SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
" NGUYỄN KHẢI VÀ SỰ ĐỔI MỚI TRONG QUAN NIỆM NGHỆ
THUẬT VỀ CON NGƯỜI QUA TRUYỆN NGẮN MỘT NGƯỜI HÀ
NỘI"
1
PHẦN I: LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1. Lịch sử vấn đề.
Văn chương thuộc lĩnh vực sáng tạo độc đáo, là mảnh đất để nhà văn phát huy cá tính
sáng tạo của mình. Ở đó, nhà văn cung cấp cho người đọc cái nhìn độc đáo về thế
giới, cách phản ánh hiện thực mang tính thẩm mĩ, chứa đựng chiều sâu tư tưởng
nghệ thuật của nhà văn.
Truyện ngắn “Một người Hà Nội”- Nguyễn Khải được giảng dạy ở chương trình Ngữ
văn 12 nâng cao, hình ảnh con người Hà Nội, tư tưởng, cuộc sống Hà Nội được suy
cảm, trải nghiệm đầy sâu sắc của nhà văn. Ở các tài liệu hướng dẫn giảng dạy cũng
như các tài liệu tham khảo đều đưa ra cảm nhận chung về nhân vật bà Hiền đầy bản
lĩnh, mang vẻ đẹp, cốt cách của người Hà Nội, lối sống lịch lãm của văn hóa Hà Nội.
Cô Hiền luôn trân trọng và nâng niu, gìn giữ những giá trị truyền thống văn hóa Hà
Nội. Tuy nhiên phần lớn các tài liệu hướng dẫn giảng dạy và tham khảo ít chú trọng
một cách xác đáng đến sự đổi mới của Nguyễn Khải trong “cái nhìn nghệ thuật về
con người”, cũng như phương thức phản ánh thực tại.
Xét ở góc độ tiếp cận tác phẩm văn chương ở trường THPT, cái nhìn nghệ thuật về con
người và phương thức trần thuật giúp học sinh khám phá tác phẩm một cách có
chiều sâu. Ở đây, chúng tôi chỉ dừng lại bàn về cách tiếp cận quan niệm nghệ thuật
về con người qua “ Một người Hà Nội”- Nguyễn Khải.
2. Cái mới của đề tài.
2
Truyện ngắn thuộc thể loại tự sự của văn học, bao giờ cũng phản ánh con người qua hành
vi, sự kiện và được kể bởi một người nào đó.Vai trò của người kể chuyện hướng độc
giả đi từ chân trời của một người đên những đường biên của xúc cảm thẩm mĩ.
Cái khó của người dạy văn, đó là phải giúp học sinh nắm bắt được “ hiện thực linh hồn
mới thành văn chương đích thực. Nó khác với văn tỉnh lẻ". Nguyễn Khải đã có nhiều
truyện ngắn viết về cuộc sống và con người Hà Nội, được tập hợp trong hai tập truyện:
Một người Hà Nội (1990) và Hà Nội trong mắt tôi (1995). Viết về Hà Nội, với Nguyễn
Khải không phải chỉ là để trải tấm lòng mình với mảnh đất từng gắn bó, nhiều duyên nợ,
mà quan trọng hơn, bởi "Đất kinh kì" chứa đựng nhiều điều hấp dẫn, bí ẩn, nhất là trong
tầng sâu văn hoá, lối sống, các giá trị tinh thần của người Hà Nội luôn mời gọi và là một
mảnh đất cho ngòi bút ưa tìm tòi, triết lí của Nguyễn Khải thỏa sức khai phá. Truyện
ngắn Một người Hà Nội in lần đầu năm 1990 trong tập truyện cùng tên, có thể coi là tác
5
phẩm tiêu biểu cho mảng sáng tác về Hà Nội của Nguyễn Khải, và cũng là một trong
những tác phẩm tiêu biểu của tác giả trong thời kì đổi mới.
Trước và sau 1978, nhân vật của Nguyễn Khải đều là những con người thông minh, sắc
sảo, hay triết lí, thích đối thoại. Trước đổi mới, vấn đề mà nhà văn quan tâm thường
thuộc về đời sống cách mạng, tư tưởng chính trị, bởi thế những nhân vật của ông chủ yếu
được soi ngắm, thể hiện trên bình diện con người chính trị hơn là trong tư cách con người
cá nhân trong đời thường, con người của đời sống thế sự. Trong một thời gian dài
Nguyễn Khải cũng như phần lớn các cây bút thời ấy, đã tin và ra sức cổ vũ cho cái quan
niệm rằng: viết về cách mạng, về cái tiên tiến, viết về những con người mới, đó mới là
văn học mới, văn học cách mạng; còn viết về sinh hoạt đời thường, về những điều vụn
vặt của đời sống riêng tư là thứ văn học cũ. Nhiều người, trong đó có cả Nguyễn Khải,
còn tự huyễn hoặc mình với cái sứ mệnh của những nhà văn đặt nền móng cho một nền
văn học mới, nền văn học xã hội chủ nghĩa, vượt lên mọi nền văn học của quá khứ.
