Chính sách kinh tế đối ngoại II
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
Có được những thành công kể trên không thể không kể đến vai trò của thương mại quốc tế trong nền
kinh tế Hoa Kì. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế tế, nền kinh tế của Hoa Kì đã
dỡ bỏ được hầu hết các hàng rào bảo hộ, thực hiện tự do hóa thương mại. Đặc biệt là đối với hàng
hóa nông sản và dịch vụ. Áp dụng các biện pháp mang tính ưu đãi với các nước được coi là đồng
minh và các nước đã kí các hiệp ước tự do như EU, Nhật Bản. Sử dụng hệ thống ưu đãi thuế quan
phổ cập GSP, đánh thuế thấp với hàng hóa nhập khẩu từ các nước đang phát triển. 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOA KỲ 6
1.1 VÀI NÉT VỀ ĐẤT NƯỚC HOA KỲ 6
CHƯƠNG 2: NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ HOA KỲ 9
2.1. MÔ HÌNH CHÍNH SÁCH 9
2.2. NỘI DUNG CHÍNH SÁCH 9
2.3. CÔNG CỤ, BIỆN PHÁP ÁP DỤNG 10
2.3.1. Công cụ và biện pháp quản lý 10
2.3.1.1 Thuế quan 10
2.3.1.2. Hạn ngạch 15
2.3.1.3. Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật 17
2.3.1.4. Hạn chế xuất khẩu tự nguyện 23
2.3.1.5. Chống bán phá giá 25
3.1.1 Từ chủ nghĩa bảo hộ tới thương mại tự do hóa 36
3.1.2 Đa phương hóa, khu vực hóa và song phương hóa 40
3.1.3 Chương trình nghị sự về thương mại hiện nay của Mỹ 41
3.1.4 Thâm hụt thương mại của Mỹ 44
Mức thâm hụt trên cao hơn con số mà các nhà phân tích Phố Wall đưa ra trước đó là 44,5 tỷ USD.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tăng kim ngạch nhập khẩu là giá dầu tăng cao, đạt mức kỷ lục
vào cuối mùa xuân vừa qua với giá mỗi thùng dầu tăng 41 xu so với 1 năm trước. Tuy nhiên, thời
gian gần đây cho thấy những dấu hiệu tích cực khi thâm hụt cán cân thương mại của Mỹ có xu
hướng giảm. Sau nhiều năm chịu cảnh ảm đạm và đổ vỡ, viễn cảnh thâm hụt thương mại Mỹ đột
Vậy Hoa Kì đã thực hiện chính sách thương mại quốc tế của mình như thế nào để vừa
đạt được những thành công to lớn, vừa bảo vệ được sản xuất nước nhà? Để tìm hiểu kỹ hơn
Nhóm 6_ Kinh tế quốc tế 51B Page 3
Chính sách kinh tế đối ngoại II
về vấn đề này, nhóm chúng em thực hiện bài tiểu luận với đề tài: “Chính sách thương mại
quốc tế của Hoa Kì và bài học cho Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: giúp người đọc có được cái nhìn tổng quan về chính sách thương
mại quốc tế của Hoa Kỳ.
Nhiệm vụ nghiên cứu: bài viết tìm hiểu khái quát về nên kinh tế Hoa Kỳ; chính sách
thương mại quốc tế mà Hoa Kì đã áp dụng trong thời gian qua; đánh giá sự hiệu quả của các
công cụ biện pháp mà chính sách sử dụng, từ đó đưa ra bài học cho chính sách thương mai
quốc tế của Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kì
Phạm vi nghiên cứu:
– Không gian: bài viết đề cập đến chính sách thương mại quốc tế được áp dụng tại Hoa Kì.
– Thời gian: số liệu trong đề tài được thu thập từ năm 2000 đến nay
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài có sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
– Phương pháp phân tích điển hình và tổng hợp: thu thập, tổng hợp và phân tích số liệu trên
quy mô lớn.
– Phương pháp phân tích theo cấu trúc logic của các tài liệu theo số liệu thu thập được, nhận
dạng những vướng mắc trong hoạt động thực tế, từ đó phát hiện ra những vấn đề để tiến hành
nghiên cứu.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3
chương như sau:
Chương 1: Tổng quan nền kinh tế Hoa Kì
Chương 2: Chính sách thương mại quốc tế của Hoa Kì
Hoa Kỳ có ảnh hưởng kinh tế, chính trị và quân sự to lớn trên trường quốc tế mà
khiến chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ là một đề tài quan tâm lớn nhất trên khắp thế giới.
