Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN) - Pdf 26

GVHD: Thạc sĩ Vương Tuyết Linh Nhóm 2 –
ĐH23C2
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN


3. Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) và nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) 15
3.1 Nguyên tắc đối xử tối huệ quốc (MFN) 16
3.1.1 Lịch sử ra đời của MFN 16
3.1.2 Nội dung cơ bản của MFN 16
3.1.3 Mục đích của sự hình thành nguyên tắc MFN 17
3.1.4 Quy định về đối xử tối huệ quốc trong luật thương mại quốc tế 18
3.1.4.1 Lĩnh vực hàng hóa 18
3.1.4.2 Lĩnh vực dịch vụ 20
3.1.4.3 Lĩnh vực đầu tư 20
3.1.4.4 Sở hữu trí tuệ 20
3.1.5 Những ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc 21
3.1.6 MFN đối với các nước đang phát triển (GSP) 22
3.1.7 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc tối huệ quốc trong GATT và WTO 24
3.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT) 25
3.2.1 Khái niệm 25
3.2.2 Mục đích 25
3.2.3 Phạm vi áp dụng 25
3.2.3.1 Lĩnh vực hàng hóa nhập khẩu và sở hữu trí tuệ 25
3.2.3.2 Lĩnh vực dịch vụ 26
3.2.3.3 Lĩnh vực đầu tư 27
3.3 Những thuận lợi và khó khăn của Việt Nam khi được hưởng MFN và NT 27
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN & NT) 2
GVHD: Thạc sĩ Vương Tuyết Linh Nhóm 2 –
ĐH23C2
Các nền kinh tế trên thế giới, ngày nay không ngừng vận động và ngày càng phụ
thuộc lẫn nhau qua những hoạt động trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ… Điều này đòi
hỏi cần phải có một tổ chức quốc tế đứng ra để điều tiết, thúc đẩy hoạt động giao thương

và Thương mại là hiệp định quốc tế nhiều bên về các quy tắc và trình tự điều chỉnh quan
hệ thương mại quốc tế, quy định quyền và nghĩa vụ của các quốc gia tham gia hiệp định.
1.1Lịch sử hình thành
Cho đến năm 1930, các quốc gia có thể dễ dàng tìm được một điểm chung mỗi khi gặp
một vấn đề phát sinh trong quan hệ quốc tế. Vào thời kỳ đó, nhiều hiệp định về các vấn
đề cụ thể đã được ký kết, ví dụ như hiệp định Ottawa, tổ chức quốc tế về lao động, tổ
chức xã hội của các quốc gia…
Cuộc khủng hoảng kinh tế nặng nề của những năm 1930 đã dẫn đến nạn thất nghiệp
trầm trọng và kéo dài, tình trạng suy thoái kinh tế phổ biến và nghiêm trọng ở các nước.
Tình hình đó đã đặt sự hợp tác kinh tế quốc tế vào một hoàn cảnh đầy khó khăn. Các
quốc gia lại cần nâng cao hàng rào bảo hộ bằng cách tăng thuế quan và kiểm soát chặt
chẽ ngoại hối, hạn ngạch nhập khẩu. Sau hai cuộc chiến tranh thế giới: 1914-1918 và
1939-1945, các quốc gia đã gia tăng nỗ lực nhằm tìm kiếm các cơ sở bền vững cho hợp
tác tài chính tiền tệ và thương mại.
Năm 1941, Anh và Hoa Kỳ đã ký Hiến chương Đại Tây Dương với nội dung mở cửa
thị trường trên cơ sở bình đẳng và mở rộng sự hợp tác giữa các quốc gia.
Tháng 7/1944, khi Đại chiến Thế giới thứ II sắp kết thúc, quân đồng minh sắp giành
được thắng lợi hoàn toàn, tại Bretton Woods (Hoa Kỳ), 34 nước đã nhóm họp và quyết định lập
ra Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB). Lúc này, hai nhà kinh tế học là John
Maynard (Anh) và Harry Dexter White (Hoa Kỳ) đồng thời đưa ra đề nghị nên thành lập Tổ chức
Thương mại Quốc tế (International Trade Organization - ITO). Ý tưởng của hai ông là hình thành
một thế chân vạc về kinh tế, tài chính và thương mại cho thế giới sau những cuộc khủng hoảng dữ
dội đã dẫn đến chủ nghĩa phát xít và chiến tranh khốc liệt. Tài chính và tiền tệ sẽ do IMF chịu trách
nhiệm, phát triển kinh tế là nhiệm vụ của WB, còn ITO sẽ chịu trách nhiệm xúc tiến đồng bộ các vấn
đề có liên quan đến mậu dịch giữa các quốc gia nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế của các nước
sau chiến tranh.
Tháng 6/1946, Hội đồng kinh tế - xã hội Liên Hợp Quốc triệu tập hội nghị về thương
mại và việc làm, đồng thời thảo ra Hiến chương La Havana. Văn kiện này có một ý nghĩa
rất quan trọng và lẽ ra phải dẫn tới sự thành lập Tổ chức Thương mại Quốc tế. Tuy nhiên,
Hiến chương La Havana đã không thể có hiệu lực vì nguyên nhân xuất phát từ phía Hoa

Mục đích của GATT là tự do hoá thương mại quốc tế, đặt ra các biểu thuế quan và các
điều kiện trao đổi buôn bán giúp các nước thành viên ổn định giá cả và tăng cường trao đổi
hàng hoá với nhau.
1.2 Các vòng đàm phán của GATT
Trong lịch sử tồn tại 48 năm của mình, GATT đã trải qua 8 vòng đàm phán với 124
thành viên và 25 quốc gia xin gia nhập với các nội dung cụ thể sau:
Năm Địa điểm Đối tượng đàm phán Bình quân cắt
giảm thuế quan
Số nước
tham gia
Các vòng đàm phán song phương
1947 Geneva Thuế 35% 23
1949 Annecy Thuế 35% 12
1951 Torguay Thuế 35% 38
1956 Geneva Thuế 35% 26
Các vòng đàm phán đa phương
1960-
1961
Geneva
(vòng Dillon)
Thuế 35% 26
1964-
1967
Geneva
(vòng
Kennedy)
Thuế, các biện pháp chống phá
giá
35% 62
1973-

