SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG, BỒI DƯỠNG ĐỘI
NGŨ GVCN Ở TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH”
PHẦN I- ĐẶT VẤN ĐỀ
1/ Lý do chọn đề tài
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là truyền thụ tri thức các bộ môn khoa học, hình
thành các chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở đó đó để rèn luyện kỹ năng theo mục tiêu
chương trình giáo dục. Công tác giáo dục vừa là một khoa học- khoa học giáo dục, vừa
là một nghệ thuật đòi hỏi nhà sư phạm phải thật linh hoạt, phải tuân theo các nguyên lý
giáo dục, cơ sở khoa học tâm lý và khoa học giáo dục. Cùng hướng tới hình thành và
hoàn thiện nhân cách HS có rất nhiều phương diện cùng tác động: đó là người thầy, là
mục tiêu nhiệm vụ của các nhà trường, là môi trường giáo dục, các lực lượng trong và
ngoài nhà trường, là nội dung chương trình sách giáo khoa, công tác kiểm tra thi cử
với một hệ thống các phương pháp và phương tiện tương ứng Trong các yếu tố tác
động, yếu tố người thầy đóng vai trò là nhân tố quyết định đến chất lượng nhân cách
HS.
Trong nhà trường, nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục là hoạt động cơ bản. Hai nhiệm
vụ này có những đặc điểm với nội dung và cách thức tác động riêng nhưng giữa chúng
có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại, hỗ trợ nhau và không có sự tách biệt. Nếu
làm tốt công tác tổ chức lớp học từ khâu xây dựng kế hoạch, xác định mục tiêu, công
tác tổ chức cán bộ, đến sự quan tâm hỗ trợ của phụ huynh để khuyến khích các phong
trào học tập, đảm bảo nền nếp kỷ cương, liên kết các khâu, các yếu tố trong lớp là nền
tảng, là điều kiện để GV làm tốt công tác giảng dạy. Thông qua dạy chữ để dạy cách
làm người. Nói cách khác, công tác tổ chức lớp học tốt sẽ tạo điều kiện, môi trường
đầy đủ để khai thác tối ưu các nhân tố, tạo động lực để HS vươn lên học tập rèn luyện.
Nhà trường bậc trung học phổ thông có 3 khối lớp là 10,11,12 với một chương trình
học thống nhất cả nước. Mỗi khối được chia thành nhiều lớp và mỗi lớp được bố trí
không quá 45 HS. HS của mỗi lớp được phân chia theo nhiều tiêu chí, trong đó tiêu chí
về trình độ học tập được đặt lên hàng đầu. Mỗi lớp có nhiều môn học và mỗi môn
được bố trí một hoặc một số GV nhất định làm công tác giảng dạy và một GV làm
nay.
2/ Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng đội ngũ GVCN lớp, nêu lên vị trí vai trò của GVCN
đối với công tác quản lý và giáo dục HS.
- Đề xuất các biện pháp chỉ đạo bồi dưỡng đội ngũ GV nhằm tăng cường nâng cao chất
lượng giáo dục.
- Tìm ra được các giải pháp chỉ đạo bồi dưỡng để nâng cao năng lực quản lý, giáo
dục HS của đội ngũ GVCN.
3- Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài, tôi lựa chọn nhiều phương pháp khác nhau: thống kê, phân tích,
so sánh, rút ra ưu nhược để lựa chọn nội dung và biện pháp.
4- Giới hạn nghiên cứu.
Đội ngũ GVCN lớp ở trường THPT Ba Đình năm học 2011- 2012.
5- Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề tài được triển khai theo 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc quản lý xây dựng,bồi dưỡng đội ngũ GVCN
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện
Chương 2: Thực trạng đội ngũ GVCN ở trường THPT Ba Đình
Chương 3: Một số biện pháp xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ GVCN ở trường THPT
Ba Đình
PHẦN II- GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Chương 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUẢN LÝ XÂY DỰNG, BỒI DƯỠNG
ĐỘI NGŨ GVCN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
GIÁO DỤC TOÀN DIỆN Ở TRƯỜNG THPT
1.1/ Cơ sở lý luận
1.1.1/ Khái niệm quản lý, xây dựng , bồi dưỡng
Theo giáo trình quản lý của Học viện quản lý giáo dục - Bộ GD-ĐT thì:
- “ Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có ý thức, hợp qui luật của chủ
thể quản lý các cấp đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm bảo đảm sự vận hành bình
Chất lượng đó phải đáp ứng được các yêu cầu về mục tiêu của cá nhân và yêu cầu
xã hội đặt ra cho giáo dục
Luật Giáo dục đã khẳng định “1. Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh
phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát
triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người
Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho
học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc”.
- Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng: Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
yếu tố con người như: đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, nhân viên, học sinh, phụ
huynh, cấp uỷ chính quyền ; yếu tố nội dung chương trình, sách giáo khoa, vấn đề đánh
giá thi cử; yếu tố cơ sở vật chất trang thiết bị; yếu tố môi trường giáo dục. Trong đó, yếu tố
con người, nhất là đội ngũ người thầy giữ vị trí chủ đạo và quyết định nhất. Vì vậy, xây
dựng đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đồng đều về chất lượng là yêu
cầu đòi hỏi của các nhà trường. Nhiệm vụ của các nhà quản lý giáo dục là phải xây dựng
và bồi dưỡng đội ngũ GV giỏi về chuyên môn, vững về chính trị tư tưởng, thành thục về
nghiệp vụ, tâm huyết và trách nhiệm với nhà trường là nồng cốt; sắp xếp, bố trí, sử dụng
hợp lý đội ngũ trong giảng dạy và giáo dục- nhất là công tác chủ nhiệm là điều kiện có tính
quyết định.
1.1.2/ Vai trò, vị trí,chức năng và nhiệm vụ , quyền hạn của GVCN
a/ Vai trò, vị trí
- GVCN lớp được thay mặt Hiệu trưởng quản lý và giúp lớp tổ chức học tập, rèn
luyện đạt mục tiêu đào tạo, GVCN vừa đóng vai trò quản lý hành chính Nhà nước, vừa
đóng vai trò người thầy giáo, đồng thời còn đóng vai trò người đại diện cho quyền lợi
của tập thể lớp.
Người GVCN lớp học do các vấn đề đã nêu vừa phải có năng lực thủ trưởng, lại vừa
có năng lực thủ lĩnh đối với lớp học.
Năng lực "thủ trưởng" đòi hỏi phải biết ra mệnh lệnh để học sinh chấp hành các
quyết định của nhà trường .
Năng lực "thủ lĩnh" đòi hỏi phải biết "liên nhân cách" các đồng nghiệp, liên nhân
đề xuất mọi hoạt động phù hợp với yêu cầu chủ đề của từng tháng, từng học kì và cả
năm học. Điều đó không có nghĩa GVCN khoán trắng, đứng ngoài mọi hoạt động của
HS mà sẽ tham gia để giúp đỡ các em vào những lúc các em gặp khó khăn khi hoạt
động. Có như vậy GVCN mới đủ sức thuyết phục, thực sự chinh phục được HS để
giáo dục các em và như vậy mới có thể làm tốt nhiệm vụ của mình.
Thực tế cho thấy ở các trường tiên tiến bao giờ Hiệu trưởng cũng xây dựng được đội
ngũ giáo viên chủ nhiệm thạo việc và tận tâm.
c/ Quyền hạn
- Được mời dự họp hoặc là thành viên hội đồng giải quyết các vấn đề về HS, của lớp
mình phụ trách.
- Được liên hệ với GV dạy lớp mình chủ nhiệm để phối hợp giáo dục HS.
- Được liên hệ với tổ trưởng bộ môn, các bộ phận có liên quan, Ban Giám hiệu
trường để phản ánh tình hình giảng dạy của GV, tình hình học tập, rèn luyện của HS
và bảo vệ quyền lợi chính đáng của HS lớp mình phụ trách.
- Được gọi HS cá biệt đến nơi làm việc để giáo dục HS và được mời CMHS đến
trường để phối hợp giáo dục khi cần thiết.
1.1.3/ Yêu cầu xây dựng và bồi dưỡng
Trong nhà trường phổ thông, giáo viên nào cũng có thể làm được công tác chủ nhiệm,
nhưng không thể ai cũng trở thành giáo viên chủ nhiệm tốt. Các yêu cầu để đạt giáo viên chủ
nhiệm tốt có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, tạo điều kiện cho nhau.
a) Tố chất để làm nên một GVCN lớp tốt:
- Phải có đầy đủ những phẩm chất và năng lực của người GV XHCN Việt Nam theo
quy định của Luật giáo dục và Điều lệ trường phổ thông
- Có hiểu biết sâu sắc đến HS trong lớp chủ nhiệm, thương yêu HS và nhiệt tình trong
công việc. Có đủ thời gian vật chất để đầu tư cho công việc.