Hầu như tất cả các quốc gia đều có tòa đại sứ tại Washington D.C và nhiều lãnh sự quán khắp
đất nước. Tương tự, gần như tất cả các quốc gia đều có các sứ bộ ngoại giao tại Mỹ. Tuy
nhiên, Cuba, Iran, Bắc Hàn, Bhutan và Sudan không có quan hệ ngoại giao chính thức với
Hoa Kỳ.
1.2 KHÁI QUÁT NỀN KINH TẾ HOA KỲ
Nhóm 6_ Kinh tế quốc tế 51B Page 6
Chính sách kinh tế đối ngoại II
Một câu nói cách ngôn của các nhà kinh tế học là: “Khi nước Mỹ hắt xì hơi, thì
cả thế giới đều bị cảm lạnh”. Sở dĩ, Mỹ có được tầm ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quốc gia,
các tổ chức từ kinh tế đến chính trị lớn trên thế giới là nhờ vào tiềm lực kinh tế to lớn của
mình. Cùng điểm qua một số những con số ấn tượng của nền kinh tế lớn nhất thế giới này :
GDP : Kể từ những năm 20 của thế kỉ trước, Mỹ đã là quốc gia có nền kinh tế lớn nhất
thế giới. Mặc dù trong những năm gần đây, các cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính đã
có ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh thế Hoa Kỳ nhưng vị trí số 1 vẫn được duy trì. Năm
2011, Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đã công bố danh sách Top 10 nền kinh tế lớn nhất thế giới dựa
theo chỉ tiêu GDP. Theo đó, Hoa Kỳ đứng đầu với 13860 tỷ USD, gần gấp đôi so với quốc
gia đứng thứ 2 là Trung Quốc (7.043 tỷ USD), gấp ba lần quốc gia đứng thứ 3 là Nhật Bản
(4.305 tỷ USD). (Việt Nam năm 2011 có Tổng GDP là 119 tỷ USD.
Hình 1.2: Các quốc gia xét theo Tổng GDP (PPP) giai đoạn từ 2001-2010
(nguồn :…)
Không một quốc gia nào trong thời kỳ hiện đại có thể tiến gần hơn Mỹ xét về sức
mạnh của nền kinh tế. Ở thời kỳ hưng thịnh nhất, Liên Xô chỉ tạo ra 1/3 sản lượng hàng hóa
và dịch vụ so với Mỹ. Tương tự như vậy, Nhật Bản ở thời kỳ đỉnh cao cũng chỉ sản xuất ra
chưa bằng ½ sản lượng hàng hóa của Mỹ.
Kim ngạch xuất nhập khẩu: Hoa Kỳ là quốc gia có nền thương mại lớn nhất thế giới.
Trong năm 2011, Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 3200 tỷ USD, trong đó nhập khẩu của
Mỹ lên đến 1300 tỷ USD, xuât khẩu lên tới 1900 tỷ USD. (Việt Nam đạt tổng kim ngạch
Xuất nhập khẩu là 200 tỷ USD). Các đối tác thương mại lớn của Hoa Kỳ là Canada, Trung
như WTO, WB, IMF.
Áp dụng hệ thống các công cụ biện pháp bảo hộ mang tính tinh vi và phù hợp với các nguyên
tắc của WTO như rào cản kỹ thuật, biện pháp chống bán phá giá Thực hiện bảo vệ người
tiêu dùng
Đồng thời, mô hình chính sách thương mại quốc tế của Mỹ có những thay đổi khác
nhau qua các kỳ tổng thống. Điển hình là hai chính sách thương mại dưới thời hai vị tổng
thống gần đây nhất: G.Bush và Barack Obama. Dưới thời cầm quyền của tổng thống G.Bush,
Hoa Kỳ ưu tiên thực hiện chính sách tự do hóa thương mại, thực hiện các vòng đàm phán
thương mại tự do Doha. Theo như lời của tổng thống G.Bush khi tiến hành tranh cử: “Bây giờ
chính là thời kì để giảm rào cản thương mại trên toàn thế giới”.