Nội dung 4 vòng đàm phán đa phương tiếp theo:
Vòng Dillon (1960-1961): thảo luận về vấn đề giảm thuế quan, hạn chế bảo hộ mậu dịch và
đặt vấn đề xem xét tính hợp thức của Cộng đồng châu Âu (EC), khả năng thương mại của các
nước đang phát triển. Kết quả là mức thuế quan chung giảm 6.5%, còn các nội dung khác chưa giải
quyết được càng trở nên nóng bỏng và phức tạp hơn.
Vòng Kennedy (1964-1967): những bước tiến vượt bậc tới tự do hóa thương mại quốc
tế diễn ra thông qua các cuộc đàm phán về mậu dịch đa phương, hay còn gọi là những
vòng đàm phán mậu dịch, được tiến hành dưới sự bảo trợ của GATT. Vòng đàm phán
Kennedy cuối cùng cũng đạt được sự thỏa thuận là giảm 37% thuế sau 5 năm với 75%
khối lượng hàng hóa trao đổi. Giữ nguyên chính sách bảo hộ đối với các mặt hàng nhạy
cảm như nông sản, thủy sản, hàng dệt may, da giày… Ngoài ra vòng đàm phán Kennedy
cũng thành công trong soạn thảo hiệp định của GATT về chống phá giá.
Vòng đàm phán Tokyo (1973-1979): sau 6 năm đàm phán kéo dài, vòng đàm phán đã
đạt được những kết quả khả quan: giảm 1/3 mức thuế quan tại 9 thị trường công nghiệp chính của
thế giới, giảm 4.7% thuế bình quân các sản phẩm chế biến từ 40% khi mới thành lập GATT. Đặc
biệt, các nước ký kết công nhận sự cần thiết và cho phép đãi ngộ ưu đãi dành cho các nước đang
và chậm phát triển.
Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994): Hiệp ước Uruguay đã đạt được những kết quả
to lớn, vượt dự kiến của các chuyên gia và tập trung ở những nội dung sau đây:
- Nhất trí thành lập WTO với yêu cầu chấp nhận cả gói các kết quả của Hiệp ước
Uruguay.
- Đưa nhiều lĩnh vực kinh tế mới vào khuôn khổ hệ thống thương mại thế giới (dịch vụ, sở
hữu trí tuệ và đầu tư trong chừng mực liên quan tới thương mại, các biện pháp trở ngại phi thuế
quan…)
- Thuế hóa các biện pháp phi thuế quan.
- Chấm dứt sự tồn tại riêng rẽ của thỏa thuận đa sợi, đưa hàng dệt vào khuôn khổ thương
mại thế giới.
- Phá vỡ một mảng quan trọng trong chính sách bảo hộ nông nghiệp kéo dài và các mặt
hàng nhạy cảm khác của các nước phát triển với quy định cụ thể, không thể tránh né.
1.3 Nội dung Hiệp định chung GATT

quốc tế giải quyết các tranh chấp thương mại giữa các quốc gia. Từ mức thuế trung bình
40% của năm 1948, đến năm 1995, mức thuế trung bình của các nước phát triển chỉ còn
khoảng 4% và thuế quan trung bình của các nước đang phát triển còn khoảng 15%.
1.4 Sự cần thiết phải thiết lập một hệ thống mới – Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO)
Với 48 năm tồn tại, GATT đã trở thành thoả thuận đa phương then chốt về mậu dịch toàn cầu.
GATT đã góp phần vào tự do hoá thương mại, bãi bỏ những hạn chế về thương mại và chống phân
biệt đối xử về kinh tế trong buôn bán giữa các nước… Mặc dù đã đạt được những thành công
lớn, nhưng đến cuối những năm 1980, đầu năm 1990, trước những biến chuyển của tình
hình thương mại quốc tế và sự phát triển của khoa học-kỹ thuật, GATT bắt đầu tỏ ra có
những bất cập, không theo kịp tình hình thế giới.
Thứ nhất, là một hiệp định có vai trò bao trùm trong đời sống thương mại quốc tế và
vẫn tồn tại cho đến ngày nay nhưng GATT lại chưa bao giờ là một tổ chức mặc dù sự
điều hành của GATT khiến người ta có cảm giác đây là một tổ chức. Tuy nhiên, GATT
Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN & NT) 7
GVHD: Thạc sĩ Vương Tuyết Linh Nhóm 2 –
ĐH23C2
thiếu các cam kết rõ ràng đảm bảo thực hiện như lịch đảm bảo thực hiện cụ thể và cơ
quan giám sát cần thiết. Sự đảm bảo chính dựa trên sự tôn trọng các cam kết của các bên
trong điều ước quốc tế. Các quy định của GATT về giám sát và đảm bảo thực hiện cam
kết còn thiếu vô tư và gián tiếp. Mặc dù GATT có điều khoản quy định biện pháp trả đũa
nhưng mới được vận dụng một lần vào năm 1955, cho phép Hà Lan hạn chế nhập lúa mỳ
của Hoa Kỳ, trả đũa việc Hoa Kỳ hạn chế nhập sản phẩm sữa bò của Hà Lan.
Thứ hai, bên cạnh kết quả của việc cắt giảm thuế quan, những thành công nhất định
của vòng đàm phán Tokyo là một dấu hiệu của một thời kỳ khó khăn đã đến. Thuế quan
giảm tới mức thấp nhất cùng với một loạt nhiệm vụ kinh tế trong những năm của thập
niên 70 và 80 đã khiến cho các chính phủ đưa ra các hình thức bảo vệ khác (thường là
các biện pháp phi thuế quan) cho các lĩnh vực kinh tế phải đối mặt với sự cạnh tranh gay
gắt từ nước ngoài. Tỷ lệ thất nghiệp cao và sự đóng cửa thường xuyên của các nhà máy
đã buộc các chính phủ ở châu Âu và Hoa Kỳ phải tìm kiếm các thỏa hiệp song phương

