ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THANH VÂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 60 22 90
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH TÔN GIÁO
Hà Nội - 2013
Công trình đợc hoàn thành tại: Trờng Đại học Khoa học
Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội
Ngời hớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thanh Xuân
Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Hồng Dơng
Phản biện 2: PGS.TS Hoàng Minh Đô
Luận văn đợc bảo vệ trớc Hội đồng chấm luận thạc sĩ họp tại:
Trờng Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà
Nội vào hồi giờ ngày tháng năm 2013.
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm th viện Đại học Quốc gia Hà Nội
- Trung tâm th viện Trờng Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Bên cạnh
những tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, các tín ngưỡng dân
gian… còn xuất hiện nhiều loại hình tôn giáo mới, các “đạo lạ”. Những
năm gần đây, hoạt động của các tín đồ, tổ chức tôn giáo diễn ra hết sức
phong phú, đa dạng và phức tạp. Điều này tạo nên những khó khăn nhất
định trong công tác quản lý tôn giáo cũng như giữ gìn an ninh, trật tự
xã hội tại các địa phương.
hữu ích góp phần hoàn thiện các quy định, điều luật liên quan tới hoạt
động tôn giáo.
Chính vì tính thời sự của tình hình tôn giáo ở Việt Nam và vai
trò quan trọng không thể thiếu của hoạt động quản lý nhà nước đối với
tôn giáo nên học viên đã chọn đề tài: “Thực trạng và giải pháp góp
phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn
giáo ở Việt Nam hiện nay”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tôn giáo và vấn đề công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt
động tôn giáo là đề tài được các nhà khoa học hết sức quan tâm nghiên
cứu. Điển hình như các công trình và các tác giả như: Bùi Đức Luận
với công trình Quản lý hoạt động tôn giáo cơ sở lý luận và thực tiễn
2
(2005), NXB Tôn giáo, HN; Ban Tôn giáo Chính phủ với Tôn giáo với
Công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo (2008),
NXB Tôn giáo, HN; Hoàng Quốc Bảo với Quản lý xã hội về tôn giáo
(2010), NXB Chính trị - Hành chính, HN,…
Tuy nhiên, cho tới nay, chủ trương, chính sách và pháp luật
của Đảng, Nhà nước đã có nhiều thay đổi, thực tiễn hoạt động của các
tôn giáo vô cùng phức tạp và không còn thuần túy như trước. Vì vậy, để
có đường lối, chính sách quản lý hoạt động tôn giáo đúng đắn và cập
nhật phù hợp với tình hình thực tiễn cần tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn
thiện cơ sở lý luận để từ đó áp dụng một cách hiệu quả vào thực tiễn
quản lý tôn giáo nói riêng và quản lý xã hội nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các tôn giáo ở Việt Nam và
hoạt động quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo ở nước ta
hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu chính của đề tài là hoạt động quản lý tôn thời
kỳ đổi mới.
tính quyền lực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức
thực hiện pháp luật của cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ,
Ủy ban nhân dân các cấp).
1.1.2. Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
1.1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn
giáo là quá trình dùng quyền lực nhà nước của cơ quan nhà nước theo
quy định của pháp luật để tác động, điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình
mà tôn giáo và các hành vi hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn
giáo diễn ra phù hợp với pháp luật đạt được những mục tiêu cụ thể của
chủ thể quản lý.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước nước đối với các hoạt động
tôn giáo là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật
của các cơ quan trong hệ thống hành pháp để điều chỉnh mọi hành vi
hoạt động tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo đúng quy
định của pháp luật.
1.1.2.2. Phương pháp quản lý các hoạt động tôn giáo
5
Phương pháp quản lý là cách thức mà các cơ quan nhà nước sử
dụng để tác động vào đối tượng quản lý nhằm mục đích thực hiện mục
tiêu quản lý. Để thực hiện các mục tiêu trong quản lý nhà nước đối với
các hoạt động tôn giáo đã đề cập trên đây, có thể kể tới một số phương
pháp căn bản sau: phương pháp giáo dục, thuyết phục, phương pháp
hành chính, phương pháp tổ chức, phương pháp kinh tế, phương pháp
cưỡng chế.