- Biết xây dựng kế hoạch chủ nhiệm và biết chỉ đạo tập thể thực hiện kế hoạch.
- GVCN cần có một số kỹ năng cần thiết như: Kỹ năng sử dụng các phương pháp
chủ nhiệm; xây dựng kế hoạch chủ nhiệm; cảm hóa HS; truyền đạt, thuyết phục học
sinh; xây dựng tập thể học sinh vững mạnh; kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động; phối
hợp với các lực lượng khác (CMHS, Đoàn, Hội….) trong giáo dục HS;
mình…".
+ Về nhiệm vụ nhà giáo, luật giáo dục yêu cầu nhà giáo phải có nhiều tiêu chuẩn,
trong đó có các tiêu chuẩn "Có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt. Đạt trình độ chuẩn
được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ" ( Điều 70).
+ Điều 72 - Chương IV nêu nhiệm vụ của nhà giáo: "Rèn luyện đạo đức, học tập văn
hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng chuyên môn nghiệp vụ
để nâng cao chất lượng và hiệu qủa giảng dạy và giáo dục".
- Điều lệ trường THPT:
+ Điều 31- mục 2 quy định:
2. Giáo viên chủ nhiệm, ngoài các nhiệm vụ quy định tại khoản 1 của Điều này,
còn có những nhiệm vụ sau đây:
a) Xây dựng kế hoạch các hoạt động giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung,
phương pháp giáo dục bảo đảm tính khả thi, phù hợp với đặc điểm học sinh, với hoàn
cảnh và điều kiện thực tế nhằm thúc đẩy sự tiến bộ của cả lớp và của từng học sinh;
b) Thực hiện các hoạt động giáo dục theo kế hoạch đã xây dựng;
c) Phối hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với các giáo viên bộ môn, Đoàn
thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, các tổ
chức xã hội có liên quan trong việc hỗ trợ, giám sát việc học tập, rèn luyện, hướng
nghiệp của học sinh lớp mình chủ nhiệm và góp phần huy động các nguồn lực trong
cộng đồng phát triển nhà trường;
d) Nhận xét, đánh giá và xếp loại học sinh cuối kỳ và cuối năm học; đề nghị
khen thưởng và kỷ luật học sinh; đề nghị danh sách học sinh được lên lớp thẳng, phải
kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp; hoàn
chỉnh việc ghi sổ điểm và học bạ học sinh;
đ) Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với Hiệu trưởng.
- Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2009-2020 của Bộ GD&ĐT nêu:
“Đối với giáo dục trung học: học sinh được trang bị học vấn cơ bản, kỹ năng sống,
những hiểu biết ban đầu về công nghệ và nghề phổ thông, được học một cách liên tục và
hiệu quả chương trình ngoại ngữ mới để đến cuối thập kỷ thứ hai của thế kỷ 21 có trình
độ ngoại ngữ ngang bằng với các nước trong khu vực”.
2.1) Đôi nét về giáo dục Nga Sơn
Nga Sơn là huyện thuần nông ven biển phía đông bắc tỉnh Thanh Hoá với 27 xã thị trấn,
hơn 15 nghìn dân, trong đó 1/3 theo đạo Thiên chúa. Đây là vùng chiêm trũng, cách biệt
với bên ngoài. Trong những năm qua, nền kinh tế- xã hội của địa phương có bước chuyển
mình, song về cơ bản vẫn là huyện nghèo.
Những khó khăn của kinh tế- xã hội của địa phương đã tác động không nhỏ đến sự phát
triển giáo dục. Nhưng chính bằng sự quyết tâm của cấp uỷ, chính quyền và nhân dân trong
toàn huyện, trên cơ sở phát huy nội lực của ngành giáo dục, chất lượng giáo dục thực sự
bứt phá đi lên. Tuy vậy, so với yêu cầu tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, giáo dục Nga
Sơn vẫn đặt ra những yêu cầu cấp thiết, nhất là công tác quản lý, giáo dục đạo đức học
sinh.