ĐH23C2
định Thương mại đa phương về Thương mại Hàng hoá. Vòng đàm phán Uruguay cũng
thông qua một loạt các quy định mới điều chỉnh Thương mại Dịch vụ và Quyền Sở hữu
Trí tuệ liên quan đến thương mại.
Đầu những năm 1990, mặc dù vòng đàm phán Uruguay của GATT đã khá dài, nhưng nhìn
chung vấn đề vẫn tiếp tục được thảo luận. Vì Hoa Kỳ và một số nước muốn đưa vào chương trình
nghị sự nhiều vấn đề mới như: Trao đổi dịch vụ quốc tế, quyền sở hữu quốc tế, đầu tư, lao động,
môi trường…, hơn nữa đây cũng là thời kỳ Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, kết thúc
thời kỳ “chiến tranh lạnh”, thế giới chuyển từ xu thế “đối đầu” sang “đối thoại”, thực hiện “mở cửa”
và hội nhập quốc tế. Do đó, nhiều vấn đề mới trong quan hệ kinh tế quốc tế phát sinh, vượt xa
khuôn khổ của GATT, đồng thời các thiết chế hiện có của GATT đã không đủ sức giải quyết các
tranh chấp trong các quan hệ kinh tế quốc tế này, đòi hỏi các quốc gia phải xem xét lại sứ mạng của
GATT. Cuối cùng, chỉ mấy tháng sau khi hoàn tất vòng đàm phán Uruguay (15/12/1993), các nước
đã cùng nhau họp tại Marrakesh (Marốc) vào ngày 15/4/1994 ký Định ước cuối cùng, Định ước
Marrakesh, khẳng định kết quả của vòng đàm phán thứ 8, đồng thời cho ra đời một thiết chế mới
tiếp tục sứ mạng của GATT và thay thế cho GATT, đó là Tổ chức Thương mại thế giới (World Trade
Organization - WTO).
2. WTO (World Trade Organization) – Tổ chức Thương mại thế giới
2.1 Sự thành lập WTO
Một trong những thành công lớn nhất của vòng đàm phán Uruguay nói riêng và của
GATT nói chung là đã thành lập một tổ chức thương mại mới - Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO). Hạt giống của vòng đàm phán Uruguay đã được gieo tại cuộc họp cấp Bộ
trưởng của các thành viên GATT tại Geneva (Thụy Sĩ) vào tháng 11 năm 1982. Các Bộ
trưởng lúc này đã dự định tiến hành một vòng đàm phán lớn nhưng hội nghị lúc đó đã
không vượt qua được rào cản quá lớn là vấn đề nông nghiệp và xem như bị thất bại.
Nhưng trên thực tế, một chương trình làm việc mới đã được lên kế hoạch, và đây được
xem là tiền đề cho chương trình đàm phán Uruguay. Tuy nhiên phải mất 4 năm để nghiên
cứu, làm sáng tỏ các vấn đề liên quan và vượt qua những khó khăn để tìm ra sự nhất trí
chung trước khi các Bộ trưởng gặp nhau ở Punta Del Este (Uruguay) tháng 9 năm 1986.
Các Bộ trưởng cuối cùng cũng thống nhất một chương trình đàm phán đề cập đến hầu

Đến tháng 7 năm 1993, các nước trong nhóm bộ tứ (Hoa Kỳ, Ủy ban châu Âu, Nhật Bản,
Canada) thông báo đã có những tiến bộ đáng kể trong đàm phán về thuế quan và những
vấn đề liên quan (mở cửa thị trường). Tới ngày 15/12/1993, từng vấn đề đã được giải
quyết và các cuộc bàn thảo về mở cửa thị trường hàng hoá, dịch vụ cũng kết thúc.
Ngày 15/4/1994, văn kiện cuối cùng đã được các Bộ trưởng của 111 nước trong 125
nước và vùng lãnh thổ tham gia đàm phán Hiệp định Uruguay ký tại cuộc họp ở
Marrakesh (Marốc) và 104 nước đã ký hiệp định về việc thành lập Tổ chức Thương mại
thế giới. Tổ chức Thương mại thế giới là hiện thân cho kết quả của vòng đàm phán
Uruguay và là tổ chức kế thừa của Hiệp đinh chung về Thuế quan và Thương mại
(GATT). Cũng như GATT trước đây, WTO chấp nhận các thành viên là những lãnh thổ
quan thuế, có thẩm quyền độc lập hoạch định và tiến hành các chính sách thương mại
quốc tế (Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và các lãnh thổ quan thuế Hồng Kông, Đài Loan,
Macao có thể cùng là thành viên của WTO), trong đó mỗi thành viên có quyền và chỉ có
một lá phiếu bầu, các lá phiếu có giá trị ngang nhau.
WTO chính thức được thành lập và đi vào hoạt động kể từ ngày 1/1/1995, đặt trụ sở
chính tại Geneva (Thuỵ Sĩ). WTO đã thay thế GATT với tư cách là một tổ chức quốc tế,
song những gì đạt được sau vòng đàm phán Uruguay cho thấy GATT vẫn tồn tại và có
hiệu lực vì nó là hiệp định khung của WTO trong các vấn đề về trao đổi hàng hóa.
Về cơ cấu tổ chức của WTO, cơ quan quyền lực cao nhất của WTO là Hội nghị cấp Bộ
trưởng các thành viên, định kỳ họp ít nhất hai năm một lần. Các Bộ trưởng hoặc đại diện
của các thành viên có thể quyết định khác đi nếu thấy cần thiết. Cơ quan thường trực của
WTO là Đại hội đồng, với đại diện của các nước thành viên và nhiều uỷ ban, cơ quan
chuyên trách khác. Giúp việc cho các cơ quan trên là Ban Thư ký WTO, đứng đầu Ban
Thư ký là Tổng giám đốc, bên dưới có các Phó Tổng giám đốc và các vụ chức năng.
Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN & NT) 10
GVHD: Thạc sĩ Vương Tuyết Linh Nhóm 2 –
ĐH23C2
Về mục tiêu, WTO vẫn theo đuổi những mục tiêu được đề ra tại phần mở đầu của Hiệp
định GATT, đó là thông qua tự do hóa thương mại, trên cơ sở lập ra một hệ thống pháp lý
chung làm căn cứ để mỗi thành viên hoạch định và thực thi chính sách nhằm mở rộng