Những nhân vật lí tưởng của Nguyễn Khải hồi ấy, từ Môn (Xung đột), đến Nam (Hãy đi
xa hơn nữa), Biền (Tầm nhìn xa), Huân (Mùa lạc) đều rất hào hứng say sưa nói về niềm
tin vào lí tưởng, tương lai, tin ở sức mạnh vĩ đại của cách mạng. Sau này nhìn lại chặng
đường sáng tác ấy của mình và của nhiều người viết khác, Nguyễn Khải đã gọi đúng đó
là "cái thời lãng mạn". Vào thời kì đổi mới, Nguyễn Khải đã có những chuyển biến ngày
càng mạnh mẽ triệt để trong tư tưởng và nghệ thuật của mình. Ngòi bút của ông hướng
nhiều vào đời sống thế sự với sự chiêm nghiệm và triết lí về nhân sinh, tìm kiếm những
giá trị bền vững vĩnh hằng của con người và đời sống. Thế giới nhân vật của Nguyễn
không có ý định tạo dựng một hình tượng nhân vật toàn vẹn, với mọi mối quan hệ trong
đời sống riêng chung và mọi bình diện của cuộc sống con người. Cái mà tác giả quan tâm
và tập trung thể hiện ở nhân vật bà Hiền chính là vẻ đẹp của một lối sống, nhân cách
người Hà Nội, "một người Hà Nội của hôm nay, thuần túy Hà Nội, không pha trộn", như
chính lời của người kể chuyện nói về nhân vật bà Hiền. Trong lời nhận xét này, có hai
khía cạnh được nhấn mạnh ở tư cách người Hà Nội của nhân vật bà Hiền: "Thuần túy
không pha trộn" và "một người Hà Nội của hôm nay".
Truyện đưa ra nhiều chi tiết sự việc về nhân vật bà Hiền, nhưng tựu chung vẫn là ở hai
mối quan hệ chính (có liên quan với nhau). Trong gia đình và với xã hội, với cách mạng.
Trong tư cách là người mẹ, người chủ gia đình, hay một công dân, ở nhân vật bà Hiền
đều toát lên một vẻ đẹp của nhân cách, của lối sống văn hoá, của một bản lĩnh. Đó là con
người luôn giữ vững những quan niệm và cách sống của mình, không bị biến suy theo
những đổi thay của thời cuộc, lại tỉnh táo sáng suốt, không xu thời nhưng cũng không để
bị rơi vào tình thế của kẻ lạc thời. Hãy chú ý những xử sự của bà Hiền trong gia đình
trong việc dạy dỗ con cái. Cô Hiền sinh trưởng trong một gia đình gia giáo, giàu có, ông
bố đậu tú tài, mê văn thơ, dạy con cái theo khuôn phép nhà quan. Thời trẻ cô Hiền được
cha mẹ cho phép mở một xa lông văn chương, nơi gặp gỡ của nhiều văn nhân nghệ sĩ có
tiếng của đất Hà Thành. Như thế, cô thuộc thế hệ tân tiến trong lớp thanh niên thành thị
thời trước cách mạng. Nhưng việc cô lấy chồng mới thật là điều đặc biệt, thể hiện rõ sự
lựa chọn tỉnh táo và những quan niệm nghiêm túc của cô về hôn nhân và gia đình. "Gần
30 tuổi cô mới lấy chồng, không lấy một ông quan nào hết, cũng chả hứa hẹn gì với đám
nghệ sĩ văn nhân, đùa vui một thời son trẻ thế là đủ, bây giờ phải làm vợ làm mẹ, cô chọn
bạn trăm năm là một ông giáo cấp tiểu học hiền lành, chăm chỉ, khiến cả Hà Nội phải
8
kinh ngạc". Đến việc sinh con của cô cũng thể hiện ý thức trách nhiệm, sự tỉnh táo của
người làm cha, làm mẹ với tương lai của con. Ở cái thời mà đông con, nhiều cháu vẫn
được coi là có phúc lớn, thì cô Hiền lại quyết định ngừng việc sinh đẻ khi ở độ tuổi 40.