Tuy nhiên, dưới thời tổng thống Barack Obama, vấn đề thương mại tự do lại không
được đưa vào trong những vấn đề ưu tiên của ông. Ông tăng cường việc thực hiện bảo hộ
mậu dịch đối với Hoa Kỳ, đàm phán tự do thương mại sẽ không tiến triển nhiều. Barack
Obama tin vào một thương mại bình đẳng, nhưng phải tuân theo các cam kết có hiệu lực trên
phạm vi toàn cầu trong các vấn đề liên quan đến lao động, môi trường, y tế và các tiêu chuẩn
an toàn. Đây chính là đường hướng mà chính quyền Bill Clinton từng làm.
2.2. NỘI DUNG CHÍNH SÁCH
Chính sách mặt hàng : Thực hiện chính sách tự do hóa thương mại cụ thể đối với
hàng nông sản và lâm sản.
Chính sách thị trường: các công cụ và biện pháp thực hiện được phân chia mức độ áp
dụng theo 3 nhóm nước:
Nhóm 6_ Kinh tế quốc tế 51B Page 9
Chính sách kinh tế đối ngoại II
• Áp dụng chính sách ưu đãi đối với các nước được coi là đồng minh như Nhật Bản,
EU…
• Các nước theo chế độ cộng sản đặc biệt là các nước theo chế độ XHCN, trước đây
thường áp dụng các biện pháp nhằm hạn chế quan hệ thương mại, một số trường hợp
đặc biệt áp dụng biện pháp cấm vận.
• Thực hiện cs cấm vận với các nước được coi là kẻ thù.
2.3. CÔNG CỤ, BIỆN PHÁP ÁP DỤNG
thời gian từ 1 tháng 4 đến hết 30 tháng 6 là 1,80 USD/m3, và ngoài những thời gian trên được
miễn thuế.
- Thuế leo thang: Một đặc điểm nữa của hệ thống thuế nhập khẩu của Hoa kỳ là
áp dụng thuế suất leo thang, nghĩa là hàng càng chế biến sâu thì thuế suất nhập khẩu càng
cao. Ví dụ, mức thuế FMN đối với cá tươi sống hoặc ở dạng philê đông lạnh là 0%, trong khi
đó mức thuế đối với cá khô và xông khói là từ 4% đến 6%. Loại thuế này cá tác dụng khuyến
khích nhập khẩu nguyên liệu và hàng sơ chế hơn là hàng thành phẩm.
Các mức thuế :
- Mức thuế tối huệ quốc (MFN), hay còn gọi là mức thuế dành cho các nước có
quan hệ thương mại bình thường (NTR), được áp dụng với những nước thành viên Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) và những nước tuy chưa phải là thành viên WTO nhưng đã ký
hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ như Việt Nam. Mức thuế tối huệ quốc (MFN)
nằm trong phạm vi từ dưới 1% đến gần 40%, trong đó hầu hết các mặt hàng chịu mức thuế từ
2% đến 7%. Hàng dệt may và giầy dép thường chịu mức thuế cao hơn. Mức thuế MFN theo
giá trị nói chung bình quân khoảng 4%. Mức thuế MFN được ghi trong cột “General” của cột
1 trong biểu thuế nhập khẩu (HTS) của Hoa Kỳ.
- Mức thuế phi tối huệ quốc (Non-MFN) được áp dung đối với những nước chưa
phải là thành viên WTO và chưa ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ như Lào,
Cuba, Bắc Triều Tiên. Thuế suất Non-MFN nằm trong khoảng từ 20% đến 110%, cao hơn
nhiều lần so với thuế suất MFN. Mức thuế Non- FMN được ghi trong cột 2 của biểu thuế
HTS của Hoa Kỳ.
- Mức thuế áp dụng với Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Hàng hoá
nhập khẩu từ Canada và Mexico được miễn thuế nhập khẩu hoặc được hưởng thuế suất ưu
đãi thấp hơn mức thuế MFN. Ví dụ, mức thuế MFN năm 2004 áp dụng chung với dưa chuột
chế biến là 9,6%, trong khi đó nếu nhập khẩu từ Canada hoặc Mêxicô thì được miễn thuế.
Nhóm 6_ Kinh tế quốc tế 51B Page 11
Chính sách kinh tế đối ngoại II
Thuế suất ưu đãi đối với hàng nhập từ Canada và Mêxicô được ghi ở cột “Special” của cột 1
trong biểu thuế HTS trong đó (CA) là ký hiệu dành cho Canada và (MX) là ký hiệu dành cho
Mêxicô.
thương mại cho hàng nhập khẩu từ các nước và lãnh thổ nằm trong khu vực Lòng chảo
Caribê để hỗ trợ cho các nước và vùng lãnh thổ này phục hồi và phát triển kinh tế. Sáng kiến
này được thể hiện trong các luật của Hoa Kỳ như: Luật Phục hồi Kinh tế Khu vực Lòng chảo
Caribê ban hành tháng 8 năm 1983 (hay còn gọi là CBI I), Luật Mở rộng Phục hồi Kinh tế
Khu vực Lòng chảo Caribê năm 1990 (hay còn gọi là CBI II), và Luật Hợp tác Thương mại
Khu vực Lòng chảo Caribê, có hiệu lực tháng 10 năm 2000 (hay còn gọi là CBI III).