WTO không những đã củng cố hệ thống pháp lý thương mại hàng hóa mà còn mở rộng
sang nhiều lĩnh vực khác: thương mại dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương
mại và các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại. Ngoài ra, WTO còn có chương
trình tiếp tục đàm phán nhiều nội dung khác trong thương mại quốc tế. Ngoài ra, so với
GATT, WTO có nhiều điểm khác cơ bản. WTO hoạt động trên cơ sở được các thành viên
công nhận chính thức như là một thể chế thường trực, độc lập, có tư cách pháp nhân, bộ
máy và ngân sách.
Nguyên tắc làm việc của WTO
Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN & NT) 11
GVHD: Thạc sĩ Vương Tuyết Linh Nhóm 2 –
ĐH23C2
WTO làm việc trên cơ sở đồng thuận. Hầu hết mọi quyết định của WTO đều được
thông qua theo nguyên tắc đồng thuận. Nguyên tắc này có ưu điểm là tìm được các cam
kết và tiếng nói chung, tuy nhiên quá trình đi đến đồng thuận một vấn đề thường mất rất
nhiều thời gian và công sức. Trong một số trường hợp WTO ra quyết định theo phương
thức biểu quyết. Trong trường hợp này, mỗi thành viên có một phiếu (trừ Liên minh châu
Âu có số phiếu bằng số thành viên của mình). Các trường hợp áp dụng hình thức bỏ
phiếu:
- Quyết đinh diễn giải các điều khoản của Hiệp định WTO và các hịệp định đa
biên cần được ít nhất 3/4 các nước thành viên WTO thông qua.
- Quyết định miễn trừ một nghĩa vụ cho một nước thành viên cần ít nhất 3/4 tại
Hội nghị Bộ trưởng thông qua.
- Quyết định sửa đổi nội dung các điều khoản hiệp định cần phải được tất cả hoặc
2/3 số nước thành viên chấp nhận, tùy theo tính chất của các điều khoản ấy, ví dụ sửa đổi
một số nguyên tắc nền tảng như tối huệ quốc, nguyên tắc đãi ngộ quốc gia phải được sự
nhất trí của tất cả các nước thành viên (những sửa đổi chỉ được áp dụng cho các thành
viên đã chấp nhận).
- Quyết định kết nạp thành viên mới cần được Hội nghị Bộ trưởng hoặc Đại hội
đồng thông qua với đa số 2/3 số phiếu thuận.
2.2 Hệ thống pháp lý của WTO

Các nguyên tắc về thương mại tự do hơn và công bằng hơn trước đây chỉ áp dụng
cho thương mại hàng hóa, giờ đây cũng được áp dụng cho thương mại dịch vụ của các
ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty viễn thông, công ty du lịch, công ty vận tải…
Những nguyên tắc trên được ghi nhận trong bản Hiệp định về thương mại dịch vụ
(GATS). Các thành viên WTO cũng đã có những cam kết riêng lẻ trong khuôn khổ hiệp
định, nêu rõ những lĩnh vực dịch vụ nào họ đồng ý mở cửa và mức độ mở cửa cho cạnh
tranh của nước ngoài.
- Thỏa ước về sở hữu trí tuệ
Hiệp định về sở hữu trí tuệ của WTO là cơ sở pháp lý cho thương mại và đầu tư về
suy nghĩ và sức sáng tạo. Hiệp định nêu lên quy định về cách thức bảo vệ quyền tác giả,
thương hiệu, tên địa phương xác định xuất xứ sản phẩm, kiểu dáng công nghiệp và thông
tin mật (bí mật thương mại).
- Thỏa ước về giải quyết tranh chấp
Thủ tục giải quyết tranh chấp của WTO được quy định tại Bản thỏa thuận về giải
quyết tranh chấp, là cơ sở pháp lý cho việc cưỡng chế thi hành các quy tắc của WTO,
đảm bảo cho thương mại được diễn ra thông suốt.
Các nước thành viên kiện ra WTO khi họ cho rằng quyền lợi của họ quy định tại
các hiệp định bị xâm phạm. Phán quyết sẽ được đưa ra bởi các chuyên gia (là những
người được đề cử theo thể thức đặc biệt) căn cứ vào việc giải thích các hiệp định và cam
kết riêng lẻ của các thành viên. Hiện nay thủ tục là khuyến khích các thành viên giải
quyết tranh chấp thông qua thương lượng; nếu thương lượng thất bại mới áp dụng một
thể thức được quy định cẩn trọng, qua nhiều giai đoạn.
- Thỏa ước về giám sát chính sách
Mục đích của cơ chế giám sát chính sách là nâng cao tính minh bạch, tạo sự hiểu
biết hơn về chính sách thương mại mà các nước đang áp dụng và tác động của nó. Tất cả
các thành viên đều phải trải qua giám sát định kỳ. Mỗi cuộc giám sát được thực hiện bởi
bản báo cáo của thành viên bị giám sát và báo cáo của Đoàn Thư ký của WTO.
2.3 Ý nghĩa việc ra đời WTO
Việc WTO ra đời được coi là một dấu mốc rất quan trọng trong lịch sử thương mại
quốc tế. WTO đại diện cho một xu hướng phát triển mà theo đó nền kinh tế mỗi nước