1.1.2.3. Nội dung của hoạt động quản lý nhà nước đối với các hoạt
động tôn giáo
Néi dung qu¶n lý nhµ níc ®èi víi ho¹t ®éng t«n gi¸o gåm nhiÒu
lÜnh vùc cô thÓ nh sau: Về công nhận các pháp nhân tôn giáo; Về quá
trình xây dựng, sửa chữa nơi thờ tự; Về chương trình hoạt động thường
phán và loại bỏ.
1.2. Tình hình tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
1.2.1. Việt Nam là quốc gia có đời sống tôn giáo đa dạng, phong
phú
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, đa tín ngưỡng với sự hiện
diện của các tôn giáo lớn trên thế giới, tôn giáo nội sinh, tín ngưỡng
bản địa và các hình thức tôn giáo mới. Cho tới nay ở Việt Nam đã có 37
7
tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận của các 13 tôn giáo khác
nhau. Các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam thu hút sự quan
tâm của đông đảo người dân Việt. Theo ước tính, năm 2012 ở Việt
Nam có khoảng 80% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó
có khoảng trên 20 triệu tín đồ, chiếm khoảng 25% dân số
1.2.2. Các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng gắn bó, đồng hành cùng
dân tộc
Sự đồng hành cùng dân tộc của các tôn giáo được thể hiện trong
nhiều nội dung, nhiều lĩnh vực trong đó có hai nội dung nổi bật: Một là,
giáo hội các tôn giáo xác quyết đường hướng hành động gắn bó với dân
tộc, vì mục tiêu chung của quốc gia nhằm xây dựng đất nước Việt Nam
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh. Hai là, văn
hóa tôn giáo ngày càng hội nhập mạnh mẽ với văn hóa dân tộc, góp
phần vào việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
1.2.3. Các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được củng cố, phát
triển
Được sự tạo điều kiện của Nhà nước, các tổ chức tôn giáo ngày
càng hoàn thiện được thể hiện rõ nét trên hai phương diện: bộ máy hành
chính đạo và tổ chức nhân sự.
Ở Việt Nam, đội ngũ chức sắc, nhà tu hành, chức việc là không
chỉ giữ vai trò quan trọng trong việc chăn dắt phần hồn của các tín đồ
mà còn là lực lượng quan trọng liên kết giữa giáo hội với nhà nước và
động quốc tế của các tôn giáo là một công tác phức tạp, đã, đang được
Đảng và Nhà nước ta quan tâm và hàng đầu.
Những đặc điểm tình hình tôn giáo Việt Nam như đã nói trên là
bức tranh toàn cảnh về tôn giáo ở Việt Nam. Đó chính là cơ sở thực tiễn
để Đảng và Nhà nước hoạch định chủ trương chính sách đối với tôn
giáo.
10
Chương 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
CÁC HOẠT ĐỘNG TÔN GIÁO HIỆN NAY Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng quản lý hoạt động tôn giáo hiện nay ở nước ta
2.1.1. Mục tiêu của công tác quản lý tôn giáo trong giai đoạn
hiện nay
2.1.2. Nhà nước quản lý các hoạt động tôn giáo thông qua hệ
thống pháp luật.
Giai đoạn từ 1945 đến 1954
Thành công của Cách mạng tháng Tám đã đưa lịch sử dân tộc
Việt Nam sang một trang sử mới, trang sử của độc lập dân tộc. Ngay
từ những ngày đầu mới thành lập nước, vấn đề tôn giáo đã được Đảng
và Nhà nước hết sức quan tâm. Những văn bản pháp luật về tín
ngưỡng, tôn giáo thời kỳ 1945 – 1954 đã khái quát những vấn đề cần
quan tâm, bức thiết trong công tác quản lý nhà nước đối với tôn giáo,
góp phần đặt những viên gạch nền móng đầu tiên cho việc hoạch định
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong các giai đoạn
về sau.