Kể từ CBI I đến CBI III hiện nay, những ưu đãi thương mại mà Hoa kỳ đơn phương
dành cho các nước và lãnh thổ được hưởng lợi ngày càng nhiều và lớn hơn. Hiện nay, có 24
nước và vùng lãnh thổ được hưởng lợi của CBI. Hầu hết các sản phẩm có xuất xứ từ những
nước và vùng lãnh thổ này được nhập khẩu vào Hoa kỳ không bị hạn chế về số lượng và
được miễn thuế. CBI III đã bổ xung một số loại hàng dệt may vào danh mục hưởng lợi
(không bị hạn chế số lượng và được miễn thuế), số còn lại vẫn chịu sự điều tiết của các hiệp
định dệt may song phương. Các nhóm hàng chưa được miễn thuế hoàn toàn, song được
hưởng mức thuế ưu đãi thấp hơn mức MFN bao gồm: giầy dép, túi xách tay, túi hành lý, các
loại túi ví dẹt, găng tay lao động, quần áo da.
Để được hưởng ưu đãi theo CBI, hàng hoá phải đáp ứng 3 yêu cầu xuất xứ: (1) Phải
được nhập trực tiếp từ một nước được hưởng lợi vào lãnh thổ hải quan Hoa Kỳ; (2) Phải chứa
ít nhất 35% hàm lượng nội địa của một hoặc nhiều nước hưởng lợi (hàm lượng nguyên liệu
xuất xứ Hoa kỳ chiếm tới 15% tổng trị giá hàng hoá cũng có thể tính vào yêu cầu 35% này),
và (3) Hàng hóa phải là sản phẩm được trồng, sản xuất hoặc chế tạo hoàn toàn ở nước hưởng
lợi hoặc nếu có nguyên liệu nước ngoài thì nó phải được biến đổi thành sản phẩm mới hoặc
khác ở nước hưởng lợi.
Mức thuế ưu đãi theo Luật này được ghi ở cột “Special” thuộc cột 1 của biểu thuế HTS và có
ký hiệu là E và E+, trong đó E+ có ý nghĩa tương tự như A+.
- Luật ưu đãi thương mại Andean (Andean Trade Preference Act - ATPA) được
ban hành tháng 12 năm 1991 nhằm hỗ trợ các nước Bolivia, Colombia, Ecuador và Peru
trong cuộc chiến chống sản xuất và buôn lậu ma tuý bằng cách phát triển kinh tế. Theo Luật
này, hầu hết các sản phẩm nhập khẩu từ những các nước Adean vào Hoa Kỳ được giảm hoặc
miễn thuế nhập khẩu, trong đó có khoảng 6.300 sản phẩm được miễn thuế hoàn toàn.
Nhóm 6_ Kinh tế quốc tế 51B Page 13
Jordan), SG (đối với hàng nhập từ Singapore), CL (đối với hàng nhập từ Chilê)
Nhóm 6_ Kinh tế quốc tế 51B Page 14
Chính sách kinh tế đối ngoại II
- Các ưu đãi thuế quan khác. Hoa Kỳ còn dành ưu đãi thuế quan cho những
hàng hóa nhập khẩu vào Hoa Kỳ thuộc diện hưởng lợi của Luật Thương mại các Sản phẩm Ô
tô (được ký hiệu trong biểu thuế là B), Hiệp định Thương mại Máy bay Dân dụng (được ký
hiệu trong biểu thuế là C), Hiệp định Thương mại các Sản phẩm Dược (được ký hiệu trong
biểu thuế là K), và những cam kết giảm thuế của Vòng Uruguay đối với hoá chất nguyên liệu
trực tiếp của thuốc nhuộm (được ký hiệu trong biểu thuế là L). Những ưu đãi thuế này cũng
được ghi trong cột “Special” của cột 1 của biểu thuế HTS.