Công tác quản lý và giáo dục học sinh là trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã
hội , trong đó nhà trường giữ vị trí trung tâm. Thực hiện Nghị quyết 02 của Huyện uỷ Nga
Sơn về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, ngành giáo dục đã có nhiều đổi mới trong
việc sử dụng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của giáo
viên chủ nhiệm trong công tác quản lý và giáo dục đạo đức học sinh .2.2) Thực trạng
công tác giáo dục của trường THPT Ba Đình.
Trường THPT Ba Đình thành lập năm 1963, đến nay đã trải qua gần 50 năm xây dựng
và trưởng thành. Nhà trường đã xây dựng được đội ngũ giáo viên vừa “ hồng” và vừa
“chuyên”. Chính điều ấy đã tạo dựng được thương hiệu cho nhà trường là đơn vị Anh hùng
lao động và trường chuẩn Quốc gia.
Được sự quan tâm ủng hộ của các cấp, các ngành, sự nỗ lực phấn đấu vượt khó vươn
lên, nhà trường liên tục đạt được thành tích xuất sắc. Nhà trường nhiều năm được xếp trong
top 10 trường THPT dẫn đầu ngành giáo dục Thanh Hoá về kết quả thi học sinh giỏi, được
Bộ GD-ĐT vinh danh trong top 200 trường THPT chất lượng hàng đầu của cả nước. Hàng
năm, nhà trường có trên 70% học sinh xếp loại khá giỏi về học lực và từ 98% trở lên xếp
loại khá tốt về hạnh kiểm.
Mục tiêu trong 10 năm tới là xây dựng nhà trường thành trường trọng điểm chất lượng
cao theo đề án của Huyện uỷ. Khó khăn lớn nhất hiện nay là sự không đồng đều về chất
lượng của đội ngũ giáo viên và chất lượng học sinh. Thực tế đó đặt ra, muốn nâng cao chất
Nguyên nhân cơ bản là do chất lượng học sinh dự thi vào các ngành sư phạm vừa ít,
vừa yếu; chất lượng đào tạo của các trường Đại học sư phạm, nhất là về nghiệp vụ, kỹ
năng sư phạm không đáp ứng được yêu cầu. Thực tế thu nhập của giáo viên quá bất
cập so với thu nhập của xã hội. Trong khi đó, công việc của giáo viên chủ nhiệm quá
nhiều, ngày càng phức tạp nhưng hầu như chưa có chế độ đãi ngộ thoả đáng. GVBM
thực hiện một tiết thao giảng được công nhận GV giỏi các cấp thì được quan tâm rất
nhiều đến công tác thi đua khen thưởng, trong khi đó GV làm chủ nhiệm tất bật, suy
tư, bỏ rất nhiều công sức trong 1 năm may ra mới được công nhận GVCN giỏi thì ít ai
chú ý, có chăng cũng chỉ ở một thời điểm nào đó. Chính vì điều đó, GVCN hoặc là
làm không hết trách nhiệm, thậm chí thờ ơ với công việc này, hoặc là ngại, né tránh.
Đội ngũ GVCN ở trường THPT Ba Đình không tránh khỏi thực trạng này.
2.3.2. Đánh giá các lĩnh vực
a. Về tư tưởng chính trị, đạo đức và ý thức trách nhiệm :
- Hầu hết GVCN có lập trường chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, yêu
ngành yêu nghề, ý thức trách nhiệm cao đối với nhiệm vụ được giao, là tấm gương
sáng cho HS noi theo. Được Hiệu trưởng giao lớp chủ nhiệm, bản thân mỗi người luôn
cố gắng học hỏi, sát sao tình hình HS để phối hợp các lực lượng tìm mọi cách làm hay,
biện pháp tốt để xây dựng tập thể lớp vững mạnh
- Quan điểm giáo dục toàn diện chưa được chú trọng đúng mức, công tác đánh giá
HS còn có sự lệch pha giữa các GV với nhau và trong những khoảng thời gian khác
nhau. Bản thân mỗi GV không đủ thời gian vật chất, kỹ năng trong công tác chủ
nhiệm chưa thành thục, thiếu tính chủ động trong công tác quản lý. Vì vậy, không nắm
bắt được diễn biến tư tưởng hành vi của HS.
b. Về lòng nhân ái sư phạm.