Giai đoạn từ 1954 đến 1975
So với giai đoạn 1945 - 1954, pháp luật về tôn giáo giai đoạn
1954 - 1975 đã được bổ sung và hoàn thiện đầy đủ hơn bổ sung nhiều
nội dung mới quy định về các hoạt động giáo dục, xuất bản, hoạt động
văn hóa – xã hội với việc bổ sung các quy định về quyền và nghĩa vụ
tôn giáo trong tình hình mới. Nghị quyết 24 đã định hướng quan điểm
chủ trương đổi mới về tôn giáo, trở thành nền tảng để Đảng Cộng sản
Việt Nam tiếp tục phát triển quan điểm về tự do tín ngưỡng, tôn giáo,
đáp ứng một cách thiết thực yêu cầu của thời đại mới. Tinh thần này
tiếp tục được thể hiện qua các văn bản: Cương lĩnh xây dựng đất nước
1991; Báo cáo chính trị của Đảng tại các kỳ Đại hội Đảng lần VII, VIII,
IX, X, XI; Chỉ thị 37 của Bộ Chính trị ngày 2/7/1998 Về công tác tôn
giáo trong tình hình mới; Nghị quyết 25-NQ/TW của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo,…
Xây dựng luật tôn giáo thời kỳ này là vấn đề được Đảng, Nhà
nước hết sức quan tâm thời kỳ này. Ngày 29/6/2004 Chủ tịch nước đã
ký lệnh công bố Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo. Để hướng dẫn thi
hành Pháp lệnh, Nghị định số 22/2005/NĐ-CP được ban hành.
Trên thực tế, qua 8 năm triển khai Pháp lệnh tín ngưỡng tôn
giáo (2004) và Nghị định 22/2005/NĐ-CP Hướng dẫn thi hành một số
điều của Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo (2005) đã nảy sinh một số tồn
tại, hạn chế khi một số nội dung quy định không khả thi, có nội dung
chưa phù hợp với thực tiễn hoặc tới nay không còn phù hợp, Do đó,
Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết và
biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo nhằm khắc phục
những bất cập trong Nghị định số 22/2005/NĐ-CP nhằm đảm bảo điều
13
kiện tốt nhất cho hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong
khuôn khổ quy định của pháp luật.
Ngoài các văn bản quy phạm trên, thời kỳ này còn có một số
văn bản quy định liên quan đến hoạt động tôn giáo như: Bộ luật Hình
sự (sửa đổi năm 2009), Bộ Luật Dân sự 2005, Luật Xây dựng (2003),
Luật Giáo dục (2005),…
Có thể nói pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng được
hoàn thiện hơn góp phần đảm bảo tối đa quyền tự do tín ngưỡng, tôn
tôn giáo
2.2.1. Thành tựu đạt được trong công tác quản lý hoạt động
tôn giáo thời gian vừa qua.
Thứ nhất, công tác quản lý tôn giáo của Đảng đã góp phần khắc
phục nhận thức lệch lạc, sai lầm, phiến diện về tôn giáo trong xã hội
hiện nay.
15
Thứ hai, thông qua các chính sách xã hội đã cải thiện đáng kể
đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào có đạo, từ đó gây dựng
được niềm tin của chức sắc và các tín đồ tôn giáo.
Thứ ba, cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo các cấp đã chủ
động tích cực hướng dẫn các tổ chức tôn giáo đăng ký chương trình
hoạt động tôn giáo hằng năm, các công việc liên quan tới hành chính
đạo nói chung,… theo đúng quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước đối với các hoạt động
tôn giáo trên các phương diện như: Công tác thanh tra, kiểm tra và giải
quyết đơn thư của các tổ chức, cá nhân tôn giáo, công nhận tư cách
pháp nhân cho các tôn giáo, quản lý xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự,
quản lý việc in ấn kinh sách và xuất bản các ấn phẩm liên quan đến tôn
giáo, quan hệ quốc tế của các tôn giáo, cũng đạt được những thành tự
đáng kể.
2.2.2. Một số hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác quản lý nhà
nước về tôn giáo còn không ít bất cập, hạn chế. Cụ thể là:
Về phía các tôn giáo: Hoạt động tôn giáo của một số tín đồ,
chức sắc một số nơi vi phạm quy định pháp luật như: tự ý sử dụng đất
đai, xây dựng, sửa chữa cơ sở thờ tự, tổ chức sinh hoạt tôn giáo, in ấn
kinh sách,… không có sự kiểm duyệt và không xin chính quyền địa
phương. Mâu thuẫn nội bộ trong từng tôn giáo và giữa các tôn giáo với
nhau về tranh giành đất đai, địa bàn truyền giáo,… vẫn xảy ra. Tại
Trong tương lai gần dự báo tình hình kinh tế, xã hội và tôn giáo
trên thế giới tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch
trong và ngoài nước đứng đầu là Mỹ sẽ không ngừng dùng mọi thủ
đoạn, phương thức để chống phá cách mạng nước ta.