Các mặt hàng kim loại chế biến ở nước ngoài từ kim loại mua của Hoa Kỳ khi nhập khẩu vào
Hoa Kỳ được miễn thuế nhập khẩu đối với phần trị giá mua của Hoa Kỳ. Hàng lắp ráp từ các
bộ phận mua của Hoa Kỳ khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ được miễn thuế nhập khẩu đối với phần
trị giá mua của Hoa Kỳ.
2.3.1.2. Hạn ngạch
Hạn ngạch là quy định của một nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay một
nhóm hàng được phép xuất hoặc nhập từ một thị trường trong một thời gian nhất định thông
qua hình thức cấp giấy phép (Quota).
Hạn ngạch của Mỹ chia làm 2 loại:
Hạn ngạch tuyệt đối (Absolute): quy định phần hàng hóa vượt quá mức hạn ngạch sẽ
không được phép đưa vào lãnh thổ hải quan Mỹ và bên XK phải thuê kho hải quan chờ hạn
ngạch năm sau hoặc tái XK. Một số mặt hàng áp dụng hạn ngạch tuyệt đối khi nhập khẩu vào
Mỹ là thức ăn gia súc, các sản phẩm thay thế bơ, pho mát, sữa khô, sô cô la, thịt từ Australia
và New Zealand,…
Hạn ngạch thuế quan (Tariff – rate): trong quy định của hạn ngạch này phần hàng
hóa vượt quá mức hạn ngạch cho phép vẫn có thể được đưa vào hải quan nhưng phải chịu
mức thuế NK cao hơn so với phần hàng hóa trong hạn ngạch. (thường cao hơn 10 lần). Một
số hàng hóa bị áp dụng hạn ngạch khi nhập khẩu vào Mỹ: Sữa và kem, cá cơm, cá ngừ, rượu,
đặc biệt là các mặt hàng nông sản, dệt may,….
Theo thủ tục, đối với các loại quota tariff rate, quan thuế không thể định được một
khẩu ròng sản phẩm đường, kể từ năm 1934 đã có những hạn chế đối với đường nhập khẩu để
thúc đẩy ngành mía đường và củ cải đường trong nước. Hệ thống bảo hộ nhập khẩu đã duy trì
được giá đường cao hơn giá thế giới. Ðể chương trình đường của Mỹ phù hợp với GATT, và
sau đó là Hiệp định trong khuôn khổ Vòng đàm phán Urugoay, hạn ngạch tuyệt đối áp dụng
đối với đường nhập khẩu đã chuyển sang hiệp định thuế định ngạch năm 1990. Do kết quả
Nhóm 6_ Kinh tế quốc tế 51B Page 16
Chính sách kinh tế đối ngoại II
của các Vòng đàm phán Thương mại Ða phương Urugoay, hai loại thuế định ngạch đã được
đưa vào áp dụng, một loại áp dụng đối với đường chế biến từ mía, và một loại áp dụng đối
với các loại đường khác và mật đường.
Theo quy định của hệ thống thuế định ngạch, Bộ trưởng Bộ nông nghiệp sẽ xác định
lượng đường có thể nhập khẩu với thuế suất nhập khẩu thấp hơn, và Ðại diện Thương mại
Mỹ sẽ phân bổ số lượng này cho 40 nước xuất khẩu đường đủ tiêu chuẩn. Lượng nhập khẩu
phân bổ cho các nước trong chương trình GSP, CBI, và ATPA được miễn thuế. Chứng nhận
đủ tiêu chuẩn hạn ngạch (Certificates of Quota Eligibility-CQE) phát cho các nước xuất khẩu
phải được thực hiện và hoàn lại trong từng đợt nhập khẩu đường để nhận đãi ngộ hạn ngạch.
Lượng nhập khẩu đường vượt quá mức cho phép sẽ phải chịu mức thuế cao hơn. Mỹ đã thoả
thuận trong Vòng đàm phán Urugoay không giảm lượng đường nhập khẩu và giảm 15% mức
chênh lệch thuế đường nhập khẩu trong 6 năm. Ðường nhập khẩu từ Mêhico và Canada được
điều chỉnh theo các điều khoản của NAFTA.