Không phải cô ngại vất vả, cũng không phải do thiếu thốn về kinh tế, mà vì như lời cô
nói với chồng: "Nếu ông và tôi sống đến sáu chục thì con út đã hai mươi, có thể tự lập
được, khỏi phải sống bám vào các anh chị". Là một người Hà Nội, bà Hiền có ý thức sâu
những khó khăn bỡ ngỡ, e ngại, nhất là những người thuộc tầng lớp trên. Chính trong
những năm tháng ấy càng bộc lộ rõ ở bà Hiền một sự tỉnh táo, thức thời mà không xu
thời. Bà đã từng tuyên bố: "Một đời tao chưa từng bị ai cám dỗ, kể cả chế độ". Không
nông nổi ấu trĩ hay cơ hội, cũng không đặt mình vào thế đối lập với xã hội mới, chế độ
mới, bà Hiền biết tìm ra cách thích ứng, nhưng đồng thời cũng sớm nhận ra những ấu trĩ,
lệch lạc, cực đoan của chính quyền cách mạng, của chế độ mới. Bà nhận xét ngay từ
những ngày đầu tiếp quản Thủ đô: "Vui hơi nhiều, nói cũng hơi nhiều, phải nghĩ đến
chuyện làm ăn chứ", rồi tiếp đó là: "Chính phủ can thiệp vào nhiều việc của dân quá, nào
phải tập thể dục mỗi sáng, phải sinh hoạt văn nghệ mỗi tối, vợ chồng phải sống ra sao,
trai gái yêu nhau như thế nào, thậm chí cả tiền công sá cho kẻ ăn người ở". Sự tỉnh táo
thức thời của bà Hiền thể hiện rõ ở nhiều việc : từ bán bớt một ngôi nhà để không bị quy
là tư sản nhà cửa, không để cho chồng mua máy in mở nhà in, đến việc chọn công việc
làm hoa giấy đủ để nuôi sống gia đình, tuy không giàu nhưng rất đủ ăn. Không chỉ có
10
vậy, nét đẹp trong lối sống của nhân vật này còn là ở chỗ, ngay trong hoàn cảnh rất khó
khăn, thiếu thốn ở miền Bắc thời bấy giờ, bà Hiền vẫn không bỏ một nếp sống quen
thuộc: hằng tháng vẫn tổ chức một bữa ăn gặp mặt các bạn bè từ xưa - những người từng
thành danh của Hà Nội một thời. Trong điều kiện phải thích nghi với cuộc sống giản đơn,
nghèo nàn thậm chí lam lũ của xã hội thời ấy, bà và những người bạn vẫn không quên và
vẫn muốn được sống những khoảnh khắc sang trọng, lịch sự, văn minh, xứng đáng với tư
cách và giá trị của họ, đó chính là biểu hiện của lòng tự trọng, của ý thức về giá trị nhân
cách, không thể để bị đánh mất mình trong hoàn cảnh thay đổi của thời cuộc.
Một nét đẹp khác trong nhân cách của bà Hiền lại là ở phương diện người công dân,
trong trách nhiệm với đất nước. Việc hai người con trai lần lượt xung phong đi bộ đội vào
Nam chiến đấu và thái độ, cách ứng xử của bà Hiền thể hiện rõ điều đó. Khi người con
trai đầu xung phong nhập ngũ, bà trả lời câu hỏi của nhân vật "tôi": "Tao đau đớn mà
bằng lòng, vì tao không muốn nó sống bám vào sự hi sinh của bạn bè. Nó dám đi cũng là
biết tự trọng". Ba năm sau, người anh ở chiến trường không có tin tức gì về, đứa em lại
xung phong đi bộ đội. Lần này, bà nói: "Tao không khuyến khích cũng không ngăn cản,
ngăn cản tức là bảo nó tìm đường sống để các bạn nó phải chết, cũng là một cách giết
dữ dội của xã hội, những đổi thay lịch sử chẳng khác nào như cơn bão lớn kia nhiều giá
trị vốn bền vững và quen thuộc của đời sống, đã bị lung lay bật gốc, tưởng như sắp tiêu
tan. Nhưng sự sống rất huyền nhiệm, những giá trị tốt đẹp đã được hình thành và xây đắp
12
từ bao đời sẽ được đặt lại đúng với vị trí của nó. Cũng như mọi thứ xô bồ, hỗn tạp của Hà
Nội hiện thời chỉ là những rác nổi trên bề mặt của đời sống, rồi đến lúc nó sẽ bị cuốn đi,
để một Thủ đô với 1000 năm văn hiến, với sự "thanh lịch của người Tràng An" sẽ trở lại.