-GATT hoạt động trên cơ sở tạm thời,
GATT chủ yếu là hiệp định mang tính thỏa
thuận đa phương, được lựa chọn.
-Các cam kết của WTO là đầy đủ và cố
định. Hầu hết các hiệp định của WTO là
cam kết đa phương, đòi hỏi sự bắt buộc
thực hiện của các thành viên.
-Các quy định của GATT được áp dụng
cho thương mại hàng hóa.
-Các quy định của WTO bao gồm cả
thương mại dịch vụ và các khía cạnh liên
quan đến thương mại của sở hữu trí tuệ và
các biện pháp đầu tư liên quan đến thương
mại.
-Giải quyết tranh chấp khó khăn vì không
có cơ chế chuẩn mực.
-Hệ thống giải quyết các tranh chấp của
WTO nhanh hơn, năng động hơn và ít bị
tắc nghẽn so với hệ thống cũ của GATT.
Việc thực hiện các phán quyết về giải quyết
tranh chấp cũng dễ dàng, đảm bảo hơn.
-Nguyên tắc hoạt động của GATT chỉ là
đồng thuận.
-Ngoài nguyên tắc đồng thuận còn kết hợp
cả nguyên tắc bỏ phiếu, mỗi thành viên một
phiếu theo nguyên tắc thiểu số phục tùng đa
số.
Hiệp định WTO bao gồm 29 văn bản pháp lý riêng biệt, bao trùm mọi lĩnh vực từ
nông nghiệp đến ngành dệt và may, từ dịch vụ đến việc mua sắm của Chính phủ, các quy
Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN & NT) 14

Năm 1948, quy chế này chính thức được GATT đưa vào điều 1 của GATT, và xem
đây là cơ sở quan trọng kêu gọi các nước thành viên cho nhau hưởng chế độ tối huệ quốc
để thúc đẩy buôn bán giữa các nước thành viên.
3.1.2 Nội dung cơ bản của MFN
Nguyên tắc tối huệ quốc (Most Favoured Nation Rule - MFN) là nguyên tắc “không
phân biệt đối xử” trong quan hệ mậu dịch giữa các quốc gia. Đây là nguyên tắc truyền
thống trong quan hệ kinh tế quốc tế và phổ biến nhất trong lĩnh vực thương mại, và là
nguyên tắc tối quan trọng trong các hiệp định của Tổ chức Thương mại thế giới, đồng
thời là kim chỉ nam cho các quốc gia và vùng lãnh thổ trong hoạch định các chính sách
thương mại quốc tế, hay các hiệp định song phương đa phương.
Đãi ngộ tối huệ quốc có hai loại đãi ngộ: đãi ngộ tối huệ quốc có điều kiện và đãi ngộ
tối huệ quốc vô điều kiện. Đãi ngộ tối huệ quốc có điều kiện là chỉ bên ký kết khác muốn
Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN & NT) 15
GVHD: Thạc sĩ Vương Tuyết Linh Nhóm 2 –
ĐH23C2
được hưởng những đãi ngộ mà một bên ký kết dành cho bên thứ ba thì phải đưa ra những
bồi hoàn tương ứng (sự bồi hoàn này có thể là sự thay đổi thể chế chính trị, sự nhượng bộ
về chính sách đối nội, đối ngoại ). Đãi ngộ tối huệ quốc vô điều kiện là chỉ tất cả những
ưu đãi mà một bên ký kết dành cho bên thứ ba thì phải dành cho bên ký kết khác ngay lập
tức, vô điều kiện, không đòi hỏi bồi hoàn và tự động.
Theo nguyên tắc MFN, WTO yêu cầu một nước thành viên phải áp dụng thuế quan và
các quy định khác đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nước thành viên khác nhau (hoặc
hàng hoá xuất khẩu tới các nước thành viên khác nhau) một cách bình đẳng, không phân
biệt đối xử. Điều đó có nghĩa là nếu một nước thành viên dành cho sản phẩm từ bất kỳ
nước thành viên nào mức thuế quan hay bất kỳ một ưu đãi nào khác thì cũng phải dành
mức thuế quan hoặc ưu đãi đó cho sản phẩm tương tự của tất cả các quốc gia thành viên
khác một cách ngay lập tức và vô điều kiện. Tuy nhiên WTO cũng cho phép các nước
thành viên được duy trì một số ngoại lệ của nguyên tắc này.
Cụ thể, khi hai nước A và B kí với nhau hiệp định thương mại dịch vụ, hai bên sẽ áp
dụng nguyên tắc MFN. Nếu nước A dành bất kì ưu đãi nào cho những hàng hóa , dịch vụ