Tuy nhiên, việc áp dụng hạn ngạch đang dần được gỡ bỏ dần, thay vào đó là các biện
pháp kiểm soát tiêu chuẩn kĩ thuật, xuất xứ hàng hóa,… Điển hình, từ sau ngày 1/1/2007, các
mặt hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ đã được dỡ bỏ hạn ngạch. Điều này tạo
điều kiện lớn cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam vì Mỹ chiếm khoảng 55% thị phần dệt
may xuất khẩu của VIệt Nam. Tuy bãi bỏ hạn ngạch nhưng Hoa Kỳ vẫn tiếp tục giám sát chặt
chẽ việc nhập khẩu 5 nhóm hàng của Việt Nam (gồm áo, quần, đồ lót, quần áo bơi và áo len),
nếu thấy có dấu hiệu Chính phủ trợ cấp cho các DN thì Hoa Kỳ sẽ lập tức tái áp dụng quy chế
hạn ngạch.
2.3.1.3. Những quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật
a. Khái niệm
phòng ngừa nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm và chất lượng thực phẩm thông qua việc phân
tích những mối nguy và thực hiện các biện pháp kiểm soát tại các điểm kiểm soát tới hạn.
HACCP nhấn mạnh tính nhất thiết phải kiểm soát dây chuyền công nghệ sản xuất để đảm bảo
an toàn, vệ sinh cho sản phẩm thay vì kiểm soát sản phẩm cuối cùng.
Để được phép đưa hàng thuỷ sản vào Mỹ, doanh nghiệp phải gửi kế hoạch, chương
trình HACCP cho Cục Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA). FDA xem xét kế hoạch,
chương trình HACCP, khi cần thì kiểm tra. Nếu FDA kết luận là đạt yêu cầu thì cấp phép cho
doanh nghiệp đó.
Nhóm 6_ Kinh tế quốc tế 51B Page 18
Chính sách kinh tế đối ngoại II
FDA kiểm tra từng lô hàng nhập khẩu. Nếu phát hiện có lô hàng không đảm bảo an
toàn, vệ sinh thực phẩm hoặc có các vi phạm khác, lô hàng sẽ bị FDA từ chối nhập khẩu, bị
gửi trả về nước hoặc tiêu huỷ tại chỗ với chi phí do doanh nghiệp chịu, đồng thời, tên doanh
nghiệp sẽ bị đưa lên mạng Internet ở chế độ “Cảnh báo nhanh” (Detention). 5 lô hàng tiếp
theo của doanh nghiệp này sẽ bị tự động giữ ở cảng nhập để kiểm tra theo chế độ tự động.
Chỉ sau khi cả 5 lô hàng đó đều đảm bảo an toàn, vệ sinh và doanh nghiệp làm đơn đề nghị,
FDA mới xoá tên doanh nghiệp đó ra khỏi danh sách “Cảnh báo nhanh”.
FSMA là bộ luật sửa đổi, bổ sung các quy định an toàn thực phẩm của FDA, được
Tổng thống Obama ký ngày 4/1/2011 và là lần cập nhật các quy định an toàn thực phẩm đáng
chú ý nhất kể từ năm 1938. Với sự ra đời của FSMA, sẽ có những thay đổi trong quy định của
FDA ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu hàng hóa của các nhà xuất khẩu nước ngoài vào thị
trường Mỹ. Nếu nước xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ đã ký được Bản ghi nhớ (MOU) với FDA,
cơ quan có thẩm quyền cao nhất về kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm của nước xuất khẩu
tự chỉ định các doanh nghiệp được đưa thuỷ sản vào Mỹ mà không cần trình kế hoạch,
chương trình HACCP. Tuy nhiên, FDA chỉ mới ký MOU cho mặt hàng nhuyễn thể 2 mảnh
với Canada, Hàn Quốc và vài nước Nam Mỹ. Đây sẽ là một trong những rào cản được phát
huy tác dụng nhiều nhất trong giai đoạn sắp tới, đặc biệt là đối với hàng thuỷ sản từ các nước
đang phát triển.
• Các tiêu chuẩn chế biến và sản xuất theo quy định môi trường
Đây là các tiêu chuẩn quy định sản phẩm cần phải được sản xuất như thế nào, được sử
riêng khi nhập khẩu phải được ghi nhãn đầy đủ theo danh mục do cơ quan chức năng đưa ra.
- Phải có nhãn dán phía bên ngoài, nơi dễ nhìn thấy nhất trên các thùng chứa hoặc bao
bì.
- Nội dung trên nhãn bao gồm: tên sản phẩm, xuất xứ, nơi sản xuất, tên và địa chỉ nhà
sản xuất, ngày sản xuất, hạn sử dụng, sản phẩm sử dụng có thể ăn sống hay không, phương
pháp bảo quản, khối lượng, mã số mã vạch.