Để trở thành GVCN tốt, ngoài năng lực chuyên môn, GVCN cần phải có niềm tin, là
chỗ dựa tinh thần của các em, gần gũi, chia sẻ, động viên, khích lệ HS phấn đấu vươn
lên. Thành công của công tác chủ nhiệm không những biểu hiện ở nền nếp kỷ cương,
sự đoàn kết trong tập thể lớp mà còn thể hiện ở môi trường tập thể tin cậy, hợp tác, tôn
trọng lẫn nhau. Ở đó, các em được phát triển toàn diện nhân cách, được khuyến khích
các năng lực sáng tạo, được thể hiện và rèn cái “ tôi” theo hệ giá trị chuẩn mực của
và đã đạt được những thành công nhất định. Chất lượng các tập thể lớp và đạo đức HS
có chuyển biến tích cực.HS không chỉ học giỏi mà còn chăm ngoan, có động cơ và ý
thức học tập đúng đắn, có kỹ năng ứng xử đúng mực và linh hoạt trong cuộc sống. Tuy
vậy, việc hình thành và thực hiện kỹ năng của GVCN chưa đều, có những mặt mang
tính ứng phó, chủ yếu là thủ tục mà chưa chú trọng đến chất lượng và hiệu quả công
việc.
. d) Năng lực làm công tác xL hội hoá giáo dục.
Lớp học là hình ảnh thu nhỏ của nhà trường, GVCN vừa là “thủ trưởng”, vừa là “thủ
lĩnh” lớp học. Cùng tác động quản lý, giáo dục HS có nhiều lực lượng như GVBM,
các tổ chức, ban đại diện cha mẹ HS thì GVCN đóng vai trò trung tâm phối hợp huy
động lực lượng tham gia động viên khuyến khích phong trào học tập và tham gia quản
lý giáo dục HS của phụ huynh lớp, của Ban đại diện CMHS của trường, các đơn vị
đóng trên địa bàn,tham gia họp với phụ huynh.
Đa số giáo viên nắm vững nội dung công tác này, song khi thực hiện lại rất thụ động.
Nhiều người xem đó là việc của nhà trường, của các cấp lãnh đạo. Trong các buổi sinh
hoạt lớp, họp phụ huynh, GV chuẩn bị chưa kỹ càng nên rơi vào diễn giải, thuyết trình
vu vơ, hời hợt, chiếu lệ. Về phía quản lý, Ban giám hiệu cũng chưa có kế hoạch, chỉ
đạo sát sao, chưa triển khai cụ thể đầy đủ.
h) Về học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ, tạo cơ hội phát triển
Để đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lượng, bên cạnh công tác bồi dưỡng của
nhà trường, mỗi CB,GV không ngừng tự học, tự bồi dưỡng bằng nhiều cách khác nhau
nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, năng lực giảng dạy, năng lực quản lý nhà trường
và tư tưởng tình cảm đúng mực. Số GV giỏi và CSTĐ không ngừng tăng lên, ý thức
thái độ và trách nhiệm đối với công việc ngày càng cao.
Do thiếu thời gian vật chất, áp lực chuyên môn nặng nề, việc tự học, tự bồi dưỡng
của GV không đồng đều giữa các tổ nhóm chuyên môn. Chất lượng công tác, hồ sơ và
các hoạt động nhiều khi mang tính hình thức.
2.4. Một số vấn đề đặt ra trong việc quản lý xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ GVCN
ở trường THPT Ba Đình
Từ thực tiễn công tác xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ GVCN ở trường THPT Ba Đình
vi toàn trường. Cấp uỷ, Ban giám Hiệu, lãnh đạo nhà trường xem xét cụ thể và quyết định
công khai các phương án quy hoạch, làm cho mỗi tổ nhóm chuyên môn, các tổ chức và
mỗi CB,GV thấy rõ nhiệm vụ của mình phải đảm nhiệm hiện tại và trong tương lai. Trên
cơ sở đó, CB,GV định hình được những biện pháp cần thực hiện để đáp ứng yêu cầu thực
tiễn đặt ra.
Việc quy hoạch cũng phải đảm bảo đồng bộ về cơ cấu giữa các tổ nhóm, về lứa tuổi, giới
tính. Muốn quy hoạch tốt cần phải đánh giá đúng thực trạng đội ngũ, về năng lực sở trường,