mại và kinh tế giữa các nước trên cơ sở các hiệp định, hiệp ước giữa các nước một cách
bình đẳng và cùng có lợi. Do đó xét theo góc độ luật pháp quốc tế thì điều chủ yếu của
quy chế tối huệ quốc là không phải cho nhau hưởng các đặc quyền, mà là đảm bảo sự
bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền về các cơ hội giao dịch thương mại và kinh tế.
3.1.3 Mục đích của sự hình thành nguyên tắc MFN
Nguyên tắc tối huệ quốc là một nguyên tắc quan trọng đem lại sự bình đẳng giữa các
quốc gia có chủ quyền và các cơ hội giao dịch thương mại và kinh tế, chống bất kì sự
phân biệt đối xử nào với bất kì một quốc gia nào. Từ đó tạo điều kiện cạnh tranh ngang
bằng nhau giữa các quốc gia, điều này có nghĩa là một khi được hưởng chế độ ưu đãi
MFN thì hàng hóa nhập khẩu vào quốc gia đó của tất cả các nước được hưởng ưu đãi là
như nhau cả thuế quan hay các tiêu chuẩn yêu cầu khác…, từ đấy những quốc gia nhận
ưu đãi sẽ không phải lo lắng về những rào cản khách quan như trước đây, giờ đây các
nước sẽ có điều kiện đầu vào như nhau và vấn đề còn lại là làm sao nâng cao được chất
lượng sản phẩm, mẫu mã, thương hiệu của mình để có đủ sức chinh phục được người tiêu
dùng, đem lại niềm yêu thích và lòng trung thành với sản phẩm của mình, hình thành nên
sức mạnh cạnh tranh trên trường quốc tế, vì thế đây cũng là cơ hội tốt để thúc đẩy tăng
trưởng thương mại giữa các quốc gia.
Trong thương mại quốc tế, áp dụng đãi ngộ tối huệ quốc đem lại nhều lợi ích cho
quốc gia thụ hưởng, cụ thể là:
- Nó đảm bảo rằng mỗi quốc gia sẽ đáp ứng được tổng nhu cầu nhập khẩu của
mình từ những nguồn cung cấp hiệu quả nhất, cho phép các quốc gia sử dụng lợi thế
tương đối.
- Là nhân tố tích cực cho việc tự do hóa thương mại đa phương. MFN góp phần
làm giảm mức thuế quan trung bình đối với các hàng hóa sản xuất trong các quốc gia
đóng vai trò chủ yếu trong quan hệ thương mại.
- Nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc công nhận sự bình đẳng về chủ quyền giữa các
quốc gia thành viên và bảo đảm cho sự xâm nhập vào thị trường của những nhà sản xuất
mới.
- Nó giúp Chính phủ các quốc gia thành viên tránh được việc phải nhượng bộ đối
với những đề nghị về quy chế riêng đối với những ngành công nghiệp cụ thể.

3. Dầu khí 36,8 36,6
4. Gỗ, giấy 14,6 10,5
5. Dệt may 13,7 13,7
6. Da, cao su 19,1 14,6
7. Kim loại 14,8 11,4
8. Hoá chất 11,1 6,9
9. Thiết bị vận tải 46,9 37,4
10. Máy móc thiết bị cơ khí 9,2 7,3
11. Máy móc thiết bị điện 13,9 9,5
12. Khoáng sản 16,1 14,1
13. Hàng chế tạo khác 12,9 10,2
Cả biểu thuế 17,2 13,4
(Nguồn: www.mof.gov.vn)
Đây chính là mức thuế mà Việt Nam phải áp dụng cho tất cả các quốc gia, vùng lãnh
thổ là thành viên của WTO và những quốc gia vùng lãnh thổ khác thông qua hiệp định
thương mại song phương đã kí kết.
Theo Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA), hàng hoá nhập khẩu từ Hoa
Kỳ như lương thực, thực phẩm, máy ảnh, thiết bị làm lạnh có tờ khai hải quan từ ngày
10-12 sẽ được giảm thuế. Cụ thể, các loại nước hoa và nước thơm nhập từ Hoa Kỳ sẽ
được giảm thuế từ 50% xuống còn 30%; mỹ phẩm hoặc chế phẩm để trang điểm và
dưỡng da tùy loại giảm thuế từ 50% xuống còn 20-30%; máy ảnh sử dụng phim cuộn khổ
35mm từ 30% xuống 20%; các loại máy làm đông lạnh kiểu tủ dung tích không quá 800
và 900 lít có các mức thuế suất cũ là 30-50% sẽ giảm xuống 20-40% Danh mục hàng
Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN & NT) 18
GVHD: Thạc sĩ Vương Tuyết Linh Nhóm 2 –
ĐH23C2
hóa và mức thuế suất nhập khẩu này được áp dụng cho hàng hóa có giấy chứng nhận xuất
xứ của Hoa Kỳ, cũng như các nước có thỏa thuận về đối xử tối huệ quốc trong quan hệ
thương mại với Việt Nam. Về phía Hoa Kỳ thì ngay sau khi Hiệp định thương mại Việt
Nam - Hoa Kỳ có hiệu lực, Hoa Kỳ sẽ dành cho hàng hoá Việt Nam mức thuế suất thuế

cạnh tranh trong các hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng.
Điều 4 Hiệp định TRIPS qui định đối với việc bảo hộ sở hữu trí tuệ, bất kì một sự ưu
tiên, chiếu cố, đặc quyền, hoặc sự miễn trừ nào được một thành viên dành cho công dân
Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN & NT) 19
GVHD: Thạc sĩ Vương Tuyết Linh Nhóm 2 –
ĐH23C2
của bất kì một thành viên nào khác cũng phải được lập tức và vô điều kiện dành cho công
dân tất cả các thành viên khác.
Tuy nhiên cũng có một số ngoại lệ được qui định trong Công ước Paris (về bảo hộ sở
hữu công nghiệp), Công ước Berne (về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật),
Công ước Rome (về bảo vệ người biểu diễn, người xuất bản, ghi âm và các tổ chức phát
thanh truyền hình) và Hiệp ước Washington (về sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực mạch tích
hợp).
Như vậy qui tắc đối xử tối huệ quốc cho quyền sở hữu trí tuệ đem lại quyền lợi công
bằng cho người tạo ra và người sử dụng những thành quả khoa học đó, tạo điều kiện để
các nền kinh tế cải tiến và chuyển giao công nghệ một cách hiệu quả và công bằng, nâng
cao hơn thương hiệu của sản phẩm cũng như của quốc gia, vùng lãnh thổ.
Tuy nhiên, ở Việt Nam tình trạng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang ngày càng
trầm trọng và phổ biến. Trong khi đó, 90% các vụ vi phạm chỉ bị xử lý bằng biện pháp
hành chính, Toà án Việt Nam chưa đóng vai trò nổi bật trong việc đảm bảo thực thi
quyền sở hữu trí tuệ, chưa có một cơ quan chuyên trách xử lý các vụ việc về vi phạm
quyền sở hữu trí tuệ; bên cạnh đó các doanh nghiệp cũng chưa thật sự có cái nhìn đúng
đắn về sở hữu trí tuệ trong việc hình thành nên sản phẩm của doanh nghiệp mình. Theo
thống kê của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, số lượng doanh nghiệp Việt Nam nộp đơn xác
lập các quyền sở hữu trí tuệ chiếm tỷ lệ thấp so với doanh nghiệp nước ngoài. Đơn đăng
ký sáng chế chỉ là 9.24%, giải pháp hữu ích là 60.13%, kiểu dáng công nghiệp là 84.32%,
nhãn hiệu hàng hoá là 58.12% Số lượng văn bằng được cấp, sáng chế chỉ là 4.5%, giải
pháp hữu ích là 60%, kiểu dáng là 86%, nhãn hiệu hàng hoá là 53% Đó là những thách
thức của Việt Nam khi đã gia nhập vào WTO.
3.1.5 Những ngoại lệ của nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc

giảm hoặc miễn thuế quan cho một số sản phẩm nhất định mà các quốc gia phát triển
nhập khẩu từ các quốc gia đang phát triển.
GSP áp dụng cho các loại hàng công nghiệp thành phẩm hoặc bán thành phẩm và
hàng loạt các mặt hàng công nghiệp chế biến. Việc áp dụng GSP không mang tính chất
cam kết, chính sách GSP có thể thay đổi theo từng thời kì, số quốc gia cho ưu đãi cũng
như quốc gia nhận ưu đãi là không cố định.
Hiện có 16 chế độ GSP, 28 quốc gia cho ưu đãi và 128 nền kinh tế được nhận ưu
đãi
+EU: Áo, Bỉ, Đan Mạch, Đức, Ailen, Italia, Luc Xăm Bua, Hà Lan, Anh, Hy Lạp,
Phần Lan, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Bồ Đào Nha, Pháp.
+Nhật, Newzealand, Thuỵ Sĩ, Bungari, Hungari, Séc, Ba Lan, Nga, các quốc gia
trung lập (CIS), Canada, Na Uy, Úc, Rumani.
GSP chỉ dành cho các nước chậm và đang phát triển, các nước công nghiệp phát triển
kiểm soát rất chặt các nước nhận ưu đãi, biểu hiện qua những qui định chặt chẽ đối với
các nước chậm và đang phát triển, đó là: để được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi GSP,
hàng hóa nhập khẩu vào thị trường của các nước cho ưu đãi phải thỏa mãn những điều
kiện cơ bản sau:
 Điều kiện xuất xứ từ nước được hưởng: ví dụ chế độ GSP của EU qui định:
- Sản phẩm xuất xứ toàn bộ, đó là những sản phẩm không sử dụng nguyên liệu nhập
khẩu khi sản xuất.
- Sản phẩm được sản xuất toàn bộ hoặc một phần từ nguyên liệu, bộ hay thành
phần, ví dụ khi nguyên liệu nhập khẩu được sử dụng để làm ra sản phẩm hoàn chỉnh, EU
yêu cầu các nguyên liệu không có xuất xứ này phải được gia công hoặc chế biến đầy đủ.
 Điều kiện về vận tải: hàng vận chuyển không qua nước thứ 3 hoặc không bị
mua bán, tái chế tại nước thứ 3.
 Điều kiện về giấy chứng nhận xuất xứ: là giấy chứng nhận xuất xứ Mẫu A đã
được điền đầy đủ và có chứng nhận bởi cơ quan cấp ở nước xuất khẩu được hưởng. Ví
Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN & NT) 21
GVHD: Thạc sĩ Vương Tuyết Linh Nhóm 2 –
ĐH23C2

giảm đáng kể, có thể từ mức 50% xuống còn 0% và với ưu đãi về thuế, hàng hóa Việt
Nam sẽ cạnh tranh tốt hơn với những quốc gia xuất khẩu khác ở thị trường Hoa Kỳ thì
Việt Nam cần chú lưu ý đến quyền lao động và quyền sở hữu trí tuệ.
Như vậy GSP là một chế độ ưu đãi quan trọng dành cho các nước kém và đang phát
triển. Mặc dù nó là một ngoại lệ của nguyên tắc tối huệ quốc thể hiện ở chỗ những ưu đãi
đó chỉ dành cho các nước chậm phát triển và đang phát triển, tuy nhiên điều này cũng
hợp lý vì muốn thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu thì không chỉ sự phồn vinh
giàu có của các nước phát triển là đủ, mà bên cạnh đó sự tiến bộ cũng như phát triển ngày
một nhanh và mạnh của các nước chậm phát triển, đang phát triển là hết sức cần thiết.
Với việc giảm mức thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước chậm phát triển và
Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN & NT) 22
GVHD: Thạc sĩ Vương Tuyết Linh Nhóm 2 –
ĐH23C2
đang phát triển hơn so với các nước phát triển, hàng nhập khẩu của các nước này đã được
gia nhập tự do hơn vào thị trường các nước phát triển. Đây là một đặc ân có ý nghĩa quan
trọng bởi từ đây các nước chậm và đang phát triển sẽ có động lực để đa dạng hóa hàng
xuất khẩu, tăng tỉ trọng hàng xuất khẩu, nguồn lợi thu về từ xuất khẩu sẽ tăng lên, đáp
ứng nhu cầu nhập khẩu máy móc công nghệ hiện đại để đẩy nhanh công nghiệp hóa trong
nước; không những thế còn giải quyết được công ăn việc làm, đời sống xã hội ngày một
được nâng cao hơn. Về phương diện quốc tế, một khi các quốc gia đã hưởng được chế độ
GSP của các nước phát triển, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng lên và phát triển hơn từ đó họ
sẽ có đủ điều kiện gia nhập những tổ chức lớn hơn như WTO để được hưởng đầy đủ
những ưu đãi mà tổ chức này mang lại. Và việc áp dụng GSP không mang tính chất cam
kết, chính sách GSP có thể thay đổi theo từng thời kì và số quốc gia cho ưu đãi cũng như
quốc gia nhận ưu đãi là không cố định cũng là động lực để thúc đẩy các quốc gia chậm và
đang phát triển nâng cao chất lượng cũng như đáp ứng đầy đủ những điều kiện cần thiết
của các nước phát triển để có thể được hưởng ưu đãi từ chế độ này.
3.1.7 Thực tiễn áp dụng nguyên tắc tối huệ quốc trong GATT và WTO
Nếu như nguyên tắc MFN trong GATT 1947 chỉ áp dụng đối với “hàng hoá” thì trong
WTO, nguyên tắc này đã được mở rộng sang thương mại dịch vụ (Điều 2 - Hiệp định