- FDA còn đưa ra yêu cầu phải ghi rõ thành phần, giá trị dinh dưỡng.
- Một hình thức rào cản mới trong biện pháp này là đưa ra các cấm đoán về ghi tên sản
phẩm. Tổng thống Mỹ đã ký ban hành Đạo luật An ninh trang trại và Đầu tư nông thôn, gọi
tắt là Đạo luật H.R. 2646, trong đó có điều khoản 10806 quy định chỉ có giống cá da trơn có
tên khoa học là Ictaluridae nuôi trồng ở nước Mỹ mới được dùng chữ catfish để ghi nhãn
mác, còn các loại cá da trơn khác không được ghi chữ catfish trên nhãn mác, bao bì. Các
Nhóm 6_ Kinh tế quốc tế 51B Page 20
Chính sách kinh tế đối ngoại II
doanh nghiệp xuất khẩu cá da trơn vào thị trường Mỹ sẽ phải chịu thiệt hại đáng kể do sản
phẩm sẽ phải thay đổi thương hiệu và bao bì. Các doanh nghiệp phải in lại toàn bộ bao bì,
phải tổ chức quảng cáo, tiếp thị lại,… rất tốn kém.
• Các yêu cầu về đóng gói bao bì
Gồm những quy định liên quan đến nguyên vật liệu dùng làm bao bì, những quy định
về tái sinh, những quy định về xử lý và thu gom sau quá trình sử dụng,… Những tiêu chuẩn
và quy định liên quan đến những đặc tính tự nhiên của sản phẩm và nguyên vật liệu dùng làm
bao bì đòi hỏi việc đóng gói phải phù hợp với việc tái sinh hoặc tái sử dụng.
Các yêu cầu về đóng gói bao bì cũng ảnh hưởng đến chi phí sản xuất và sức cạnh tranh
của sản phẩm do sự khác nhau về tiêu chuẩn và quy định của mỗi nước, cũng như chi phí sản
xuất bao bì, các nguyên vật liệu dùng làm bao bì và khả năng tái chế ở mỗi nước là khác
nhau. Hiện nay, thị trường các nước phát triển quy định tương đối chặt và tương đồng với
nhau về bao bì sản phẩm. Có thể khái quát một số điểm đáng lưu ý như sau:
- Chất liệu bao bì đóng gói giới hạn trong một số chất cho phép, có thể tái sinh và
tái sử dụng. Nếu doanh nghiệp xuất khẩu không đáp ứng được thì doanh nghiệp nhập khẩu
phải đóng gói lại, hao phí đóng gói lại khiến doanh nghiệp nhập khẩu không muốn mua hàng
sử dụng cho môi trường, thay đổi cách ứng xử của cá nhân và tập thể đối với các hoạt động
có liên quan đến môi trường và thu các quỹ cho các hoạt động bảo vệ môi trường. Các loại
phí môi trường thường gặp gồm có:
- Phí sản phẩm: áp dụng cho các sản phẩm gây ô nhiễm, có chứa các hoá chất độc hại
hoặc có một số thành phần cấu thành của sản phẩm gây khó khăn cho việc thải loại sau sử
dụng.
- Phí khí thải: áp dụng đối với các chất gây ô nhiễm thoát vào không khí, nước và đất,
hoặc gây tiếng ồn.
- Phí hành chính: áp dụng kết hợp với các quy định để trang trải các chi phí dịch vụ của
chính phủ để bảo vệ môi trường.
Phí môi trường có thể được thu từ nhà sản xuất hoặc người tiêu dùng hoặc cả nhà sản xuất và
người tiêu dùng.
• Nhãn sinh thái
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái nhằm mục đích thông báo cho người tiêu dùng biết
là sản phẩm đó được coi là tốt hơn về mặt môi trường. Các tiêu chuẩn về dán nhãn sinh thái
được xây dựng trên cơ sở phân tích chu kỳ sống của sản phẩm, từ giai đoạn tiền sản xuất, sản
Nhóm 6_ Kinh tế quốc tế 51B Page 22
Chính sách kinh tế đối ngoại II
xuất, phân phối, tiêu thụ, thải loại sau sử dụng, qua đó đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với
môi trường của sản phẩm ở các giai đoạn khác nhau trong toàn bộ chu kỳ sống của nó.
