được đánh giá cao nhất là biện pháp, 2 và biện pháp số số 6. Các biện pháp còn lại đều được đánh giá ở mức
khá.
*Về mức độ cần thiết của các biện pháp
Mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý đề xuất là tương đối cao. Tất cả các biện pháp đều được
đánh giá là rất cần thiết và cần thiết với tỷ lệ trên 90%, trừ biện pháp “ đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học”
đạt 80%. Cũng từ kết quả bảng trên cho thấy nhìn chung các biện pháp có mức độ cần thiết cao cũng có mức độ
khả thi tương đối cao.
Như vậy, trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu trước đó, đồng thời xuất phát từ thực tiễn quản lý, các biện
pháp mà tác giả đề xuất trong luận văn này sẽ có tác dụng tích cực, thiết thực đối với việc nâng cao chất lượng
giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng Giáo dục và Đào tạo nói chung và chất lượng dạy học môn Ngữ văn ở
tỉnh Bắc Ninh nói riêng.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
mặt, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục.
1.4 Những kết quả nghiên cứu của Luận văn càng khẳng định một trong các biện pháp quản lý hoạt động
dạy học môn Văn là cách dạy học sinh Cách viết văn mà vấn đề then chốt là cách dạy học sinh cách tự học môn
học này.Đa số giáo viên khẳng định đây là một biện pháp quan trọng nhằm biến quá trình đào tạo thành quá trình
tự đào tạo.
Các biện pháp dạy học theo hướng kích thích tích cực tự học của học sinh cũng như được đại đa số giáo
viên cho là có tính khả thi. Các biện pháp đó đưa ra nhằm tác động đến quá trình nhận thức của người đứng lớp
và học sinh, khắc phục những nhận thức chưa sâu sắc, chưa đầy đủ trong vấn đề tự học của học sinh THPT.
Theo sự đánh giá của các giáo viên, các cán bộ quản lý thì các biện pháp này đều có thể thành hiện thực phổ
22
biến bởi chúng chủ yếu nhằm phát huy nội lực chủ quan của cán bộ quản lý, của giáo viên bộ môn Văn. Các biện
pháp này luôn cần được các nhà trường THPT quan tâm.
2. Khuyến nghị:
2.1 Khuyến nghị đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo:
- Chỉnh đốn việc biên soạn, xuất bản và sử dụng sách giáo khoa. Từ nhiều năm nay sách giáo khoa
Ngữ văn THPT chậm được cải tiến về chất lượng nội dung, hình thức trình bày, mà giá vẫn cao đối với phần lớn
gia đình có con em đi học, lại được sử dụng rất lãng phí (hàng năm in sách mới). Nên học tập kinh nghiệm các
nước về cả tổ chức, phương pháp và kỹ thuật, đổi mới quan niệm về biên soạn sách giáo khoa theo những quan
điểm giáo dục hiện đại, đổi mới quan niệm về xuất bản, sử dụng sách giáo khoa, tiến đến sách giáo khoa không
chỉ bảo đảm về chất lượng, nội dung, mà còn phải bền, chắc, hấp dẫn, hợp với lứa tuổi và ổn định trong
nhiều năm để có thể sử dụng sách cũ và chủ yếu cho học sinh thuê sách để học. Nhà nước không thu lãi trên
sách giáo khoa, không coi việc xuất bản sách giáo khoa là ngành kinh doanh, nhưng cần tạo ra cơ chế khuyến
khích các nhà giáo dục, nhà khoa học tích cực tham gia vào công tác biên soạn.
- Cải cách thi cử và đánh giá cho phù hợp với nội dung chương trình, mục tiêu giáo dục môn học của
từng cấp học, bậc học sao cho người dạy và cả người học hướng vào cách dạy và học phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo, rèn luyện tư duy khoa học. Cần tổ chức kiểm tra, đánh giá, thi như thế nào để đạt hiệu quả thực
chất, nghiêm túc và tránh áp lực nặng nề không cần thiết, lại tốn kém và có hại đối với tâm lý học sinh.
- Thời gian phân phối chương trình như Bộ GD&ĐT ban hành hiện nay chỉ dành cho việc lên lớp thực
hiện bài giảng, các phần, các tiết khá chi tiết và cụ thể. Đề nghị dành thêm quỹ thời gian cho giáo viên làm việc,
trao đổi với học sinh về những phương pháp học tập.
- Người học cần dành một lượng thời gian nhất định cho việc tìm hiểu, tự học môn học.
- Phụ huynh và học sinh cần tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, quản lý việc học để hoàn thiện
nhân cách và xây dựng, hoàn thiện lâu đài tri thức tạo chìa khóa, thẻ căn cước để bước vào thế giới tương lai.
24