với quy định của Điều I, khoản 1 Hiệp định GATT”.
Tóm lại, trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, chuẩn mực Đối xử tối huệ
quốc đã trở thành một nguyên tắc quan trọng trong các hiệp định thương mại quốc tế.
Nguyên tắc này đã tạo ra một sân chơi bình đẳng cho tất cả các nhà đầu tư nước ngoài.
Nhận thức được vai trò ảnh hưởng ngày càng lớn của chuẩn mực Đối xử tối huệ quốc
trong chiến lược phát triển của mình, Việt Nam không chỉ đưa những quy định về chuẩn
mực đối xử vào trong các cam kết quốc tế mà còn thống nhất nguyên tắc áp dụng trong
"Pháp lệnh về Đối xử tối huệ quốc và Đối xử quốc gia trong thương mại quốc tế" năm
2002 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành. Cho đến nay, Pháp lệnh này vẫn là văn
kiện pháp lý cơ bản và toàn diện nhất, thể hiện thiện chí của Việt Nam, mong muốn việc
cải thiện môi trường pháp lý tốt hơn, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, những bất cập còn tồn tại trong nhận thức của các bậc lãnh đạo, của các
ban, ngành, các cấp về chuẩn mực đối xử tối huệ quốc sẽ là một thách thức lớn đặt ra
trước mắt với Việt Nam hiện nay. Nếu không nhanh chóng tìm cách khắc phục, Việt
Nam sẽ không thể tận dụng tối ưu những lợi thế mà Đối xử tối huệ quốc đem lại, đồng
thời trong tương lai gần chúng ta còn có thể bị coi là một môi trường đầu tư kém hấp dẫn
khi phải cạnh tranh thu hút đầu tư với những đối thủ lớn như Trung Quốc, Singapore
Đây là điều mà Việt Nam không hề mong đợi khi chúng ta đang hướng tới mục tiêu trở
thành một con hổ mới của Đông Nam Á.
3.2 Nguyên tắc đối xử quốc gia (national treatment - NT)
“Đối xử quốc gia” nghĩa là đối xử bình đẳng giữa sản phẩm nước ngoài và sản
phẩm nội địa, được quy định tại Điều III Hiệp định GATT, Điều XVII Hiệp định GATS
và Điều III Hiệp định TRIPS.
3.2.1 Khái niệm
Nguyên tắc này được hiểu là dựa trên cam kết thương mại, một nước sẽ dành cho sản
phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp của nước khác những ưu đãi không kém hơn so với ưu đãi
mà nước đó đang và sẽ dành cho sản phẩm, dịch vụ, nhà cung cấp của nước mình.
Cơ chế hoạt động của nguyên tắc này như sau: bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào,
sau khi đã qua biên giới, trả xong thuế hải quan và các chi phí khác tại cửa khẩu, bắt đầu
vào thị trường nội địa, sẽ được hưởng sự đối xử ngang bằng (không kém ưu đãi hơn) với

những ngoại lệ được quy định rõ ràng trong các Hiệp định của WTO đó là:
- Các trường hợp mất cân đối cán cân thanh toán.
- Nhằm mục đích bảo vệ ngành công nghiệp non trẻ trong nước.
- Bảo vệ sản xuất trong nước chống lại sự gia tăng đột ngột về nhập khẩu hoặc
đối phó với sự khan hiếm một mặt hàng trên thị trường quốc gia do xuất khẩu quá nhiều.
- Vì lý do sức khỏe, vệ sinh, an ninh quốc gia. Lấy một ví dụ, trong Hiệp định
thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ thì Việt Nam có quyền yêu cầu phía các công ty Hoa Kỳ
không được kinh doanh các mặt hàng như: chất nổ, khí đốt, phân bón, xăng dầu, rượu
bia, thuốc lá ….
Trên thực tế, Thái Lan có quyền thành lập công ty nhà nước độc quyền trong lĩnh
vực nhập khẩu và phân phối thuốc lá và có thể sử dụng công ty này để điều chỉnh giá và
hệ thống bán lẻ thuốc lá. Tuy nhiên khi Thái Lan đã ký kết chấp nhận thực hiện nguyên
tắc NT với Hoa Kỳ thì Thái Lan không được quyền hạn chế số lượng và tăng thuế tiêu
thụ đánh vào thuốc lá điếu nhập khẩu của Hoa Kỳ, không được đối xử với thuốc lá nhập
khẩu kém ưu đãi hơn so với thuốc lá sản xuất trong nước nhằm mục đích bảo hộ ngành
sản xuất thuốc lá của Thái Lan.
3.2.3.2 Lĩnh vực dịch vụ
Mỗi nước có quyền đưa ra những lĩnh vực, ngành nghề được áp dụng nguyên tắc NT
và những trường hợp ngoại lệ riêng.
Quá trình hình thành từ GATT đến WTO và các nguyên tắc cơ bản (MFN & NT) 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status