2* Trong truyện Một người Hà Nội, ngoài nhân vật chính (bà Hiền), không thể không chú
ý đến nhân vật người kể chuyện. Chiếm tỉ lệ lớn trong các truyện ngắn của Nguyễn Khải
ở thời kì đổi mới là các truyện sử dụng phương thức trần thuật từ ngôi thứ nhất, một nhân
vật mang những nét dáng của chính tác giả - một nhà báo, nhà văn, một anh Khải, chú
Khải trong quan hệ họ hàng hay bạn bè với các nhân vật chính của truyện. Lần này trong
Một người Hà Nội, nhân vật kể chuyện xưng "tôi" là người cháu họ của bà Hiền, cũng
mang đôi nét của chính tác giả. Sử dụng cách trần thuật từ ngôi thứ nhất ngòi bút Nguyễn
Khải được tự do trong việc lựa chọn chi tiết, sự việc, không bị quá lệ thuộc vào xây dựng
cốt truyện, thêm nữa lại thoải mái xen vào những lời bình luận nhận xét của người kể
chuyện - vốn là một sở trường của ngòi bút Nguyễn Khải. Mặt khác, sử dụng cách trần
thuật ở ngôi thứ nhất giúp nhà văn tạo được một ngữ cảnh gần gũi với độc giả, gợi không
khí một cuộc trò chuyện trực tiếp, lại dễ làm cho người đọc tin vào những điều được kể,
bởi đó là câu chuyện mà người kể chuyện từng chứng kiến hay tham gia. Riêng trong
trường hợp Một người Hà Nội ngoài những lợi thế như đã nói trên, người kể chuyện ở
ngôi thứ nhất còn có một vai trò khác, làm phong phú hơn cho chủ đề và tư tưởng của
truyện. Người kể chuyện ở đây không chỉ kể về bà Hiền và gia đình bà, mà còn ở nhiều
chỗ kể về chính mình và gia đình mình như một sự đối sánh với nhân vật chính của
truyện. Yêu cầu nhận thức lại một thời kì cách mạng vừa qua, với tinh thần nhìn thẳng
vào sự thật và ý thức tự vấn, tự phê phán, là một xu hướng chung của nhiều cây bút, nhất
là trong văn xuôi, ở thời kì đầu đổi mới. Trong xu hướng đó, nổi lên những tác phẩm xuất
sắc, gây được nhiều tiếng vang như Thời xa vắng của Lê Lựu, Đám cưới không có giấy
13
giá thú của Ma Văn Kháng, Bến không chồng của Dương Hướng, Thân phận của tình
nhân vật trong truyện, mà còn bộc lộ cái nhìn, quan điểm của tác giả, đồng thời là cách để
nhà văn tự nhìn lại, tự vấn, nhận thức lại về mình và về xã hội của một thời đã qua. Qua
nhân vật người kể chuyện, ngòi bút Nguyễn Khải có được sự chủ động, tự do bộc lộ
mình, và tác phẩm của nhà văn cũng trở nên gần gũi hơn với người đọc trong tinh thần
dân chủ bình đẳng.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
Truyện ngắn Một người Hà Nội thể hiện rõ những biến đổi quan trọng trong tư tưởng và
nghệ thuật của Nguyễn Khải ở thời kì đổi mới. Từ sự quan tâm đến những vấn đề của đời
sống cách mạng, tư tưởng chính trị chuyển sang những vấn đề nhân sinh, thế sự, từ phong
cách chính luận với nhiệt tình khẳng định, ngợi ca lí tưởng chuyển sang triết luận với
nhiều trải nghiệm suy tư - ngòi bút Nguyễn Khải đã dần đến được với những giá trị bền
vững và đích thực của văn chương, nghệ thuật.
Tác phẩm văn học giàu tính đa nghĩa, vì vậy viêc định hướng cho học sinh cách tiếp cận
tác phẩm từ cái nhìn nghệ thuật của nhà văn là một trong những nguyên tắc cơ bản để
phát hiện chiều sâu giá trị của tác phẩm văn chương. Cách tiếp cận này, tránh cho học
sinh cách hiểu mang tính áp đặt và cơ học, đồng thời khơi gợi những xúc cảm thẩm mĩ,
đó là mong muốn mà chúng tôi hướng đến và thực hiện.
15