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái, thường được gọi là “sản phẩm xanh”, có khả năng
cạnh tranh cao hơn so với sản phẩm cùng chủng loại nhưng không dán nhãn sinh thái do
người tiêu dùng thường thích và an tâm khi sử dụng các “sản phẩm xanh” hơn. Ví dụ, trên thị
trường Mỹ, các loại thuỷ sản có dán nhãn sinh thái thường có giá bán cao hơn, ít nhất 20%,
có khi gấp 2-3 lần thuỷ sản thông thường cùng loại.
Gần đây Mỹ, EU và Nhật Bản đã cho thanh tra lại việc cho dán nhãn sinh thái đối với
các sản phẩm thuỷ sản nhập khẩu và đưa thêm một số tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn vệ sinh,
bảo vệ môi trường,… vào những yêu cầu để sản phẩm có thể dán nhãn sinh thái. Sắp tới, việc
sử dụng công cụ nhãn sinh thái kết hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật và môi trường sẽ rất phổ
biến, nhất là trong các nước phát triển do xu hướng yêu thích sản phẩm có dán nhãn sinh thái
không có lợi cho đôi bên.
Một số luật nổi tiếng nhất của Mỹ được sử dụng để hạn chế xuất khẩu tự nguyện đối với các
quốc gia khác :
- Luật Bảo vệ Ðộng vật biển có vú 1972 (MMPA) : Kể từ năm 1990 Mỹ đã cấm nhập
khẩu các sản phẩm chế biến từ cá ngừ vây vàng được đánh bắt ở phía đông Thái bình dương
nhiệt đới, trừ những nước đã cấm thuyền đánh cá của họ sử dụng các loại lưới túi khi đánh
bắt, một hành động có trách nhiệm đối với tình trạng tàn sát hàng trăm ngàn con cá voi mỗi
năm. Tàu đánh cá của Mỹ cũng bị cấm tương tự kể từ năm 1972. Các hội đồng của GATT đã
hai lần đã phán quyết luật này đã vi phạm những giao ước của GATT, nhưng chưa có quyết
định nào được thừa nhận chính thức.
- Ðiều 609 của Luật Chung của Mỹ 101-162: Khi Bộ Ngoại giao gần đây giải thích luật
này, Mỹ đã cấm nhập khẩu tôm tự nhiên từ các khu vực trên thế giới, nếu việc đánh bắt có thể
gây nguy hiểm hoặc đe doạ đến loài rùa biển, trừ những nước được chứng nhận đã yêu cầu
thuyền đánh bắt tôm của họ sử dụng các thiết bị ngăn rùa biển. Các thuyền đánh bắt tôm của
Mỹ cũng phải đáp ứng yêu cầu tương tự. Bộ Ngoại giao thông báo danh sách các nước được
chứng nhận hàng năm vào ngày 1 tháng 5. Một số nước đã không thừa nhận lệnh cấm này tại
WTO, tại đây Hội đồng Giải quyết Tranh chấp sẽ giải quyết vụ này trước tháng 12 năm 1997.
- Ðiều 8 của Luật bảo vệ của Fishermen năm 1976, được sửa đổi, "Luật sửa đổi bổ sung
Pelly": Theo luật này, Tổng thống có quyền cấm nhập khẩu bất kỳ sản phẩm nào từ bất kỳ
một nước nào tiến hành những hoạt động đánh bắt hoặc tham gia vào buôn bán hải sản làm
Nhóm 6_ Kinh tế quốc tế 51B Page 24
Chính sách kinh tế đối ngoại II
giảm hiệu quả của các chương trình quốc tế về bảo tồn hải sản hoặc các chương trình quốc tế
về các loài động vật bị nguy hiểm hoặc bị đe doạ. Dựa trên Luật sửa đổi bổ sung Pelly, tổng
thống Clinton đã cấm một số hàng nhập khẩu từ Ðài loan sau khi chính phủ của ông xác định
rằng đảo quốc này đang buôn bán sừng tê giác và xương hổ, vi phạm Công ước Thương mại
quốc tế về buôn bán động vật bị nguy hiểm. Những lệnh trừng phạt theo Luật sửa đổi bổ sung
Pelly cũng được đe doạ áp dụng đối với một số nước đánh bắt cá voi.
- Luật Cưỡng chế Ðánh bắt Cá bằng Lưới nổi Ngoài khơi: Theo luật này, tổng thống có
quyền cấm nhập khẩu sò biển, cá và các sản phẩm từ cá, và các thiết bị câu cá thể thao từ bất