2.3.2. Các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
2.3.2.1. Phát huy những kinh nghiệm đã có được trong quá
trình quản lý nhà nước đối với tôn giáo.
Để nâng cao hiệu quả quản lý xã hội nói chung, Nhà nước cần
coi trọng và thường xuyên tiến hành công tác tổng kết và rút ra các bài
học kinh nghiệm trong thực tiễn quản lý nhằm phát huy những thế
mạnh, cụ thể là: Cần tiếp tục nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và vận dụng linh hoạt trong
tình hình mới; khi giải quyết các vấn đề liên quan tới tôn giáo cần phải
có quan điểm tổng thể, toàn diện, khách quan trong nhìn nhận, giải
quyết đồng thời sử dụng sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị;
Phải hết sức xem trọng vai trò của chức sắc tôn giáo và dùng tôn giáo
để giải quyết các vấn đề tôn giáo. Muốn quản lý nhà nước đối với tôn
giáo, cần phải có đủ các điều kiện, các yếu tố chuyên muôn, phương
18
pháp, nghệ thuật quản lý; Phải đảm bảo sự mềm dẻo trong vận động và
tính pháp chế trong chính sách có liên quan đến tôn giáo.
2.3.2.2. Có chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vững
chắc ở vùng tôn giáo tập trung, qua đó góp phần tạo cơ sở cho công
tác quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
2.3.2.3. Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về tôn giáo
Hiện nay ở nước ta mới chỉ có Pháp lệnh về tín ngưỡng tôn
giáo ban hành năm 2004, gần đây có Nghị định 92/2012/NĐ-CP
Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng tôn
giáo. Các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo nằm
chuyên môn, nghệ thuật, phương pháp để không gây ra ức chế, phản
cảm, xóa thành kiến và quan trọng hơn là tranh thủ sự đồng tình, ủng
hộ của tín đồ, chức sắc các tôn giáo.
2.3.2.7. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, phát huy
dân chủ, giữ gìn kỷ cương, vì mục tiêu dân giàu nước mạnh
Để tăng cường khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết tôn giáo, Đảng
và Nhà nước ta cần tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, quyền
sinh hoạt tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận
lợi để đồng bào các tôn giáo và những người không theo tôn giáo tích
20
cực tham gia các tổ chức chính trị, xã hội để có cơ hội cống hiến sức
người, sức của vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh.
21
KẾT LUẬN
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, đồng thời cũng là một
thực thể xã hội tồn tại gắn liền với đời sống chính trị, kinh tế, văn
hóa. Ở Việt Nam hiện nay tồn tại hàng chục loại hình tôn giáo, tín
ngưỡng khác nhau chi phối đời sống tâm linh của đông đảo quần
chúng nhân dân. Ngày nay, các hoạt động tôn giáo diễn ra ngày một
phong phú, đa dạng và không kém phần phức tạp, dễ dàng trở thành
lĩnh vực để các đối tượng thù địch trong và ngoài nước lợi dụng vì
các mục đích phi tôn giáo, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình chính trị,
an ninh quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra sâu
rộng như hiện nay.
Trong thời gian qua, công tác quản lý tôn giáo ở Việt Nam đã đạt
được những kết quả quan trọng. Các quan điểm đổi mới của Đảng được
cụ thể hóa một cách rõ nét trong các văn bản quy phạm pháp luật của
Nhà nước như trong Nghị định 69/HĐBT (1991) về các hoạt động tôn
giáo, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004), Nghị định 92/2012/NĐ-
động quản lý xã hội không thể thiếu ở mỗi quốc gia trên thế giới, đặc
biệt ở những nước có sự đa dạng, phức tạp về tôn giáo, tín ngưỡng như
23